NỘI DUNG CHI TIẾT
ĐỔI MỚI NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
12/4/2017

 

                                                            Đỗ Quốc Long

Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ

 

Vai trò của VHNT gắn liền với lịch sử phát triển của loài người là nhờ có những chức năng đặc biệt về nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí. Bằng sự phản ánh hiện thực mà văn học nghệ thuật đã tác động đến nhận thức và làm cho con người hiểu đầy đủ hơn về xã hội và giới tự nhiên. Từ đó bồi đắp cho con người có tình yêu đồng loại và thiên nhiên, làm cho cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa.

Văn học nghệ thuật nhân tố quan trọng với sự phát triển của loài người

Các nhà nghiên cứu lý luận cho rằng cuộc sống của loài người và vạn vật đi ra ngay từ trang sách, trang thơ, thước phim, vở kịch gắn với trang đời của tác giả. Nhờ vậy mà người đọc, người xem hiểu được giá trị cuộc sống, yêu cuộc sống, biết được thế nào là “chân, thiện, mỹ”, biết yêu ghét, biết cảm thông, chia sẻ với nhau niềm vui, nỗi buồn. Đây chính là bức tranh hiện thực mà VHNT mang lại cho con người.

Maksim Gorky đại văn hào người Nga đã từng nói “Văn học là nhân học” đồng nghĩa với học văn là học làm người. Đây là sự khẳng định chức năng quan trọng của văn học. Mở rộng khái niệm này đối với các môn nghệ thuật nói chung cũng như vậy. Mục tiêu của văn học nghệ thuật (VHNT) hướng tới là giúp con người hiểu được chính mình, tin vào chính mình để hướng tới các giá trị chân thiện mỹ. Văn học nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Xem, đọc, nghe một tác phẩm VHNT, chân dung, tính cách nhân vật, cái thiện, cái ác trong xã hội được mỗi người tiếp nhận dưới các góc cạnh và sự nhận thức khác nhau. Dẫu rằng trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau song khi đã đọc, xem hay nghe kể lại tác phẩm VHNT thì mỗi người đều cảm nhận được để thích hay không thích, yêu hay ghét, phân biệt đúng sai, thật giả để tự mình điều chỉnh hướng thiện, nhân văn. Và từ điều này không ngoa ngôn khi nói rằng không gì thay thế VHNT trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho con người.

Cùng với bồi đắp nâng cao tri thức, nhận thức, giáo dục nhân cách cho con người, cũng chính các tác phẩm VHNT giành cho con người sự hưởng thụ lành mạnh về tinh thần, làm cho tâm hồn trở nên vô tư trong sáng. Tác phẩm VHNT mang tính hài hước, mang đến người xem, người nghe tiếng cười thật sảng khoái, xoá ranh giới quốc gia, dân tộc, tôn giáo, xoá hận thù và xua tan những âu lo buồn tủi mà con người phải đương đầu trong cuộc sống đời thường.

Trong kho tàng  VHNT nước ta có nhiều tác phẩm ghi những dấu ấn của một thời và để lại ảnh hưởng cả ngàn năm. Có những bài thơ, bài hịch được đánh giá là thiên cổ hùng văn như “Hịch tướng sỹ”, “ Bình Ngô đại cáo”, “Nam Quốc sơn hà”... Chúng ta còn có đa dạng thể loại VHNT  ca dao, tục ngữ, các làn điệu dân ca Bắc, Trung, Nam Bộ, tranh, điêu khắc... Mỗi thể loại văn học đều có phạm vi ảnh hưởng khác nhau song đều có nội dung giáo dục, đấu tranh với thói hư tật xấu, chống phong kiến, đế quốc hết sức sâu sắc. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, Trạng Quỳnh... Nét chung đều toát lên nội dung tư tưởng sâu sắc và ý thức tự tôn dân tộc, tính chiến đấu cao độ. Và nổi lên ở thế kỷ 20 là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lãnh tụ kiệt xuất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và người thầy của cách mạng Việt Nam với các tác phẩm văn học “Bản án chế độ thực dân Pháp”, vở kịch “Con rồng tre”, tập thơ “Ngục trung nhật ký”... đặc biệt là “Tuyên ngôn độc lập” có tác động xã hội hết sức sâu sắc, làm sáng lên tư tưởng vĩ đại của một con người vĩ đại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và ánh sáng các Nghị quyết của Đảng về Văn học nghệ thuật

