NỘI DUNG CHI TIẾT
HỒ CHÍ MINH: NHỮNG BÀI HỌC LỚN VỀ VĂN HÓA, VĂN NGHỆ
9/19/2017

 

                                                         GS. PHONG LÊ

 

Là người mác xít, là nhà cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn xem hoạt động văn hóa, văn nghệ như một hoạt động cải tạo, sáng tạo thế giới ở con người. Văn nghệ không có một mục đích tự thân. “Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Đây là tư tưởng cơ bản, nhất quán ở Hồ Chí Minh. Là sự tiếp tục phương châm làm thơ, tác giả tự đề ra cho mình, trong Nhật ký trong tù (1943):

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Và tiếp đó, trong Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ (1947): “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà mà anh em văn hóa và trí thức phải làm, cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để giành lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc” (2). Đây là quan điểm có tính nguyên tắc. Khi nhiệm vụ lật đổ xã hội cũ, thanh toán các giai cấp bóc lột là nhiệm vụ số một, thì hoạt động chính trị và cả vũ trang phải là hoạt động quyết định, hàng đầu. Đấu tranh chính trị phải là tiêu điểm, là mũi nhọn của đấu tranh giai cấp - nơi đó giai cấp vô sản phải chiếm lĩnh trận địa. Nơi đó, mọi lĩnh vực hoạt động của người cách mạng phải hướng vào. Nơi đó, bất cứ một sự mơ hồ hoặc lỏng lẻo nào cũng đều gây tổn thất, hoặc tai hại. Nhưng yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng, trong tinh thần của Hồ Chí Minh không hề mang ý nghĩa áp đặt, mà là một hoạt động tự nguyện, tự giác, một đòi hỏi của trách nhiệm, của lương tâm người nghệ sĩ.

“Rõ ràng là dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng” (3).

Có điều cần lưu ý: mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị theo cách tác giả nêu không có nghĩa một sự hạ thấp giá trị văn nghệ; cũng không có nghĩa như một sự phân chia tách bạch chính trị và văn nghệ ra hai vế, đối lập nhau. Trong Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ đã dẫn trên, có đoạn viết: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, giành quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà, để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”.

Như vậy, cho đến khi dân tộc có chủ quyền, và mục tiêu của Cách mạng được tập trung vào việc xây dựng một xã hội mới, mưu cầu hạnh phúc cho con người, thì yêu cầu về sự phát triển tự do, toàn diện của các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, đạo đức sẽ được đặt ra trong một quan hệ chỉnh thể, tác động vào nhau; mặt khác, lại phải chú ý đến những đặc trưng riêng, và những yêu cầu nội tại, có tính quy luật cho mỗi lĩnh vực hoạt động, mà những người được phân công đảm nhiệm hoặc có thiên hướng chọn lựa cần phải nắm hiểu, vận dụng.

Tổ quốc phải được thống nhất và độc lập “để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”. Đấy là điều Hồ Chí Minh đã nói đến từ năm 1947.

Mặt khác, văn nghệ cần tự do, nhưng tự do của văn nghệ phải được đặt ra trong tự do chung của nhân dân, của dân tộc.

Văn nghệ cần được tự do. Nhưng việc quan niệm tự do như thế nào, và làm thế nào để được tự do, đó là điều cần hiểu và phát triển trên cơ sở nắm vững yêu cầu cụ thể của thực tiễn cách mạng và quy luật phát triển nội tại của văn nghệ.

Tư tưởng về tính nhân dân cũng là nội dung xuyên suốt trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, qua cách Bác đặt ba câu hỏi cho công việc Viết. Đó là Viết cho ai? Viết để làm gì? Và Viết như thế nào? Trong đó câu hỏi Viết cho ai? được đặt ở hàng đầu, như trong Sửa đổi lối làm việc, năm 1947; trong Cách viết, năm 1952 và trong bài nói chuyện tại Đại hội Hội nhà báo lần thứ III, năm 1962.

Đó cũng chính là điều Bác tự đòi hỏi nghiêm khắc ở bản thân mình. Và do vậy, có thể thấy quá trình viết của Hồ Chí Minh là cả một bài học quý, cả một kho kinh nghiệm.

Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp cho công chúng phương Tây.

Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc và có lúc tiếng Nga, tiếng Ý... trước khi viết bằng tiếng Việt, vì sự cần thiết muốn cho nhân loại hiểu thực chất những vấn đề của thuộc địa.

Dẫu vậy, không bao giờ tác giả nguôi quên niềm khao khát, nung nấu viết tiếng Việt cho quần chúng còn bị đày đọa, lầm than ở Tổ quốc mình.

