NỘI DUNG CHI TIẾT
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
4/22/2014


                                                                                    DƯƠNG TRUNG QUỐC

                                                           (Tổng Thư ký Hội KH lịch sử Việt Nam)         

1.“Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. Từ xa xưa trong tâm thức của người dân Việt Nam luôn âm vang một câu ca: “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba” để nhắc nhở về cội nguồn và đạo lý thủy chung với tiền nhân phù hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lâu đời và bền vững của dân tộc Việt Nam.

Đức vua Lê Thái Tổ sau khi đã giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ 20 năm của phương Bắc, để khẳng định nền tự chủ và văn hiến Đại Việt đã tuyên ngôn về lòng tự hào dân tộc bằng nguyên lý: “Vật gốc từ Trời, người gốc từ Tổ, ví như nước và cây phải có nguồn gốc… Vì rằng gốc có vượng thì lá mới tốt, nguồn có sâu thì dòng mới dài, nếu không có nhân ân của đời trước bồi đắp dày dặn, phúc trạch đời trước chung đúc lớn lao, thì làm sao lại có thể được như (ngày nay) vậy” (lời tựa sách “Lam Sơn thực lục”).

Câu ca dân gian và tư tưởng của người anh hùng dân tộc, người đã được nhà yêu nước Phan Bội Châu tôn làm “Vị tổ trung hưng thứ hai của dân tộc Việt Nam ta” (sau đức Ngô Vương Quyền, với công huân Chiến thắng Bạch Đằng năm 938) đã biến những nhân vật huyền thoại và một hệ thống truyền thuyết về một vị thủy tổ của dân tộc, những thế hệ đặt nền móng cho một quốc gia trở thành một hiện thực gần gũi đối với mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng qua những nghi thức của tập quán thờ cúng tổ tiên.

Bộ sử đầu tiên của nhà Lê đã ghi rõ một quan điểm nhìn nhận về nguồn gốc dân tộc: “Sử để ghi chép việc, mà việc hay hay dở dùng làm gương răn cho đời sau... Nước Đại Việt ta ở phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã vạch chia vạch Nam Bắc. Thủy tổ ta ra tự con cháu Thần Nông thị. Thế là Trời đã sinh ra chân chúa. Vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chủ một phương” (Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong “Bình Ngô đại cáo” Ức Trai Nguyễn Trãi lại khẳng định hùng hồn hơn nữa bằng áng hùng văn rung động lòng người: “Như nước Đại Việt ta từ thuở trước - Vốn xưng nền văn hiến đã lâu - Bờ cõi, cương vị đã chia - Phong tục Bắc Nam cũng khác...”.

Các nhà khoa học đã và đang góp sức tìm tòi, nghiên cứu về tính hiện thực của Hùng Vương và thời đại các Vua Hùng để lý giải được một cách xác đáng và thuyết phục lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam. Đó cũng chính là nền tảng cho lòng tự hào về một dân tộc có cội nguồn, có bản sắc riêng về văn hóa và có chủ quyền trong mối quan hệ với các cộng đồng - quốc gia gần cận. Thành tựu của các giới khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là với các cuộc khai quật khảo cổ học, các phát hiện sưu tầm văn học dân gian... càng ngày tri thức về lịch sử quá trình hình thành dân tộc Việt Nam càng hoàn chỉnh và thuyết phục.

Từ những phát hiện dấu tích người vượn ở Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), đến di chỉ Núi Đọ (Thanh Hóa), Hang Gòn (Đồng Nai), Dàu Giây (Bình Phước), Tấn Mài (Quảng Ninh)... đã khẳng định sự có mặt của buổi bình minh xuất hiện loài người trên lãnh thổ nước ta hiện tại. Với những phát hiện khảo cổ học, lần lượt các nền văn hóa tiêu biểu cho tiến trình phát triển của xã hội loài người đã khẳng định tính liên tục của sự hình thành cộng đồng cư dân sinh tồn ngay trên lãnh thổ Việt Nam hiện tại qua các thời. Văn hóa Sơn Vi (hậu kỳ đồ đá cũ). Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn (sơ kỳ đồ đá mới), Văn hóa Phùng Nguyên với dấu ấn đậm nét của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước xuất hiện ở khắp địa bàn đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Cho đến các văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun (trung và hậu kỳ thời đại đồng thau)... đã phản ảnh những bước phát triển của trình độ tổ chức xã hội đủ cơ sở để vào thời điểm phát triển rực rỡ của văn hóa Đông Sơn (sơ kỳ đồ sắt), nhà nước Văn Lang gắn liền với thời đại các Vua Hùng đã hình thành, khởi đầu cho sự ra đời của một dân tộc - quốc gia.