Bác Hồ là người đặt nền móng của VHNT cách mạng Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo của Người, bản Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 của Đảng ra đời. Đây là cương lĩnh và kim chỉ nam của Đảng cho các hoạt động VHVN. Bác nói“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”... “VHNT cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.  Lời của Bác còn mãi âm vang, sáng ngời tư tưởng và chân lý của thời đại.

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930, Đảng ta luôn coi trọng phát triển VHNT, coi VHNT là công cụ, là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Ngay trong chặng đường cách mạng đầu tiên sau ngày thành lập, Đảng ta dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trương lấy chính trị tư tưởng làm nền tảng tiến tới đấu tranh vũ trang giành thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủ đánh đổ phong kiến, đế quốc. Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xác định văn hóa cũng là một mặt trận. Vì vậy cần phải  tập hợp rộng rãi đội ngũ văn nghệ sỹ, trí thức tham gia mặt trận này tạo nên một lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chỉ rõ: “Trên cơ sở lực lượng cách mạng được nuôi dưỡng từ trước, việc chuẩn bị lực lượng chính trị gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Việt Minh (bao gồm các đoàn thể quần chúng mang tên “cứu quốc”). Thực hiện chủ trương này, hầu khắp các vùng nông thôn và thành thị, các đoàn thể Việt Minh, Hội Cứu quốc được xây dựng và hoạt động mạnh mẽ. Năm 1943 bản Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời. Tiếp sau đó Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam (tiền thân của Liên hiệp các Hội VHNT ngày nay) thuộc Mặt trận Việt Minh được thành lập với đội quân là các VNS, trí thức.

Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng và tư tưởng của Hồ Chủ tịch, đội quân chính trị tư tưởng trên mặt trận VHNT đã đóng góp tích cực làm nên thắng lợi của cách mạng Việt nam xuyên suốt tiến trình lịch sử.

Ngày nay, trong giai đoạn hội nhập quốc tế thực hiện công cuộc đổi mới khi yêu cầu bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống, xây dựng con người mới Việt Nam càng trở nên cấp bách Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết quan trọng về VHNT. 

Ngay những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI họp tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15 đến ngày 24 tháng 8 năm 1989 đã ra Nghị quyết số 07-NQ/TW  “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”. Nghị quyết nêu rõ: “Trên lĩnh vực văn nghệ, hướng văn nghệ sĩ đi sâu vào cuộc sống, vào thực tế của cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đổi mới mà xây dựng tác phẩm có sức thuyết phục, giáo dục sâu sắc cái đẹp về tinh thần, tình cảm và tư tưởng đúng đắn cho công chúng, nhất là cho thanh niên. Khuyến khích tự do sáng tác, phê bình, giữ vững tính kế thừa của nền văn nghệ cách mạng; phê phán tư tưởng coi nhẹ hoặc phủ định những thành tựu to lớn của văn nghệ cách mạng và của lịch sử đấu tranh cách mạng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền bá bạo lực, dâm ô, đồi truỵ và những tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa khác.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng (khóa VIII), số 03-NQ/TW, ngày 16 tháng 7 năm 1998 “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là nghị quyết chuyên đề bao trùm cả về VH - VHNT. Trong đó khẳng định: Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.

Về phát triển sự nghiệp văn học - nghệ thuật, Nghị quyết chỉ rõ:

Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng...

Đặc biệt Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị là nghị quyết chuyên đề về VHNT, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Tiếp tục khẳng định các hội trong Liên hiệp Hội VHNT Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, được đầu tư, chăm lo cho sự phát triển.

