NỘI DUNG CHI TIẾT
VÀI Ý KIẾN NHỎ VỀ ĐỔI MỚI TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC
6/17/2014


                       (Nhà văn Hồ Thủy Giang)

Đổi mới văn chương- cái mệnh đề dường như đã quá nhàm chán, đã quá bão hòa, vậy mà vẫn cứ phải bàn thảo, như một điều không thể khác.

Có lẽ không nên nêu ra câu hỏi đổi mới hay không đổi mới. Đó là điều dường như đã được khẳng định rồi. Không đổi mới cũng đồng nghĩa với sự suy tàn của văn chương. Vì vậy, chỉ nên thảo luận đổi mới như thế nào thôi.    

Tôi vẫn thường nghĩ, đổi mới có nhiều cấp độ. Đổi mới về bút pháp (lối viết, cách viết, cách dùng từ, bố cục…) là sự đổi mới của từng chủ thể sáng tạo, nghiêng về tính cá nhân. Thực ra sự đổi mới về bút pháp luôn chuyển động theo thời gian và diễn ra một cách khá tự nhiên trong từng người viết. Là người viết chân chính, không ai không có mong ước và ít nhiều đã từng thực hành đổi mới. Đổi mới bút pháp tuy âm thầm trong trái tim, khối óc của nhà sáng tác nhưng không bởi vậy mà không thực sự lớn lao. Thậm chí, đổi mới bút pháp ở từng người nhưng nhiều khi đã làm thay đổi diện mạo văn chương của một đất nước.

Nhưng sự đổi mới về phương pháp sáng tác, mang ý nghĩa trào lưu, khuynh hướng thì không đơn giản. Nó giống như một cuộc cách mạng- cách mạng văn chương. Không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước trên thế giới cũng từng diễn ra như vậy. Trong thời kì Thơ mới (1932- 1945), theo các nhà lí luận thì các nhà thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân sanh, Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ…đã làm nên một cuộc hòa điệu giữa tinh hoa văn hóa Việt Nam (truyền thống thi ca), Trung Hoa (Đường thi) với tinh hoa văn hóa Pháp (biểu hiện qua những phương pháp sáng tác lãng mạn, hiện thực, tượng trưng, ấn tượng, siêu thực…). Nhà lí luận phê bình Đỗ Đức Hiểu cũng có một nhận xét đặc sắc về hiện tượng này: “Thơ Mới là bản hòa âm của hai văn hóa cách xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ điển và hiện đại”. Đúng vậy, nếu không có cuộc hòa điệu ấy khó có thể hình thành phong trào Thơ Mới và nhóm Tự lực Văn đoàn, đại diện cho văn học lãng mạn Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ…).

Tuy sự tiếp nhận và biến đổi ấy chỉ trực tiếp diễn ra trong vòng hơn chục năm nhưng sự ảnh hưởng dài lâu của nó đối với văn chương Việt Nam là không thể chối bỏ. Nó giống như một cái cây non được trưởng thành. Ai đó đã có một nhận định: thơ Việt Nam là sự kéo dài của Thơ Mới. Và, những nhà văn như Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… và nhiều nhà văn tiếp bước sau đó luôn có sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp văn chương lãng mạn và hiện thực của Phương Tây. Đặc biệt là với Ngô Tất Tố, một người đã từng vất ngọn bút lông để rẽ sang con đường tân học.

Rồi, cho đến tận những năm đổi mới của đất nước (từ 1986), chúng ta mới lại bắt đầu có điều kiện tiếp xúc trở lại với các lí thuyết của văn chương hiện đại cùng lúc với văn chương hậu hiện đại của thế giới. Đó là một đặc thù ở Việt Nam. Như đã nói, đã là cách mạng (văn chương) thì chắc chắn khó tránh khỏi cái được, cái chưa được. Có cái thông thoáng bên cạnh cái hạn chế, và tinh hoa có thể lẫn cùng rác rưởi.

Hình như tình hình tiếp nhận lí thuyết văn chương thế giới ở Việt Nam đang có hai hướng trái chiều nhau. Một hướng tỏ ra dị ứng trước những gì được cho là văn học hiện đại, hậu hiện đại. Hướng khác lại quá vồ vập, coi các lí thuyết phương Tây như một liều thuốc quí hiếm có thể cải lão hoàn đồng cho văn chương Việt Nam. Từ đó, dẫn đến việc tiếp thu theo kiểu nguyên xi, vơ cả nắm, trong đó có cả những thứ mà ngay ở Phương Tây đã trở thành phế thải. Điều đáng nói là từ hai quan niệm đều khá cực đoan ấy chúng ta đã vô tình/ cố tình tạo ra những cuộc tranh biện không cần thiết, thậm chí mang mầu sắc chinh phạt lẫn nhau. Điều này chẳng mang lại ích lợi bao nhiêu cho giới cầm bút nếu không muốn nói là làm cho mọi chuyện phức tạp hơn. Trong nhiều năm nay, độc giả và các nhà phê bình vẫn thường nhăn nhó trước những tác phẩm quá mòn cũ về nhiều phương diện. Bên cạnh đó, chúng ta lại được chứng kiến nhóm này, nhóm nọ với những tác phẩm cổ xúy tuyệt đối cho các khuynh hướng Âu, Mỹ nhưng lại được bộc lộ một cách quá non yếu, thậm chí rất nông nổi trong các tác phẩm nửa vời.