Bác làm thơ cổ động, tuyên truyền cho bất cứ ai còn đang mù chữ cùng hiểu được.

Rồi Bác viết Tuyên ngôn độc lập cho quốc dân và thế giới...

Vẫn một nội dung, một đề tài nhất quán trong tất cả những gì Bác viết. “Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài” thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (4).

Nhưng biến hóa, linh hoạt biết bao từ một Bản án chế độ thực dân Pháp đến Nhật ký chìm tàu; từ Đường Kách mệnh đến Bài ca sợi chỉ; từ Hòn đá to, đến Lịch sử nước ta; từ Tuyên ngôn độc lập đến một khổ thơ tứ tuyệt...

Rõ ràng ở mỗi đối tượng, mỗi tình huống, mỗi hoàn cảnh, Hồ Chí Minh đều có một cách nói riêng.

Nhưng hiệu quả cuối cùng của văn chương Hồ Chí Minh là ai cũng hiểu được. Từ một vị đại trí thức đến người dân còn mù chữ.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của công chúng, của hiệu quả, nên cái bệnh, cái hại thường được Hồ Chí Minh nêu và nhắc đi nhắc lại với sự gay gắt ít thấy là viết không cho quần chúng xem. “Họ viết, họ vẽ để họ xem thôi”... “Tục ngữ nói “đàn gảy tai trâu”, là có ý chê người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu thì chính người đó là “trâu”...”.

Đây chính là điểm quy tụ cho ta hiểu tính nhân dân ở nội dung Bác viết, và tính nhân dân theo quan niệm Bác đề ra. Chú ý đến công chúng, Bác nêu cao ý nghĩa phục vụ của văn thơ. Văn thơ ấy quần chúng phải hiểu và yêu mến, như ý kiến Lê-nin đòi hỏi ở một nền văn học vô sản.

Có cần nêu thêm: chính nét đặc sắc ở văn thơ Hồ Chí Minh là sự ngắn gọn, giản dị. Và khi nói đến kinh nghiệm viết, Bác cũng yêu cầu ngắn gọn, giản dị, tránh khoe khoang, tránh bệnh sính dùng chữ, dùng tiếng nuớc ngoài. Dài dòng, dây cà ra dây muống. Khó hiểu, khó nghe... cần ngắn gọn, giản dị, vì lẽ văn chương phải đến với quần chúng, phải được quần chúng hiểu.

Một lẽ nữa: Hồ Chí Minh là người mà toàn bộ tâm hồn và tính cách toát lên sự giản dị. Nhưng đây là một sự giản dị không dễ có. Giản dị như sự kết tinh của mọi vẻ đẹp. Như ánh sáng trắng là hòa sắc của bảy màu.

Từ cách giải quyết đúng đắn và linh hoạt hai vấn đề cơ bản trong mối quan hệ văn nghệ và chính trị, văn nghệ và công chúng, ta sẽ thấy Hồ Chủ tịch là người quan tâm và thực hiện triệt để sự gắn bó giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Nội dung nào hình thức ấy. Và cần thêm một vế thứ ba, như một sự kiểm nghiệm cho mối quan hệ ấy: sự tiếp nhận của quần chúng.

Bác nêu: nội dung chân thật và phong phú, hình thức trong sáng và vui tươi.

Bác kêu gọi: miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn.

Bác đòi hỏi: sự ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu.

Chân thật, tức là nói sự thật, không tô vẽ. Nói cả mặt hay và dở. Phải có khen, cũng phải có chê.

Nói chân thật là nói cả sự đúng mực, khen hay chê đều phải đúng mực.

Bác yêu cầu: văn chương phải hay, văn chương cần một hình thức trong sáng, vui tươi, khiến cho quần chúng chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích.

Ở mỗi dịp trò chuyện, phát biểu với giới văn hóa, văn nghệ, Hồ Chí Minh cũng thường quan tâm đến vấn đề trau dồi phẩm chất của người nghệ sĩ. Điều này rất quan trọng, vì chính bản thân mục tiêu của công tác văn hóa, văn nghệ, như Bác nói là đào tạo con người. Người nói câu nói nổi tiếng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” chính là người hiểu hơn ai hết vai trò của văn hóa, văn nghệ; và do vậy, luôn đặt một yêu cầu cao cho sự tu dưỡng của người nghệ sĩ. Việc trau dồi đạo đức cách mạng là yêu cầu Hồ Chí Minh thường nêu chung cho mọi người. Nhưng với công việc viết, cần thêm một sự cụ thể hóa, cho phù hợp với yêu cầu làm người, lại vừa gắn bó với yêu cầu nghề nghiệp. Trong mỗi dịp đề cập về vấn đề này, Hồ Chí Minh đều nói tóm tắt hoặc có mở rộng khía cạnh này, khía cạnh khác, nhưng quan niệm của Bác là nhất quán: “Muốn hoàn thành nhiệm vụ được tốt thì chúng ta phải học tập, chúng ta phải trau dồi tư tưởng, trau dồi nghệ thuật, đi sâu vào quần chúng” (5).

