NỘI DUNG CHI TIẾT
MỘT VÙNG TRUYỀN THUYẾT
5/30/2014

Làng tôi tựa lưng vào những trái đồi thấp thoải phía trước Đền Hùng. Hồi nhỏ chúng tôi thường chăn trâu, bò trên những trái đồi ấy. Đất đồi cằn cỗi, chai cứng, lổn nhổn sỏi đá. Nhiều vạt đồi, đất bị latêrit hóa, chỉ có loài cỏ hoa kim mọc thành khóm, lá nhỏ như những cái gai của cây xương rồng hoang.

Lá già, lá non đều mọc từ gốc, chĩa thẳng lên tri. Những nơi đất còn một chút mầu, khóm cỏ có thể cao tới hơn một gang tay. Mùa khô lá cỏ vàng ệch, trông xa tưởng như màu đất. Trâu, bò chỉ khi quá đói mới chịu ăn như ăn rơm khô. Thương lũ trâu, bò gầy, bọn trẻ chúng tôi rủ nhau lùa cả đàn vào mãi trong núi Đình, chỉ cách Nghĩa Lĩnh chừng gần một cây số. Buổi trưa ở lại, chúng tôi che nắng bằng những tầu lá cọ chặt ở vườn nhà, đ cọng dài cho dễ cắm xuống đất. Còn lũ trâu bò, chúng biết len lỏi vào các bãi tế, những bụi sim, mua đê kiếm những vạt cỏ xanh chỉ to bằng cái nong, cái mẹt; và để tránh nắng nóng... Vậy mà đã có thời vùng đồi mang tên “núi Voi” này là rừng! Một vùng rừng bên sông Thao với biết bao nhiêu là truyền thuyết. Người già làng tôi vẫn thường kể rằng: Khu đồi như bát úp, từ làng tôi vào đến nủi Đình, ngày xưa là rừng rậm, cây cối um tùm, chim thú rất nhiều. Những chiếc cột đình làng tôi rất to, phải hai đứa dang tay cùng ôm mới hết. Cột đình toàn là gỗ lim, sến, táu chặt ở rừng về...