 Nghị quyết không chỉ đã đánh giá được thực trạng của VHNT trong cả một giai đoạn dài và chỉ rõ yêu cầu nhiệm vụ và những giải pháp tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới thực hiện CNH, HĐH đất nước. Mục tiêu Nghị quyết đặt ra: Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu ‘’dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu trên Nghị quyết cũng chỉ rõ: Xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam một cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu loại hình, có các thế hệ nối tiếp nhau vững chắc, có tình yêu Tổ quốc nồng nàn, gắn bó sâu sắc với nhân dân, với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, có năng lực sáng tạo phong phú, đa dạng, đoàn kết, gắn bó cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc anh em trên đất nước ta. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, bảo đảm yêu cầu phát triển của lĩnh vực văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.

 Căn cứ Nghị quyết của TW Ban chấp hành đảng bộ các tỉnh thành phố đã ban hành các nghị quyết về phát triển VHNT phù hợp với điều kiện thực tế mỗi địa phương.

Phú Thọ là cái nôi của văn nghệ kháng chiến. Việc chăm lo cho hoạt động VHNT luôn được coi trọng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII chỉ rõ: “Đoàn kết đội ngũ văn nghệ sỹ, phát huy tài năng, năng lực sáng tác, đẩy mạnh phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật. Đổi mới phương thức hoạt động của hội văn học nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều kiện, xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ có trình độ, tâm huyết, trách nhiệm, phẩm chất chính trị để sáng tạo nhiều tác phẩn có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ; phản ánh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng; các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính ảnh hưởng xấu tới xã hội. Quan tâm coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, nâng đỡ phát triển tài năng trẻ và tuyên truyền quảng bá sâu rộng các tác phẩm văn học nghệ thuật đến với công chúng. Trọng dụng, tôn vinh trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân có nhiều đóng góp, cống hiến cho tỉnh và đất nước”.

 Có thể thấy rõ, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các Nghị quyết của Đảng về VHNT là hết sức rõ ràng và cụ thể. Việc thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp về phát triển VHNT vừa mang tính cấp bách vừa lâu dài. Để đưa Nghị quyết Đại hội Đảng về VHNT vào cuộc sống, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động Hội, cần có những cơ chế, giải pháp đổi mới phương cách lãnh đạo, phương thức hoạt động của Hội.

Tăng cường công tác quản lý sáng tác văn học nghệ thuật đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới

Qua thực tiễn hoạt động VHNT những năm qua cho thấy bên cạnh những mặt mạnh là cơ bản, hoạt động văn học, nghệ thuật thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế: số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song số tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, tác phẩm được bạn đọc đón đợi chưa tương xứng, chưa đồng đều về thể loại tác phẩm (thơ quá nhiều ít văn xuôi). Không ít sáng tác theo lối mòn,  các đề tài theo thị hiếu  của một bộ phận nhỏ công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, thẩm mỹ, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Còn có biểu hiện nhân danh chống tiêu cực, tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại. Tình trạng nghiệp dư hoá các hoạt động văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên. Phê bình lý luận nặng về tung hứng, ca ngợi, thiếu hoặc né tránh đánh giá một cách khách quan tác phẩm. Hoạt động VHNT theo tính chất xuân thu nhị kỳ, đánh đồng giữa hoạt động phong trào và sáng tạo VHNT thực sự của VNS từ đó không làm bật được vai trò của VHNT và VNS trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Những hạn chế tồn tại nói trên làm cho vai trò của VHNT có phần bị coi nhẹ.

Nguyên nhân chủ quan của các tồn tại hạn chế trên là do việc phát triển hoạt động VHNT theo phong trào coi nhẹ tính chuyên nghiệp. Công tác phát triển đội ngũ chưa được đặt ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, nặng về số lượng chưa coi trọng chất lượng. Từ đó năng lực tiếp cận với các vấn đề xã hội quan tâm, những vấn đề lớn của đất nước của VNS hạn chế. Đội ngũ lý luận, phê bình vừa thiếu, vừa bị hụt hẫng thế hệ kế cận, phân bổ không đều ở các ngành nghệ thuật. VNS hội viên chưa thường xuyên được tuyên truyền nâng cao bản lĩnh chính trị.