Có thể còn nhiều cách nêu, cách đúc kết, cách học tập các ý kiến của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ. Có thể còn nhiều cách lý giải hoặc vận dụng và phát triển các ý kiến của Hồ Chí Minh như nhiều người đã làm, mà chúng tôi tin là đúng, tuy khi có dịp vẫn cần phát triển thêm. Nhưng dẫu khai thác thế nào, trên bình diện nào, theo cách thức nào, ở thời điểm nào, theo tôi, quan niệm văn nghệ ở Hồ Chí Minh luôn luôn nhất quán, không phiến diện, không thiên lệch, không mâu thuẫn. Bởi tư tưởng Bác sáng rõ và Bác có một tầm nhìn xa. Cái đúng cho tầm gần có thể lạc hậu, thậm chí có thể lệch khi để vào tầm xa. Nhưng cái đúng cho tầm xa thì mọi tầm gần đều sáng rõ.

Ở mọi thế hệ người Việt Nam, sống lao động và chiến đấu trong giai đoạn cách mạng sôi động này, dường như tất cả, không trừ ai, đều ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp có hạnh phúc lưu giữ những kỷ niệm thiêng liêng về Bác Hồ kính yêu và những kỷ niệm đó trở thành nguồn sức mạnh cho cả cuộc đời mình.

Đó là kỷ niệm của Diệp Minh Châu về những ngày được sống cùng Bác ở Việt Bắc, được vẽ chân dung Bác và nơi Bác ở.

Là Tú Mỡ, “nhà thơ bình dân”, như cách Bác nói, trong một tiết mục chèo, được Bác khuyến khích: “Chèo thì phải chèo cho vững”.

Là Nguyễn Nho Túy và Ngô Thị Liễu, sau đêm diễn tuồng Chị Ngộ, được Bác khuyên: “Nghệ thuật của cha ông hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn. Nhưng chớ có gieo vừng ra ngô”.

Đã có một quyển sách dành riêng cho câu chuyện này, ghi lại 80 kỷ niệm của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, mang tên Bác Hồ với văn nghệ sĩ, do Lữ Huy Nguyên sưu tầm và biên soạn, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, in năm 1980. Nhân đây, tôi chỉ muốn lưu ý một nhận xét nhỏ: Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn nghệ, nhưng tất cả các ý kiến của Bác về “chuyên môn” đều khiến ta ngạc nhiên về sự chân xác một cách giản dị, bởi Bác là người am hiểu mọi lĩnh vực nghệ thuật. Ở mỗi ý kiến của Bác, trong hình thức ngắn gọn, và tự nhiên, đều thấy sự hàm chứa biết bao kinh nghiệm của cả một đời từng trải.