Một quan niệm rất chính xác vể đổi mới mà nhiều nhà quản lí văn nghệ cũng như các nhà lí luận thường nêu ra là: văn chương nước ta cần giữ gìn bản sắc dân tộc và có sự tiếp nhận chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại. Nói vậy, nhưng chúng ta chưa thực hiện được một cách triệt để điều mong muốn ấy. Nhìn ra thế giới, chúng ta thấy đã thua các nhà văn Châu Mỹ La Tinh, và gần hơn là các nhà văn Nhật Bản một bước khá dài. Lối tiếp nhận văn hóa Phương Tây của các nhà văn Nhật rất độc đáo và tràn đầy tinh thần dân tộc. Đúng như ý kiến của nhà lí luận văn học Nguyễn Tuấn Khanh: “ở Nhật, cái mới không đuổi cái cũ đi mà chỉ ghép thêm vào cái cũ, và cái cũ lại làm nền cho cái mới phát triển” (dẫn theo nhà thơ, nhà lí luận Anh Chi). Sự lớn lao của các nhà văn Nhật chính là ở việc giữ gìn truyền thống. Các nhà văn như Kawabata, Noma Hiroshi, Kobo Abe…đều trưởng thành từ tinh thần ấy. Còn với các nhà văn Châu Mỹ La Tinh, trong nửa cuối thế kỉ XX họ đã tạo ra một bước nhảy vọt ngoạn mục khi kết hợp một cách hài hòa, tinh xảo giữa chủ nghĩa siêu thực Pháp với nguồn mạch huyền thoại, truyền thuyết đồ sộ của người da đỏ quê hương họ để sáng tạo ra chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Như vậy là họ đã không “hứng” văn hóa Phương Tây một cách máy móc mà có sự hòa điệu với văn hóa bản địa. Đó thực sự là một cách mạng lớn của văn chương Châu Mỹ la tinh. Nhiều tác phẩm viết theo khuynh hướng này đã làm lay động toàn thế giới mà những cái mốc lớn là trong một thời gian không dài đã có tới sáu nhà văn ở châu lục này đoạt giải Nô- ben.

Ở Việt Nam, bước vào thế kỉ XXI đã có một số nhà văn có sự ảnh hưởng của phương pháp hiện thực huyền ảo như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Đặng Thân, Đỗ Ngọc Thạch…Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, việc sử dụng các yếu tố huyền ảo trong truyền thuyết, huyền thoại của các nhà văn Việt Nam không triệt để để có thể trở thành bản chất của phương pháp hiện thực huyền ảo như các nhà văn Châu Mỹ La Tinh. Vì thế, có người đã đề xuất đặt tên cho khuynh hướng này của các nhà văn Việt Nam là “thi pháp hiện thực huyền ảo Việt tính”.

Viết điều này, xin bạn đọc không nên hiểu lầm tôi có ý định cổ xúy cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nhất là càng không có ý định mong các nhà văn, đặc biệt ở Thái Nguyên viết theo khuynh hướng đó. Đây hoàn toàn chỉ là một ví dụ về một cuộc cách tân lớn đã từng diễn ra trên hành tinh này mà thôi.

Có một sự thật, tuy chủ nghĩa hiện đại không còn tồn tại như những triết thuyết nhưng những yếu tố, tư tưởng- nghệ thuật, những chuẩn mực mĩ học, nhưng vấn đề kĩ thuật… của một phương pháp sáng tác dường như vẫn còn mãi tươi xanh. Những dư vang của các tác phẩm của Paul Eluard, Aragong, Masson, Marcel Proust, Franz Kafka …và sự lên ngôi của văn học Mỹ la tinh là những minh chứng hùng hồn.

Không thể phủ nhận là ở ta thường chậm bước trước những đổi mới. Sự trơ lì hoặc ngược lại, sự bước quá đà, mốt thời thượng hình như luôn là những đặc tính của một số nhà văn, nhà lí luận ở ta? Chính bởi vậy, chúng ta luôn phải đối mặt với sự phiến diện và vượt ngưỡng. Một ví dụ, khi văn chương hậu hiện đại đề xuất 5 khuynh hướng sáng tác (huyền ảo, cực hạn, phân mảnh, giễu nhại, giả trinh thám) thì ở nhiều nước người ta đã có không ít các nhà văn thành công khi ứng dụng các khuynh hướng này trong tác phẩm. Còn ở ta, nếu tôi không lầm thì các nhà văn chưa có mấy người thử bút, trừ khuynh hướng giễu nhại vẻ như được ưa chuộng hơn cả (cũng có thể có một nguyên nhân là xu hướng giễu nhại đã từng hiện diện theo kiểu Việt Nam trong văn chương nước ta). Nhưng như chúng ta đã biết giễu nhại là một khuynh hướng sáng tác mà nếu người viết thiếu bản lĩnh, thiếu cái tâm, thiếu chọn lọc sẽ dễ bị sa đà, thậm chí gây hại. Các ý nghĩa về giải thiêng, phủ nhận trung tâm, xóa bỏ “đại tự sự”…trong giễu nhại nói riêng và văn chương hậu hiện đại nói chung nếu không đi liền với tâm thức về truyền thống lịch sử, văn hóa, tâm lí người Việt…sẽ dễ trở thành phản đổi mới, quay lưng lại với đất nước, dân tộc. Trên thực tế, đây đó đã từng diễn ra như vậy.