Cứ như bộ sử sách xưa nhất còn lại Việt Sử Lược chép thì vào thời đại tương đương với Trang Vương nhà Chu (Trung Quốc, 696 - 681 trước CN), xuất hiện người xưng “là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, lấy hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu... truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”. Khảo cổ học còn tiếp tục phát hiện ra những Văn hóa Sa Huỳnh, Oc Eo... ở phương Nam để hoàn chỉnh từng bước tri thức về tính bản địa và tính liên tục của tiến trình hình thành dân tộc trên lãnh thổ của nước Việt Nam hiện đại.

Trải suốt thời Lê qua thời Tây Sơn ngắn ngủi, rồi thời Nguyễn đầy thách thức bởi họa xâm lược của thực dân phương Tây, tâm thức về các Vua Hùng cùng niềm tự hào về một quốc gia văn hiến tự cường vẫn được các triều đại và nhân dân gìn giữ như một nguồn lực tinh thần to lớn. Triều đình ban sắc phong và nhân dân, đặc biệt ở các làng xã tôn làm thành hoàng các nhân vật trong hệ thống các truyền thuyết liên quan đến thời các Vua Hùng dựng nước; những truyền thuyết dân gian nhằm củng cố nhận thức về nguồn gốc dân tộc (cha Rồng mẹ Tiên) truyền thống chống ngoại xâm (Thánh Gióng) truyền thống lao động, đấu tranh với thiên nhiên (Mai An Tiêm, Sơn Tinh - Thủy Tinh, bánh chưng - bánh giầy...) đã mãi tạo dựng trong tiềm thức mọi người dân Việt Nam về một thời đại các Vua Hùng dựng nước.

2. “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Vào thời điểm khẩn trương cho cuộc vận động giải phóng cứu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã nhắc nhở một nguyên lý quan trọng để tìm thấy sức mạnh của toàn dân cho một bước ngoặt lịch sử sắp đến: “Dân ta phải biết sử ta - Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (Diễn ca Lịch sử nước ta).

Vào đêm hôm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, các tổ chức yêu nước và cách mạng trong giới thanh niên và sinh viên Hà Nội (Tổng hội Sinh viên Việt Nam, Hội Truyền bá Quốc ngữ và Phong trào Hướng đạo sinh Việt Nam) đã tập hợp lực lượng bằng một cuộc hành lễ Giỗ Tổ Hùng Vương ở Khu Việt Nam Học xá (nay là khu Đại học Bách khoa Hà Nội).

Cách mạng tháng Tám mới thành công, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập đã yêu cầu Bộ Tuyên truyền ra thông tri cho cả nước tổ chức Giỗ đức Thánh Trần Hưng Đạo đại vương (1946); Giỗ trận Đống Đa lần đầu tiên được công khai gắn với Chiến thắng của Hoàng đế Quang Trung, cũng như kỷ niệm các danh nhân có công giữ nước như Hoàng Diệu, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học...

Và ngày 11-4-1946, nhân dịp Giỗ Tổ đầu tiên, sau ngày nước Việt Nam độc lập các nghi thức truyền thống vẫn được duy trì và tổ chức trọng thể ngay tại Thủ đô Hà Nội. Lần đầu tiên một nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã đến dự cùng với đông đảo các tầng lớp nhân dân mà hạt nhân là học sinh, sinh viên và các lực lượng vũ trang.

Cùng lúc đó, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng  dẫn đầu một đoàn đại biểu của Chính phủ đã thân lên Đền Hùng (Phú Thọ) dự lễ, đã dâng lên ban thờ Tổ Tiên tấm bản đồ non sông gấm vóc Việt Nam giờ đây đã trở thành một quốc gia tự chủ và một thanh kiếm để thể hiện ý chí của toàn dân quyết giữ vững nền độc lập non trẻ của Tổ quốc.