Làng tôi có một người tên là Khán Lúa. Làng gọi anh thế vì anh rất khỏe. Mùa gặt, Khán Lúa vác cả cây tre đực ra đồng làm đòn gánh. Lúa gặt bó thành “gồi” xâu vào cây tre. Một gánh lúa có khi nặng tới cả tạ. Khán Lúa còn là võ sĩ đánh hổ. Một lần con h chột một mắt mò vào chuồng định bắt lợn của anh, Khán Lúa đã tay không vật nhau với nó. Con hố thua, phải bỏ chạy vào rừng nhưng còn kịp cào vào trán Khán Lúa, để lại vết sẹo to bằng đầu ngón tay. Nghe chuyện Khán Lúa, tôi nghĩ ngay đến những trái đồi mà bọn trẻ chúng tôi vẫn chăn trâu, bò. Đồi Nhà Săn, Rừng Cấm... những địa danh chẳng biết có từ bao giờ nhưng theo người già kế lại thì đồi Nhà Săn ngày xưa có những túp lều lợp bằng lá cọ để các Vua Hùng nghỉ chân trong mỗi chuyên đi săn. Còn Rừng Cấm là trái đồi ở gần làng Thụy Vân, sát vi đầm sen. Ngọn đồi khá tròn trông như đĩa xôi cỗ cúng. Đất đồi vào loại tốt nhất trong vùng. Hồi nhỏ tôi thường theo mẹ và anh, chị tôi đến trồng sắn, trồng củ ở ven đồi này. Mảnh đất của nhà tôi chỉ hơn một sào mà vụ nào cũng thu được hơn chục thúng sắn khô, và củ lăn, củ cọc (loại củ được người ta dùng để làm hoài sơn thay cho củ mài trong ngành thuốc bắc những năm gần đây). Một lần tôi hỏi ông nội: “Ông ơi,sao đồi này chẳng có cây mà gọi là Rừng Cấm?”. Ông kể: Theo truyền thuyết thì ngày xưa, trong một lần đi săn, Vua Hùng và các quan lang đã đến đây. Thấy đồi cây đẹp, lại ở gần đầm sen, nhà vua và những người cùng đi đã dừng chân. Trong lúc người say sưa ngắm cảnh, hít thở không khí trong lành với hương sen thơm từ dưới đầm thoảng lên, một quan lang đã trông thấy con ngựa của nhà vua đang tung vó trước cào mạnh vào đất làm bật lên những củ màu đỏ tím to bằng quả chuối. Nhìn con ngựa ăn lá và củ một cách ngon lành, vị quan chạy đến nhặt lấy mấy củ. Nhà vua và các vị quan lang chia nhau ăn thử. Đang nắng nóng, lại mệt và bụng đã thây đói, mọi người đều khen là ngon ngọt, mát ruột... Vua Hùng phán bảo: Từ nay cấm không được săn bắn, chặt cây phải giữ loại cỏ có củ quý nhà vua cũng sai bảo vị quan lang trông coi việc canh nông hướng dẫn dân quanh vùng trồng loại “cỏ” này để lấy củ làm thức ăn cho dân. Tên loại cỏ là khoai lang do Vua Hùng đặt với cái ý là đ nhớ vị quan lang đã phát hiện ra loại cỏ quý... Chuyện ông nội tôi kể ngày tôi còn nhỏ ấy không thấy in trong tập truyền thuyết Hùng Vương. Ngay như chuyện về nơi mở trường dạy võ nghệ cho binh lính thời nhà Hùng cũng ở đất làng, xã quê tôi nhưng khoảng trên, dưới chục năm gần đâv mối thấy nói tới trong một số bài viết in trên báo và tạp chí địa phương. Còn nhớ một lần chúng tôi chăn thả trâu, bò ở trái đồi bên cạnh Rừng Cấm, bò của tôi bị lạc về phía đồi Chùa Phài. Người làng cẩm Đội bắt dắt về phía Đồng Lính. Tôi sợ không dám đi tìm một mình, bèn chạy về thưa với ông tôi. Khi hai ông cháu chuộc được bò về, dắt bồ ngang qua Chùa Phài, tôi hỏi ông: Ông ơi, tại sao đồng này gọi là Đồng Lính”?. Ông tôi cười bảo: “ người xưa kể lại,vào thời nhà Hùng người ta mở trường dạy vỗ nghệ cho binh lính.Cánh đồng bên dưới Chùa Phài trước là đầm lầy, cỏ lác rậm rạp, hoang dại. Nhà trường cho lính khai phá để cấy       tự lo lấy gạo mà ăn. Cánh đồng do binh lính làm nên gọi là Đồng Lính...” Từ ngày tôi đi học xa nhà, mỗi lần vào ga Phủ Đức đế xuôi tàu Hà Nội tôi đều phải cuốc bộ qua Chùa Phài, men theo Đồng Lính. Một lần ngược tàu đêm, đến ga tròi đã khuya, gặp một cô gái làng, có bạn đường, chúng tôi đủng đỉnh cuốc bộ qua đồi. Vừa đến Chùa Phài thì trời đố mưa, chúng tôi phải nép mình vào gốc cây sui già trước cửa chùa. Theo người già trong làng kể lại thì ngôi chùa này xưa là miếu th những ngưòi có công khai phá Đồng Lính, về sau dân làng đưa thêm tượng phật vào miếu đ cùng thờ và gọi miếu là chùa. Cái miếu cố bé tẹo xây bằng đá ong; một thứ đất giàu chất sắt đã bị latêrit hóa thành đá được dùng làm vật liệu xây dựng từ rất xa xưa. Mái miếu lọp ngói mũi. Từ trên đnh đồi nhìn xuống, ngôi miếu có hình chữ T lộn ngược. Trong kiến trúc cổ người ta gọi là chữ đinh (J). Cây sui trước miếu đã hơn 400 năm tuổi. Hẳn là nó được trồng khi xây miếu lần đầu hoặc khi trùng tu, tôn tạo đ chuyn đổi từ cái miếu thành ngôi chùa. Trong lúc trú mưa, cô gái cùng làng bắt tôi k về cây sui cô thụ rồi bảo: “Quê mình là vùng đất có nhiều truyền thuyết thế mà nhiều người chẳng biết. Tiếc thật !”. Tôi nói: “Không chỉ không biết mà còn không tin. Họ nói truyền thuyết là chuyện người xưa tưởng tượng ra,thần hóa nó rồi truyền nhau kể cho  đời sau nghe”...

