NỘI DUNG CHI TIẾT
CÁI TÂM, CÁI TẦM CỦA NGƯỜI CÓ CHỮ
7/22/2014


Trong “Từ điển tiếng Việt” do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, hai từ “trí thức” và “trí giả” không có nghĩa khác nhau là mấy. Từ “trí thức” được dùng để chỉ  chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần “người thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”. Định nghĩa này hoàn toàn không có gì cần phải bàn bạc nữa. Còn từ “trí giả” được định nghĩa như sau: “Đó là người có trình độ học vấn uyên thâm, hiểu biết sâu rộng”. Tức là theo đó, trí giả chỉ khác trí thức ở mức độ sâu và rộng của trình độ hiểu biết. Cá nhân tôi cảm thấy về điều này chúng ta cần phải nói thêm một vài điều. Không phải bao giờ một trí thức cũng vươn lên được tầm trí giả.

Thực tế lịch sử cho thấy, không phải người có chữ nào cũng sẵn sàng nhập thế, đặc biệt là trong những thời nhiễu nhương. Đã có không ít những chí sĩ vì không giúp rập được cho đời đã phải ngậm đắng nuốt cay lui về ở ẩn để giữ vẹn đạo lý hằng tin. Khổng Tử từng nói: Có một số người hiền tài đã trốn tránh hiện thực xã hội ô trọc để đi vào cuộc sống ẩn dật. Cách chạy trốn thấp hơn một bậc là di cư sang địa phương khác. Cách thấp hơn nữa là lảng tránh gặp người khác. Cách thấp hơn nữa là tránh không nghe những lời nói ác độc của người khác…

Ở Việt Nam xưa, danh thần Chu Văn An đã từng được vua Lê Dụ Tông vời ra kinh đô, cho ở ngôi Quốc tử giám Tư nghiệp, dạy dỗ thái tử. Thế nhưng, lọt vào thời buổi nhiễu nhương, vốn người ngay thẳng, không nói không chịu được, ông đã dâng “thất trảm sớ” lên vua Lê Dụ Tông với mong muốn những kẻ tà tâm sẽ bị trừng trị. Tuy nhiên, nhà vua u mê đã không nghe theo lời trí giả. Và Chu Văn An đã đành rũ áo từ quan về ở ẩn trên núi Phượng Hoàng ở Chí Linh... Người đời sau đã ca ngợi ông qua đôi câu đối thờ: “Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc/ Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong...”. (Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là cái thú vui của bậc hiền giả?/ Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân!).

Công bằng mà nói, những người có chữ như vậy rời thế rồi, trong lòng vẫn đau đáu nỗi niềm thương đời. Ở đây có thể nhớ lại Nguyễn Trãi, khi đã về ở ẩn Côn Sơn vì quá hiểu lẽ đời ấm lạnh  Thế nên nhưng vẫn không nguôi được khao khát muốn giúp dân, giúp nước. mới có những câu thơ như trong bài Vãn lập (Buổi chiều đứng trông): “Trường thiên mạc mạc thủy du du/ Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu/ Tiện sát hoa biên song bạch điểu/ Nhân gian lụy bất đáo thương châu...”. (Trời bao la vắng lặng, nước trôi man mác/ Lá vàng rụng khắp núi sông, báo cảnh thu tàn/ Lòng thèm được như đôi chim trắng bên hoa/ Cái lụy nhân gian không đến được chỗ ẩn của bậc ẩn sĩ)...

Tưởng đó là niềm kiêu hãnh của bậc ẩn sĩ trốn được cái lụy của nhân gian, nhưng thực ra lại là nỗi niềm đau vô tận vì không giúp được cho nhân gian bớt lụy phu dù... Trong bi kịch cuối đời của Nguyễn Trãi cũng có lý do xuất phát từ sự tận tụy của ông đối với cuộc  thần... Và đời chứ không phải bởi ham muốn thêm một lần trở thành trọng đau đớn thay, tấm lòng vằng vặc sao Khuê ấy đã chỉ mang lại cho ông danh thơm muôn thuở chứ không cứu được mạng sống trần gian cho dòng họ Nguyễn...

Tấm lòng của sĩ phu, của những bậc hiền tài đích thực luôn là như thế... Chẳng qua nếu họ bắt buộc phải chối từ nhập thế hay tự nguyện rời thế vì sợ mình không được như sen, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhiều hiền tài, nhiều người có chữ đã chọn con đường nhập thế và kiên trì bám thế, kiểu gì, hoàn cảnh gì thì cũng vẫn lao vào cuộc sống. Nhưng không phải ai có chữ cũng có được cách nhập thế đáng được khâm phục, dù không hẳn đã là đáng trách...