Chính vào thời điểm lịch sử đầy thử thách này, lòng tự hào về truyền thống lịch sử đã trở thành một nguồn lực tinh thần mạnh mẽ cho cả dân tộc bước vào sự nghiệp giữ nước. Giáo sư sử học Trần Văn Giàu, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn, Nam Bộ đã viết:

“...Vào bất kỳ lúc nào, hễ giặc mạnh xâm phạm biên cương của Tổ quốc thì người chiến đấu bảo vệ non sông đều nhất luật huy động lịch sử nhiều nghìn năm của dân tộc để diệt xâm lăng, trong mục đích thiêng liêng đó, các cụ nhiều lần đề cao “gươm núi Sóc”, “cọc Bạch Đằng”. Và mỗi lần như vậy, sự huy động lực lượng lịch sử truyền thống đều mang lại hiệu quả tích cực. Ngay tại Sài Gòn, vào năm 1945 khi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, sau ngày 9-3, đứng trước một tương quan lực lượng đối phương 9 - 10, bên ta 1 - 2, mà thời cơ khởi nghĩa có thể thấy trước mắt gần thôi, vấn đề lớn được đặt ra là, trong một thời gian ngắn, rất ngắn, ta phải làm sao cho cán cân tương quan lực lượng thay đổi hẳn. Ở Sài Gòn, ở Nam Bộ, phải làm sao cho Việt Minh lớn mạnh hơn tất cả các lực lượng đối phương cộng lại, thì mới có thể nắm kịp thời cơ giành chính quyền, làm cách mạng, giải phóng dân tộc thành công. Khi ấy, các đồng chí phát hiện ra nhiều kế hoạch cụ thể mà toàn bộ tư tưởng được gọi một cách “linh ứng” là “Rước ông Gióng vào Nam”. (Hội đồng KHXH - TPHCM - Lịch sử VN tập I).

Thực tiễn của công cuộc vận động cách mạng nói chung, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng đã đúc kết thành một tư tưởng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện trong lời căn dặn các chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong ngay bên thềm Đền Hùng, trước khi vào tiếp quản Hà Nội (9-1954): “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Tư tưởng đó cũng là sự tiếp nối một phương thức huy động nguồn lực quá khứ để phấn đấu cho một mục tiêu chính nghĩa, đặc biệt là trong sự nghiệp giữ nước. Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” khi viết về Hai Bà Trưng cũng coi việc Hai Bà “phất cờ nương tử thay quyền tướng công” không chỉ để “trả thù nhà đền nợ nước” mà còn là thực hiện sứ mạng cao cả “kế nghiệp Vua Hùng”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực hiện mục tiêu thiêng liêng là thống nhất nước nhà, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cổ vũ bằng một tinh thần: “bốn ngàn năm lịch sử đang cùng ta đánh Mỹ”. Cũng chính trong những năm tháng kháng chiến gian khổ và thiếu thốn này, công cuộc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương được tiến hành một cách sôi nổi và đạt được những thành tựu to lớn. Dưới tầm bom đạn của giặc Mỹ, nhiều cuộc khai quật khảo cổ học được tiến hành, nhiều cuộc hội nghị khoa học toàn quốc họp và khái niệm về một “Thời đại các Vua Hùng dựng nước” cũng được khẳng định vào chính giai đoạn lịch sử này.

Và cũng với sức mạnh của truyền thống ấy, sau khi đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, dân tộc Việt Nam còn tiếp tục sự nghiệp bảo vệ chính quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc. Giữ nước là một nghĩa vụ thiêng liêng của muôn đời để gìn giữ trọn vẹn cơ nghiệp của Tổ tiên để lại.

3. Kế nghiệp thời xưa.

Kể từ năm Canh Thìn (2000), năm đầu tiên của thế kỷ XXI, của một Thiên niên kỷ mới, vào thời điểm công cuộc đổi mới đã trải qua một thập kỷ thử thách và đạt được những thành tựu đáng khích lệ, vào trước thềm của Đại hội Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức trọng thể theo nghi thức của Nhà nước (với Nghị định số 82, ngày 6-11-2001, Chính phủ quy định ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là một trong những ngày lễ lớn của dân tộc).

Trước bàn thờ của Tổ tiên trên Đền Hùng, Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thay mặt Đảng và Nhà nước nêu rõ quan điểm của thời đại chúng ta đối với ngày Giỗ Tổ truyền thống: “Càng tự hào về lịch sử dân tộc, chúng ta càng phải đồng tâm hiệp lực thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy của Người đã thấm sâu trong trái tim, khối óc của triệu triệu người Việt Nam chúng ta. Thực hiện căn dặn của Người, Đảng ta đã không ngừng phát huy truyền thống của Tổ tiên, kế thừa những giá tinh thần tốt đẹp của thời đại Hùng Vương và các thời đại oanh liệt trong lịch sử, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ và oanh liệt, đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, góp phần làm rạng rỡ thêm lịch sử và truyền thống Việt Nam anh hùng. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân vượt qua trở ngại, thử thách, tranh thủ thời cơ vận hội để lý tưởng và mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực trên Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta... Chúng ta tưởng nhớ các Vua Hùng và tưởng nhớ công lao to lớn của các thế hệ nối tiếp đã có công dựng nước, giữ nước và mong ước cho trí tuệ, công sức của chúng ta được phụng sự vì mục đích hòa bình và hạnh phúc của nhân dân...”.