Hồi ấy tôi nói đại thế. Bây giờ ngẫm lại, thấy mình có lý. Năm ngoái, nhân một chuyên điền dã ra ngoại thành Việt Trì, khi qua các làng Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tràng Đông, Tràng Nam... những địa danh có trong truyền thuyết Hùng Vương (in sách hẳn hoi), ở đó còn nhiều di tích lịch sử - văn hóa gần như bị bỏ quên. Ví như ngôi miếu thờ nhà giáo Vũ Thê, người đã dạy học ở Tràng Đông, Tràng Nam thời Vua Hùng Duệ. Ngôi miếu và cả đình làng Hương Lan (th hai người con trai của nhà giáo Vũ Thê, từng là quan cận vệ của Vua Hùng thứ 18, được dân Hương Lan tôn th Thành Hoàng làng). Trong ngôi miếu cổ (cũng chỉ nhỏ như Chùa Phài quê tôi) còn lưu giữ hai bản Ngọc phả viết về nhà giáo và hai vị tướng cận vệ. Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính viết bản Ngọc phả lần đầu vào năm Hồng Phúc thứ hai, đi vua Lê Anh Tông (1573). Đến năm Tự Đức thứ nhất (1848) một học sĩ đương thi, họ Nguyễn đã sao lại nguvên bản. Cùng với Ngọc phả còn 4 bản (bản chính) đạo sắc của các triều đại nhà Lý, nhà Lê... công nhận di tích lịch sử - văn hóa nàv. Trước miếu th nhà giáo có hai cây đại thụ: Cây Táu hoa bạc đã hơn 1000 năm tuổi (theo kết quả khảo nghiệm của 1 cán bộ Viện sử học Việt Nam). Gốc cây có đường kính hơn lm. Cây Táu hoa vàng cùng thi với cây hoa bạc, nhưng khoảng 100 năm trước đây bị bão đổ. Từ gốc nó mọc lại một chồi mới, đến nay cũng đã thành cổ thụ.

Theo ông Nguyễn Ngọc Tám (nguyên Chánh Văn phòng Úy ban nhân dân tỉnh, hiện là Trưởng ban quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa làng Hương Lan thì “cho đến nay (thời điểm tôi gặp ông ở ngôi miếu thờ nhà giáo) di    tích này vẫn chưa được xét công nhận là di tích lịch sử - văn hóa...”! Sau một lần gặp, trò chuyện với các thành viên trong Ban quản lý và xem các bản ngọc phả, sắc phong, tờ trình (xin được tỉnh xem xét...) tôi đã viết bài in trên báo Phú Thọ cuối tuần và tạp chí văn nghệ Đất Tổ. Một cán bộ văn hóa (cũng là nhà báo) là người Hương Lan nói với tôi: “Đọc bài viết của bác em mới biết làng mình có một di tích đáng quý như vậy”. Thế đấy ! Ngay cả người sở tại cũng còn chưa biết nữa là...

Vài ngày trước khi viết bài du ký này, tôi được ông Nguyễn Văn Yết, Phó trưởng Ban quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa làng Hương Lan vui vẻ cho biết là đã được cấp bằng. Làng sẽ tổ chức đón bằng cho cả ngôi miếu và ngôi đình làng (hai bằng cả thảy) vào đầu tháng ba này...

Tôi vốn là dân ngoại đạo với ngành sử học nhưng sinh ra và lớn lên ở một vùng truyền thuyết. Khoảng 30 năm gần đây tôi mới có điều kiện để tiếp cận với những địa danh, nơi phát tích của những câu chuyện mà người xưa đã truyền kể. Thực lòng, tôi không có ý định mon men đến vùng đất dụng võ của các nhà khảo cổ sử học... nhưng từ sau lần được nghe một người đồng nghiệp ở Cục Bản đồ địa chất từng đã đi Praha (Tiệp Khắc cũ) dự hội thảo khoa học địa chất (1968) k lại câu chuyện địa chất đã được hội nghị quốc tế thảo luận có liên quan đến truyền thuyết núi Voi; tôi cứ mong có dịp đến để thấy tận mắt sự dịch chuyn kiến tạo địa chất dẫn đến sự hình thành núi Voi (con Voi bất nghĩa ấy). Đới kiến tạo Âu - Á kéo dài từ địa Trung Hải chạy qua dãy núi Hy-ma-lay-a đếnViệt Nam, thẳng theo phương dòng chảy sông Hồng gặp tầng đá cổ ở vùng kinh đô Văn Lang thì đột nhiên đổi hướng. Sự dịch chuyển này bắt đầu từ núi Voi rồi vòng về phía đông Bắc. Đường khâu kiến tạo tuy đã bị thời gian vùi lấp cả triệu năm nhưng vẫn còn đ lại dấu vết.