Tuy nhiên, trong thời đại nào cũng vậy, ở nơi nào cũng vậy, giữa những người có chữ trong đầu bao giờ cũng tồn tại hai cách hành xử đều có thể lương thiện cả khi nhập thế: Một đằng là lao vào việc đời mang tinh thần dâng hiến, tức là chú trọng giúp những người khác; đằng kia là tham gia thế sự chủ yếu để mang danh lợi cho mình, tất nhiên khi làm như vậy, họ cũng hoàn toàn có thể mang lại lợi ích cho đồng loại nhờ những thành quả lao động trí tuệ hợp pháp của họ. Không thể nói là làm thế nào thì tốt hơn hay đáng trọng hơn nhưng mỗi một người có chữ trong đầu cần phải lựa chọn lối đi riêng hợp với tâm nguyện và khả năng mình nhất.

Xã hội hiện thời có không ít những trí thức bằng cấp đầy mình, rất biết lựa cục diện tương quan môi trường mình sống để đạt thành công. Họ có thể không làm việc gì xấu cả nhưng họ có thể cũng không làm việc tốt nếu việc tốt đó không mang lại cho họ lợi ích thiết thực... Đó là những trí thức có thể không có tội nhưng không bao giờ là người khả kính. Những trí thức không có tâm và tầm xứng đáng với những kiến thức mà họ đã thu nhận được...

Thế nhưng, xã hội hiện thời cũng vẫn có những trí thức hành xử theo cách khác: họ không sợ nguy hiểm nếu như họ cảm thấy điều họ nói, việc họ làm là có lợi cho sự nghiệp chung, cho đất nước và dân tộc. Những người này bây giờ cũng rất được tôn vinh và hơn thế nữa, lắm lúc còn được tín nhiệm giao cho những trọng trách. Những người này xứng đáng được gọi là bậc trí giả, những người luôn ý thức được rằng, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”...

Làm một trí thức bình thường một cách trung thực và tận tâm đã là điều đáng quý lắm rồi. Và mặt khác, cũng phải thấy rằng, không chỉ có những ai có nhiều bằng cấp mới là trí thức. Giá trị của con người là ở những kiến thức về cuộc sống thực tế và cách áp dụng những kiến thức đó vào việc làm giàu có hơn cuộc đời này, giúp cho đồng loại đỡ vất vả, khốn khó hơn, giúp cho tập thể của mình, xã hội của mình trở nên phồn thịnh và có điều kiện mà hành động tử tế hơn. Tôi đã từng thấy có người do hoàn cảnh riêng đã không theo học được đến đầu đến đũa lớp chính quy nhưng nhờ trí tuệ bẩm sinh và cố gắng rèn luyện cũng như lao động quên mình đã trở thành chuyên gia thực sự tài giỏi trong chuyên môn và gây dựng nên sự nghiệp rất đáng vì nể. Không những thế, họ còn biết cách vượt qua mọi trở ngại, hạn chế của thời thế để không chỉ làm nhiều việc công đức nhất mà còn bảo toàn được sự khí khái, đức độ và tính nhân nghĩa của mình, bất chấp mọi biến thiên của hoàn cảnh.

Những người như thế đáng được gọi không chỉ là trí thức mà phải là bậc trí giả, dù có thể họ cho tới hôm nay vẫn không có một tấm bằng chứng nhận học vấn cao cấp nào trong túi. Thiên chức của họ là làm việc, làm việc, làm việc một cách sáng tạo, ngoan cường và thẳng thắn vì sự nghiệp chung. Chuẩn hóa cán bộ là phải nhìn vào chất lượng công việc chứ không nên chỉ nhìn vào những cái dấu xác định chất lượng, vì ai dám đoan chắc rằng, cái dấu xác định chất lượng nào cũng thực sự có chân giá trị?!

Ngại nhất là những ai cố dán lên mình nhiều bằng cấp nhưng khi giao cho những công việc chuyên môn sâu thì làm chẳng ra đâu với đâu cả. Hay khi cần phải bày tỏ quan điểm chính trực của thời đại mình thì lại đánh bài lảng tránh, ấp úng ngậm hột thị vì sợ trái ý người có thể “tán lộc” cho mình. Những người này thường coi danh hiệu trí thức hay các học vị như đồ trang sức và thường cảm thấy rất đắc chí khi những bậc chân tài thua họ về số lượng bằng cấp hay học vị đã thu nhận được. Những người như thế thì không bao giờ vươn lên được tầm trí giả và ngay cả cái từ “trí thức” đối với họ cũng có lẽ là tên gọi quá xa xỉ...

Trí thức là người có chữ. Trí giả là người có chữ, sẵn sàng chấp nhận mọi cảnh ngộ trên đời, miễn là không phải làm việc trái với những đạo lý mà mình được truyền thụ. Bậc trí giả luôn thức thời nhưng không bao giờ trở thành kẻ xu thời được. Đấy mới là đấng quân tử, vì như Luận Ngữ nói: “Quân tử bền gan chịu cảnh cùng, không vì cùng mà làm bậy”...

Theo báo ANTG

 

 

 

 

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.