NỘI DUNG CHI TIẾT
QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG BIỂU TƯỢNG CỘI NGUỒN CỦA QUỐC GIA - DÂN TỘC VIỆT NAM
5/15/2014


GS. TS NGÔ ĐỨC THỊNH

ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia

Tâm thức hướng về tổ tiên, nòi giống, cội nguồn luôn sâu nặng trong mỗi người Việt Nam, như cha ông đã nói “Con người có tổ có tông”. Đó cũng là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên hệ ý thức Việt Nam từ buổi đầu của thời kỳ hình thành một quốc gia phong kiến tự chủ. Từ đó kết tinh thành huyền thoại, truyền thống, những ký ức lịch sử, thành một giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Xã hội Việt Nam truyền thống dựa trên ba yếu tố nền tảng: nhà - làng - nước. Từ đây hình thành nên cung cách ứng xử mang bản sắc riêng, là lấy khuôn ứng xử gia đình, gia tộc mở rộng ra ứng xử xã hội, nói cách khác là “gia tộc hóa xã hội”. Cũng vì thế mà từ xa xưa, người Việt Nam đã coi quốc gia - gia tộc như là một “gia đình lớn”. Nếu mỗi gia đình đều có cha mẹ, có tổ tiên, ông bà, thì đất nước, quốc gia cũng có cha Rồng, mẹ Tiên, có Quốc Tổ Hùng Vương, có câu “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Từ đây hình thành nên ý thức cội nguồn, tâm thức hướng về cội nguồn.

Ở Việt Nam, việc truyền tụng qua truyền khẩu dân gian về sự tích Vua Hùng kèm theo các nghi thức, lễ hội dân gian có từ rất sớm, mà sau này các nhà khảo cổ học đã phát hiện nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ  phù hợp với các truyền tụng dân gian. Tuy nhiên, việc ghi chép trong thư tịch về lịch sử và phong tục thờ cúng Hùng Vương lại xuất hiện khá muộn, nhất là trong các bộ chính sử và thường được gắn với thời kỳ cổ sơ nhất, khi hình thành dân tộc, hình thành quốc gia và văn hóa truyền thống. Tên tuổi Quốc Tổ Hùng Vương được phản ánh trong hệ thống truyền thuyết dân gian đó là hệ thống truyện về họ Hồng Bàng, Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ trăm trứng, nở thành trăm người con, con cả ở tại Văn Lang (Phong Châu) lấy hiệu là Hùng Vương. Về sau, các truyền thuyết đều được ghi lại trong Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV), Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XV)...

Thư tịch viết về Hùng Vương thì lại xuất hiện khá muộn. Trong danh sách phong thần lần đầu của thời Trần (1285) có ghi các tên tuổi các danh thần như Tản Viên, Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Sỹ Nhiếp..., nhưng chưa nhắc đến Hùng Vương. Tài liệu lịch sử nhắc đến Hùng Vương là Việt Sử lược (bộ sử khuyết danh được viết vào khoảng thế kỷ XV), sau này Toàn Thư thời nhà Thanh trích dẫn: “Thời Chu Trang Vương (khoảng thế kỷ IX trước công nguyên) ở vùng Gia Ninh có một dị nhân có khả năng dùng phép thuật thần kỳ để thần phục các bộ lạc ở đó và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang và đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, biết cách ghi chép sự kiện bằng cách thắt các nút dây thừng và biết làm chính trị, truyền được 18 đời tự gọi là Hùng Vương”.

Năm 1470, Lê Thánh Tông là ông vua đầu tiên cho lập “Ngọc phả Hùng Vương”, coi đó là Vua thủy tổ của dân tộc, đến thời Ngô Sỹ Liên, ông đưa chuyện Quốc Tổ Hùng Vương vào chính sử, mục truyện họ Hồng Bàng, phần ngoại kỷ. (Có tư liệu còn cho rằng, có tồn tại ngọc phả Hùng Vương soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (986) thời Lê Đại Hành, hay ngọc phả khác soạn năm Hồng Phúc nguyên niên thời Lê Anh Tông?). Tuy nhiên, đến thế kỷ XV thời nhà Lê, thì Quốc Tổ Hùng Vương đã được chính thức hóa trên phương diện lịch sử và hằng năm tổ chức thờ phụng. Từ đó, trải qua thời Tây Sơn và nhà Nguyễn (tới năm 1945) cũng như dưới chính thể Việt Nam mới, dù ở miền Bắc hay miền Nam (đến năm 1975), người Việt Nam đều vun đắp cho việc thờ phụng Quốc Tổ Hùng Vương.