Gần trọn một giáp (12 năm) đã qua, cùng với công cuộc đổi mới chung của đất nước và của vùng Đất Tổ Phú Thọ, cùng với nhu cầu nâng cao tinh thần yêu nước, “cùng nhau giữ lấy nước”, tầm vóc của Quốc lễ Giỗ Tổ ngày một phát triển. Nhà nước đã liệt không gian di tích và lễ hội Hùng Vương vào tầm cấp di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

Cùng với quy hoạch chung, nhiều hạng mục công trình đã được đầu tư cải thiện một cách căn bản diện mạo của khu di tích. Sức hút tâm linh của Khu di tích và các hoạt động của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương ngày càng lớn thu hút hàng triệu người hành hương tham dự, cộng với các hình thức xã hội hóa đã tạo ra những nguồn lực và nhiều công trình có ý nghĩa trên vùng Đất Tổ. Một quỹ hỗ trợ Đền Hùng được thành lập với sự phối hợp với lãnh đạo tỉnh đã bước đầu hoạt động...

Nhìn lại lịch sử của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, từ những tập quán dân gian của một không gian giới hạn mang nặng tính dân gian. Vào thời điểm đầu thế kỷ XX chúng ta ghi nhận việc những vị quan người Việt địa phương ngay trong bối cảnh đất nước còn là thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo được cơ sở pháp lý cho một lễ hội dân gian nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc đối với việc nâng cao tinh thần dân tộc và lòng yêu nước, trước hết là của người Việt.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, chỉ khi đất nước Độc lập, với một nhà nước được xây dựng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân thì những bài học và tấm gương lịch sử, trong đó có Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương mới thực sự được phát huy như những nguồn lực to lớn nhằm tập hợp lực lượng cho khối đại đoàn kết nhân dân to lớn hơn nữa. Phong trào yêu nước của giới trẻ trước ngày Cách mạng thành công, sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ giỗ Tổ ở Hà Nội hay việc phái đoàn Chính phủ, đứng đầu là Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng lên dâng hương tại Đền Hùng Phú Thọ năm 1946... cho tới những năm đầu thế kỷ XXI vừa qua khi Giỗ Tổ đã chính thức trở thành Quốc lễ là bằng chứng. Đó là một hiện thực sống động về sức sống của lễ hội gắn kết lòng người với những chủ trương của Nhà nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ngay tại Hội nghị Văn hóa đầu tiên được tổ chức tại Thủ đô mới độc lập: “Văn hóa soi đường cho quốc dân ta đi”.

Tuy nhiên, để thực sự làm cho một lễ hội có ý nghĩa và quy mô tổ chức to lớn này, bên cạnh những nỗ lực của nhà nước cùng với sức dân xây dựng những nhân tố hạ tầng thuận lợi cho một lễ hội dân gian phù hợp với những nhu cầu của đời sống hiện đại nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật Di sản (liên quan đến việc bảo tồn và phát huy di tích (di sản vật thể) với những di sản phi vật thể trong đó có lễ hội và những lễ thức tâm linh và nghệ thuật dân gian.

Với một quốc gia đa dân tộc, vấn đề cội nguồn của cộng đồng mỗi dân tộc thành phần có thể khác nhau, nhưng như hình tượng sâu sắc và khá phổ biến của nhiều dân tộc về câu chuyện “tất cả chui ra từ quả bàu” chính là biểu tượng cho trách nhiệm đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp chung bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam hiện đại. Giờ đây, Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành ngày Quốc lễ đối với mọi công dân Việt Nam, diễn ra trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và có thể với cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài, tại nhiều địa phương đã có những ngôi đền thờ Quốc Tổ... Hiện thực đó đang đặt ra những trách nhiệm to lớn đối với các ngành văn hóa cái trách nhiệm của “Bộ Lễ” trong thiết chế truyền thống, trong đó vai trò và trách nhiệm của giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có liên quan để làm cho Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương xứng đáng là một lễ trọng nhất trong các lễ hội truyền thống của nước Việt Nam hiện đại.

Nói cách khác là chúng ta có trách nhiệm tô đậm thêm ý nghĩa của ngày Giỗ Tổ như cái nghĩa lý mà ông cha ta đã gửi gắm qua đôi câu đối khắc ghi tại Đền Hùng:

“Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà non nước vẫn quy về Đất Tổ

Văn minh đương buổi mới, con Hồng, cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ ông”.

                                                                                                        D.T.Q

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.