Tôi đã có dịp trèo lên ngọn núi, chỗ có vách đá bị trụt lở. đó có một mạch nước ngầm thấm qua tầng đất đá cổ màu tím đỏ, nước luôn rỉ ra trông “như” máu của con Voi bị chém đầu. Đọc lại truyền thuyết núi Voi, phần dị bản có nói đến một truvền thuyết khác, ít được người đời truyền kể. Theo truyền thuyết này, núi Voi - là con Voi có nghĩa. Chỉ một mình nó dám đương đầu với các thế lực chống đối nhà Hùng (Nhà nước Văn Lang) từ phương Bắc xuống. Vì thế nó là con Voi có công chứ đâu phải có tội (!)...

Có nghĩa hay bất nghĩa là cách nghĩ của người xưa. Duy có một điều là dáng núi của con Voi này không thuận theo dáng núi của quần thể 99 con Voi cùng chầu phục các Vua Hùng. Dù sao thì cái ý tưởng của ngưòi xưa cũng đã được dựng lên từ những thực tế. Ví thử nếu không có những bộ tộc người Việt c ở phía Bắc, Tây Bắc luôn nhòm ngó, muốn chống lại Nhà nước Văn Lang thì người xưa đâu có cái ý dựa vào dáng núi mang hình con Voi này để dựng nên truyền thuyết núi Voi!...

Cũng từ thực tế địa linh này tôi chợt liên tưởng đến lời các Vua Hùng trong truyền thuyết “Chọn đất dựng kinh đô”. Vùng đất nằm giữa hai con sông Hồng Hà và Đà Giang (Tam Nông - Thanh Thủy), Ao Châu (Hạ Hòa), núi Thắm (Thanh Ba)... toàn là nơi phong cảnh hữu tình cả nhưng Vua Hùng chỉ chọn vùng đồi núi từ Nghĩa Lĩnh đến ngã ba Hạc để “Dựng nước được muôn đời”. Bên dưới tầng đất được coi là cội nguồn này, đất đá tầng cổ từ hàng triệu năm trước khi Nhà nước Văn Lang xây dựng kinh đô, nó đã là cái móng vững bền, vĩnh cửu. Xây dựng “lâu đài” (Nhà nước Văn Lang) trên cái móng thiên tạo ấy”... được muôn đời” là phải...

Hơn chục năm trở lại đây, thường vào dịp giỗ Tô Hùng Vương tôi có viết bài đưa in các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân... đa số các bài viết như: “V những ngọn núi          truyền thuyết” (Nhân dân cuối tuần 28-4-1996), “Kinh đô Văn Lang ở đâu” (QĐND thứ bẩy 8-5-1993). “   Công nghiệp     Quốc phòng thời Hùng Vương dựng nước’ (QĐND thứ bẩy 2-7-1994), Phát hiện khu di tích luyện quặng sắt cổ nhất nước ta (Nhân dân 1-9-1976)... Riêng bài “…nghề khai thác…” tôi gắn những tư liệu về di tích khai thác và luyện quặng sắt ở Tam Dương (Vĩnh Phúc) với truyền thuyết Thánh Gióng. Những mảnh đất nung (đồ dùng của người luyện sắt) có từ đầu kỷ nguyên tây lịch phù hợp với thi kỳ làm ra ngựa sắt Thánh Gióng. Sau một số bài kề trên, tôi nghĩ là trong kho tàng truyện dân gian, truyền thuyết rất phong phú về thời Hùng Vương dựng nước, chắc chắn vẫn còn nhiều chuyện được người xưa tạo dựng từ những thực tế lịch sử, ít nhiều đều có căn cứ khoa học (cố nhiên là ngoại trừ những sự kiện, tình tiết đã được thần thánh hóa). Mong sao khi đọc và nghe kể chuyện truyền thuyết, người đời sau đừng nghĩ nó ch đơn thuần là huyền thoại...

Vương Hồng


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.