Cần phải nói thêm, ở người cách mạng và nhà thơ Hồ Chí Minh, có một sức hút riêng, thật đặc biệt. Với sức hút đó, Bác đã tập hợp và dẫn dắt biết bao trí thức, nhà khoa học, người làm công tác văn hóa, văn nghệ đi vào con đường cách mạng. Hẳn rồi còn phải đi sâu thêm vào sức hút đó, nó là hạt nhân, là từ trường, là vùng phát sáng và phủ sóng lớn để tạo nên sự đồng tâm, nhất trí, tạo nên mối giao cảm vĩ đại - vốn là nét đặc trưng cho đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh qua đời năm 1969. Năm 1971 Nhà xuất bản Sự thật tập hợp các bài nói, bài viết quan trọng của Bác vào một tập sách mỏng, có tên Về công tác văn hóa, văn nghệ. Sách này đã được tái bản nhiều lần. Về sau, giới nghiên cứu, xuất bản còn mở rộng việc sưu tập các ý kiến của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ trên tất cả những gì Bác viết, rải rác qua nhiều chục năm, rút từ các Tuyển tậpToàn tập Hồ Chí Minh, trong đó dầy dặn và đầy đủ nhất là cuốn sách Văn hóa - Nghệ thuật cũng là một mặt trận, do Lữ Huy Nguyên sưu tập, biên soạn, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1981. Sách này gồm 180 bài và đoạn trích các văn bản Bác viết, có liên quan đến văn hóa, văn nghệ, từ 1921 đến 1968, gồm 519 trang. Trở lại toàn bộ di sản này ta sẽ thấy, cho đến khi qua đời, Hồ Chí Minh chưa một lần nói đến khái niệm công dân - như cách chúng ta quen nói bây giờ; để thay cho khái niệm chiến sĩ. Bởi, từ năm 1911, khi xuất dương ra nước ngoài, trong tư cách một người Việt Nam yêu nước rồi mang tên Nguyễn Ái Quốc, cho đến năm 1969 khi qua đời, ở tư cách Chủ tịch nước, Tổ quốc Việt Nam vẫn chưa có độc lập, tự do trọn vẹn. Điều đáng lưu ý ở đây là, người có quá trình 50 năm viết trên rất nhiều loại văn, trong đó có văn nghệ, chính là người sáng lập Đảng, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ tối cao hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Và cuộc chiến càng về cuối càng gay go, nhất là khi Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ, đưa 50 vạn quân viễn chinh vào miền Nam, sau 1965. Thế nhưng vào bất cứ lúc nào, ngay cả từ khi bắt đầu viết Di chúc vào tháng 5/1965, Hồ Chí Minh vẫn rất kiên định trong lòng tin vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc - như được thể hiện trong các bài thơ Xuân dồn dập vào các năm 1967, 1968 và 1969 gửi đồng bào cả nước:

“Tiến lên!

Chiến sĩ đồng bào!

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.

                                   (Mừng xuân 1969)

Và viết riêng cho mình như một ngẫu hứng, bất chợt:

“Đã lâu không làm bài thơ nào

Nay lại thử làm xem ra sao

Lục khắp giấy tờ vẫn chưa thấy

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

                                   (Không đề - 1968)

Vậy là trong suốt cả đời mình, Hồ Chí Minh không ngừng làm thơ, với những bài Bác cho là thơ - ngoài 135 bài trong Ngục trung nhật ký, gồm rất nhiều loại: thơ tuyên truyền cổ động, thơ thù tạc với bạn bè, thơ xuân - chúc Tết, thơ cho các giới đồng bào, thơ về tuổi thọ, thơ diễn ca lịch sử và thơ xen vào văn, như trong Di chúc:

“Còn non, còn nước, còn người

Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn                                                  mười ngày nay”.

Để làm nên Đại thắng mùa xuân 1975, cả dân tộc phải huy động tổng lực, tận lực sức mạnh mọi loại vũ khí cho trận thắng cuối cùng. Văn hóa, nghệ thuật vẫn không thể không là một mặt trận. Nhà văn không thể không là chiến sĩ. Chưa phải lúc Hồ Chí Minh nói đến tư cách công dân. Bởi ý thức công dân cao nhất, trọn vẹn nhất phải ở trong tư cách người chiến sĩ. Còn Bác, tất cả sự nghiệp viết của Bác là nằm trong, là thuộc về sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Một sự nghiệp viết chẵn 50 năm. Và trong sự nghiệp viết ấy, Hồ Chí Minh đã để lại những áng văn, như là kết tinh cao nhất lương tri và trí tuệ của dân tộc và thời đại - đó là Bản án chế độ thực dân Pháp, Ngục trung nhật kýTuyên ngôn độc lập...

Người xứng đáng đứng ở hàng đầu trong rất nhiều vị thế, nhiều tư cách, trong đó có tư cách nhà văn hóa, nhà chính luận, nhà báo, nhà nghệ sĩ, nhà thơ, đồng thời là người công dân số 1 của thời đại Hồ Chí Minh; chưa một lần nói đến chữ công dân, lại chính là người có tư cách công dân cao nhất, trọn vẹn nhất, qua tất cả những gì được nói, được viết và làm. Có nghĩa là, theo tôi hiểu, với Bác, không hề có sự khác nhau, đối lập nhau giữa tư cách chiến sĩ và công dân. Nói cách khác, vị thế chiến sĩ trong các hoàn cảnh Bác nói là tư cách công dân cao nhất. Hoặc nói tư cách công dân với nghĩa trọn vẹn nhất, đó phải là tư cách người chiến sĩ, trong nghĩa rộng rãi nhất của từ này.

                                                P.L

1. Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951.

2. Sách Về  công tác văn hóa, văn nghệ, Nxb Sự thật; bản in 1977, tr.32

3. Bài nói chuyện tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III (12-1962).

4. Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam, 1959.

5. Sách đã dẫn, tr.48.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.