Về nguyên nhân khách quan dẫn đến những hạn chế tồn tại có thể thấy như sau:

Những quy định trong Nghị định 45CP của Chính phủ điều chỉnh hoạt động của Hội VHNT có những điểm chưa phù hợp giữa Hội VHNT là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp với các tổ chức xã hội khác. Điều này làm cho vai trò vị thế của Hội bị ảnh hưởng, tác động không tốt tới tư tưởng tình cảm của VNS. Kinh phí cho hoạt động chỉ là hỗ trợ, chưa được đáp ứng cập với yêu cầu nhiệm vụ. Việc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa cán bộ lãnh đạo Hội từ Trung ương tới các địa phương chưa làm tốt nên khá lúng túng khi sắp xếp nhân sự lãnh đạo tại các nhiệm kỳ đại hội. Không ít nơi người đứng đầu chưa có đủ năng lực, trình độ và bản lĩnh chính trị, do vậy hạn chế trong việc đề xuất, tham mưu cho lãnh đạo địa phương về những chính sách, quyết sách xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật nói chung và tập hợp đội ngũ VNS đưa các Nghị quyết của Đảng về phát triển VHNT vào cuộc sống...

Từ những hạn chế tồn tại nêu trên, để nâng cao hiệu quả hoạt động sáng tác VHNT đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới đề nghị Đảng và Nhà nước một số nội dung sau:

Cần có sự nhìn nhận đánh giá đúng vai trò, nhiệm vụ của VHNT và có những giải pháp tổ chức quản lý phù hợp trong việc đưa các Nghị quyết của Đảng về VHNT vào thực tiễn cuộc sống.

Trước hết khẳng định VHNT là tinh hoa của văn hóa mà VNS là người sáng tạo ra. VHNT là công cụ là vũ khí trên mặt trận tư tưởng của Đảng và Nhà nước do vậy đội ngũ VNS cần phải có một cơ quan chủ quản quản lý hoạt động sáng tác. Hội VHNT từ TW tới các địa phương là tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng sự quản lý điều hành của Nhà nước. Hội VHNT có biên chế và nguồn tài chính do ngân sách hỗ trợ toàn bộ trả lương cho cán bộ viên chức của hội và các hoạt động khác, không có khoản thu nào khác. Sản phẩm có giá trị tinh thần được kết tinh trong các ấn phẩm, sách báo, tạp chí, tranh, ảnh, âm nhạc.

Để thống nhất về mặt tổ chức đề nghị Nhà nước thành lập cơ quan quản lý nhà nước về VHNT thống nhất từ Trung ương tới các địa phương (hoàn toàn khác biệt với quản lý nhà nước về văn hóa thuộc chức năng của Bộ VH-TT và Du lịch). Ở Trung ương với tên gọi Uỷ ban VHNT Việt Nam (trên cơ sở bộ máy của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam). Ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có các ủy ban VHNT các tỉnh (trên cơ sở biên chế của Hội VHNT và tạp chí VN như hiện nay). Tổ chức Hội hội văn học nghệ thuật từ Trung ương tới các tỉnh vẫn tồn tại song hoạt động theo Điều lệ và theo Nghị định 45-CP. Lãnh đạo Hội do hội viên bầu ra và có thành phần lãnh đạo Ủy ban VHNT tham gia. Như thế vừa đảm bảo tính pháp quy, dễ điều hành, quản lý, vừa đảm bảo tính dân chủ thuận lợi cho lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cần có quy hoạch lãnh đạo cơ quản quản lý Nhà nước về VHNT và tổ chức Hội để phát huy tốt vai trò của người đứng đầu có đủ năng lực trình độ quản lý, đề xuất, tham mưu cho lãnh đạo địa phương về những chính sách, quyết sách xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật nói chung, quản lý đội ngũ văn nghệ sĩ nói riêng. Từ đó khẳng định vai trò của VHNT đối với xã hội và công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

                                                                                                                Đ.Q.L


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.