Việc hệ thống lại các huyền thoại Hùng Vương, từ đó soạn thảo ngọc phả Vua Hùng, rồi đưa Hùng Vương vào chính sử là một nhu cầu của lịch sử xã hội Việt Nam thời Đại Việt. Đó là quá trình xây dựng và củng cố quốc gia phong kiến tập quyền tự chủ, cần xây dựng một biểu tượng cho tinh thần cố kết quốc gia - dân tộc, là chỗ dựa tinh thần của dân tộc trước sức ép của sự đe dọa xâm lược của các thế lực phong kiến bên ngoài. Tư tưởng cội nguồn, ý thức cố kết quốc gia dân tộc này được thể hiện ngay trong đôi câu đối trước cổng Đền Hùng: “Thác thủy khải cơ, tứ cố sơn quy bản tích - Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn” (Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy tụ một mối; Lên cao nhìn khắp, trập trùng đồi núi cháu con đông). Vấn đề xây dựng biểu tượng và thực hành thờ cúng Hùng Vương (Vua Hùng) là vấn đề lớn của tín ngưỡng - văn hóa Việt Nam. Cùng với biểu tượng và thực hành thờ cúng Vua Hùng là huyền thoại về “tứ bất tử” (bốn vị thánh bất tử) với Thánh Gióng tượng trưng cho sức mạnh chống giặc ngoại xâm; Thánh Tản Viên hay Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh chinh phục tự nhiên; Chử Đồng Tử tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc giàu có; Thánh Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ...

Mỗi cộng đồng người từ xã hội nguyên thủy bước vào xã hội văn minh đều có xu hướng tập hợp, thống nhất lại từ các bộ lạc nhỏ bé và biệt lập. Mười lăm bộ thời Văn Lang thống nhất dưới quyền của Lạc tướng bộ Vũ Minh là Hùng Vương, người chỉ huy quân sự và chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Truyền thuyết cũ về sự tích 99 ngọn núi Hồng là hình tượng 99 con voi hướng về chầu Vua Tổ Hùng Vương, còn con voi duy nhất không chịu quy thuận đã bị tội chém đầu... Xu hướng thống nhất ấy là một đòi hỏi của lịch sử, được thực hiện thông qua các hành động thân thuộc, liên kết mang tính tôn giáo và không loại trừ chiến tranh. Đó là thời đại anh hùng, thời đại dân chủ - quân sự, thời đại của những thủ lĩnh quân sự, mà về nhiều phương diện đã phản ánh trong các sử thi anh hùng ca của nước ta thời cổ đại. Các sự tích và huyền thoại về các vị thần linh mà tập trung nhất trong bốn vị thần linh bất tử, đã thâu tóm lịch sử cụ thể và hiện thực thành một loại sản phẩm tinh thần mang đầy tính thi hứng và thẩm mỹ, như một bản hùng ca được truyền tụng, vang vọng mãi tới mai sau. Đó là một cột mốc, những nhân tố cơ bản tạo nên hệ ý thức Việt Nam buổi đầu thời kỳ hình thành và định hình quốc gia tự chủ. Và kết tinh thành ký ức lịch sử, một thứ minh triết để từ đó, trở thành một giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Quá trình hình thành hệ ý thức, ký ức lịch sử thời Vua Hùng là kết quả của sự vận động lịch sử, vừa là sản phẩm của văn hóa bình dân, văn hóa dân gian, thông qua các huyền thoại, truyền thuyết, các phong tục nghi lễ thờ tổ tiên của các gia tộc, dòng họ nơi thôn dã, lại vừa là sự kết tinh ý thức của văn hóa bác học của các nhà trí thức, các bậc minh quân của các triều đại. Quá trình này là sự kết hợp của sự vận động từ dưới lên (dân gian, cộng đồng), lại vừa từ trên xuống (nhà nước, sĩ phu); đồng thời lại vừa tích tụ từ ngoài vào, lại vừa lan tỏa từ trong (trung tâm) ra. Nếu thiếu một trong các nhân tố song đôi như: trên - dưới, trong - ngoài, nhà nước - cộng đồng thì không thể tạo nên tín ngưỡng Hùng Vương với tư cách là biểu tượng cội nguồn của quốc gia - dân tộc, không thể có phong tục thờ cúng Quốc Tổ Hùng Vương như hiện nay.

Việc sáng tạo nên biểu tượng cội nguồn và việc tôn thờ như một tín ngưỡng, ít nhất cũng trải qua hơn 500 năm đến nay, thật sự là một kết nối lịch sử, vượt qua rào cản của các triều đại phong kiến, vượt lên trên sự khác biệt của các chế độ xã hội; vượt qua cả sự khác biệt tôn giáo, dù đó là Phật, Đạo, Nho, các tín ngưỡng dân gian... để chỉ có biểu tượng cội nguồn là duy nhất. Đây thật sự là giá trị văn hóa chính trị đích thực, vượt lên trên mọi thời đại và triều đại. Tất cả những điều này, từ việc xây dựng biểu tượng cội nguồn Vua Tổ Hùng Vương đến những thực hành tín ngưỡng văn hóa thờ phụng, rất cần được nhân dân ta tự hào, gìn giữ và tôn vinh.

                                                          N.Đ.T


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.