Trong một hội nghị nhỏ của các bạn viết trẻ tỉnh nhà vừa qua, tôi có nêu một vài quan niệm cá nhân về sự đổi mới. Có bạn trẻ hào hứng, cũng có những suy nghĩ khác. Trong văn chương đó là chuyện hết sức bình thường. Bởi vì đổi mới văn chương là thứ hoàn toàn có sự tự do lựa chọn. Không phải chỉ ở ta, mà nhiều nước trên thế giới cũng vậy. Có nhiều nhà văn rất coi trọng các phương pháp, các khuynh hướng sáng tác, coi như một thứ kim chỉ nam. Ngược lại, có những nhà văn không hề để tâm đến chuyện này. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hồng Hạnh thì nhà văn Cao Hành Kiện (Giải Nô-ben năm 2000) đã từng đưa ra quan niệm sáng tác “không có chủ nghĩa”. Và nhà văn đồng ý kiến với Cao Hành Kiện chính là Mạc- Ngôn (nhà văn đoạt Giải Nô- ben năm 2012). Các nhà văn này thường “xem trọng tác phẩm, không nghĩ tới chuyện dán cho mình cái nhãn hiệu chủ nghĩa” (Cao Hành Kiện). Họ không muốn bị ảnh hưởng bất cứ một ngoại lực nào. Vậy mà các tác phẩm của họ vẫn rất lớn.

Gần đây có một sự kiện văn học rất đáng chú ý, đó là cuốn sách “Văn chương lâm nguy” của nhà nghiên cứu lí luận văn học Tzvetan Todoro (người Pháp gốc Bunlgarie) được dịch và xuất bản tại Việt Nam. Có thể nói, cuốn sách đã làm thức tỉnh khá nhiều các nhà văn, các nhà lí luận, các nhà giáo ở Việt Nam khi luận điểm chính của cuốn sách cho rằng văn chương lâm nguy là do chúng ta đang đẩy nó tới những gì thuộc về hình thức, những uốn éo của ngôn từ, những ma trận của cấu trúc…những thứ dành cho ngành nghiên cứu văn học nhiều hơn chứ không dành cho mọi người. Tôi rất đồng quan điểm với nhà văn Lê Hoài Nam qua bài giới thiệu, bình luận của anh về cuốn sách trên: “Những nhà văn vì chạy theo mốt thời thượng, vì háo danh, muốn thu hút sự chú ý để nhanh nổi tiếng, tạo ra một lối văn khác lạ, coi trọng hình thức, xem nhẹ nội dung, quay lưng với hiện thực cuộc sống, đã và đang làm biến dạng, biến tướng văn chương, khiến văn chương ngày càng đi ra khỏi bản chất nhân đạo vốn có của nó” (Báo Văn nghệ số 29 ra ngày 20/7/2013).

Tôi chợt nhớ một câu nói đùa mà thật cách đây ba mươi năm của nhà văn Lê Lựu. Ông bảo thế này: bây giờ người ta cứ thích phải đổi mới theo phương pháp này phương pháp nọ, đòi hỏi tác phẩm phải có đủ tính này tính kia, nhưng có mỗi cái tính cần nhất là cái “tính hay” thì người ta lại quên. Cái 'tính hay” ở đây, theo tôi, chính là sự biết làm nên những giá trị nhân đạo, nhân văn trong tác phẩm, là những thứ luôn gắn với con người. Thật chí lí! Các bút pháp, phương pháp là phương tiện để làm nên cái “tính hay” mà lại mất nó thì thật kì khôi và vô nghĩa. Không phải ở đâu khác mà ở chính Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh cũng có một vài nhà văn cho rằng rồi đây người ta sẽ quên dần các khuynh hướng hiện đại, hậu hiện đại để quay về với lối tự sự cổ điển kiểu Đôn Kihôtê (thế kỉ thứ XVII).

Từng có hàng trăm quan niệm không giống nhau, thậm chí trái chiều, nhưng tinh thần đổi mới chân chính thì luôn giữ nguyên giá trị. Nó hoàn toàn không phải là thứ phù phiếm. Có điều, đổi mới là để văn chương càng đi vào trái tim người hơn chứ không phải sự ngoảnh mặt làm ngơ của họ. Nếu không, quả thật văn chương sẽ lâm nguy đúng như Tzvetan Todoro đã cảnh báo.

Văn chương thế giới nói chung và văn chương Việt Nam nói riêng có được những thành tựu như ngày hôm nay chính là nhờ ở sự đổi mới/.

 

                                                          Khai thác: Nguyễn Thị Lâm


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.