NỘI DUNG CHI TIẾT
ĐỌC: “MẢNH VƯỜN THAO THỨC”
7/23/2014


Thơ Nguyễn Thế Yên, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2014

                                                                                    NGUYỄN ĐÌNH PHÚC

ở đời, việc gì cũng vậy, chưa biết thì chưa sợ. Người ta bảo điếc không sợ súng là như thế. Ở làng thơ cũng vậy. Khi được trải nghiệm, tiếp xúc, học hỏi nhiều với cây cao bóng cả, đọc thơ họ, hiểu được tầng tầng lớp lớp kiến văn sâu thẳm, mà tác phong lại khiêm nhường đến cổ kính của họ,  tôi mới thấy nể sợ thơ. Ấy là thơ đích thực. Biết sợ, là biết giới hạn thơ mình đang ở đâu, là biết người biết ta, để mà rèn giũa trong sáng tác.

Được gặp Yên, chuyện trò tâm giao, có lần tôi hỏi, thơ Yên được lắm, thế mà tại sao ở tuổi ngoài năm mươi mới in tập đầu đời “Giọt lắng”. Yên giọng rụt rè bảo: Em sợ, sợ gì? Sợ thơ mình chưa tới, chưa hay, chưa đâu vào đâu cả. Thơ em chủ yếu giữ lại cảm xúc, tình yêu, nỗi đau và luyến nhớ một cõi riêng mình. Tôi cười, bảo: Biết sợ thơ là biết thơ hay dở, là cảm được thơ, là cả một quá trình của đam mê và nhận thức đấy. Sợ thơ còn là tâm thế của kẻ viết, của kẻ sĩ trong hành trang dằng dặc văn chương  đời người.

Sau tập thơ “Giọt lắng” anh được kết nạp là Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ. Cuối năm được tỉnh trao giải C. Anh đã có chùm thơ in trên tuần báo Văn nghệ và nhiều báo, tạp chí khác. Tôi quý anh cũng là vì thái độ ấy đối với văn chương. Yên chấp nhận thử thách và khiêm nhường học hỏi, người như thế, có thể đi xa trên đường thơ đích thực đã  lựa chọn!

Ngoài đời, ít khi thấy Yên tranh luận văn chương, mà nếu anh có nói, có tranh luận, tôi thấy anh có lý rõ ràng. Bằng cứ cuối năm 2011, khi anh in tập thơ đầu tay “Giọt lắng”, Nxb Hội Nhà văn. Tự thấy có phần vội vàng, thì giữa năm 2012 đã thấy anh hì hục, sửa chữa, tái bản tập thơ này. Yên bảo, em tái bản là để đính chính, tạ lỗi với bạn đọc, đồng thời rút ra bài học đáng nhớ cho mình. Tôi dám chắc chẳng mấy ai lại tự bỏ tiền túi, bỏ công sức để in lại ngay tập thơ vừa xuất bản, vì không hài lòng như Yên, mặc dù kinh tế gia đình anh chẳng dư dật gì.

Đọc 39 bài thơ, trong tập “Mảnh vườn thao thức” vừa xuất bản đầu năm 2014 này: Không còn cái nhớn nhác, cái ngầu ngậu, oán trách cuộc đời oan trái, bất công và tâm trạng bời bời như ở tập trước. Thơ anh ở tập sau, điềm tĩnh hơn, nguôi ngoai hơn sau nỗi đau liên tiếp đổ xuống gia đình anh. Tuy nhiên vẫn thấy ở Yên sự thảng thốt phận người, phận đời gửi vào câu chữ, vừa là sự giãi bày cảm xúc nghiệt ngã nhân thế, vừa là cuộc trốn chạy sự giằng xé nội tâm, ẩn dật nỗi đau định mệnh. Nó cũng làm cho anh chênh chao, khốn khổ nhưng cũng dễ khiến cảm thông hơn, hiểu thơ anh hơn. Nói không ngoa rằng, cái tạng thơ anh nó vốn thế.

Trong thơ, lúc ta thấy anh vừa như e dè lo lắng, vừa như hồi hộp cuống quýt trước cái mới lấp ló, mới ra đời:

Lộc nằm buốt một cõi chờ/ Chồi trên mắt rét còn ngờ nõn xanh…

Hay

Kén vàng treo ngược cành lê/ Nghe hương cúc cuống cà kê đạp đầu (Tình xuân).

Lúc lại thấy lạnh buốt từ những hiện tượng đi, ở của tự nhiên mà xao cảm phận người:

Bên những lá vàng nằm thanh thản/ Sấp ngửa nhiều những chiếc còn xanh/ Có chiếc lá lìa cành tức tưởi/ Chiếc lắt lay rơi mãi chẳng yên bề (Đi trong nghĩa trang nghĩ về oan hồn).

 Lúc cuồn cuộn va xiết bởi hiện tượng mưa gió thất thường gây hậu quả khôn lường, mà do con người tòng phạm gây ra cho trái đất:

Mưa/ Đất trời đằm xuống/ Giọt giọt rơi háo hức về nguồn/ Vừa chạm núi đã đỏ dòng thác lở/ Băng băng về cõi không màu (Dòng sông đất).

Lúc ta thấy anh hụt hẫng, bất bình cái trò chơi “bắt, thả”, trước cảnh phóng sinh quanh quẩn. Câu thơ như điệp khúc cảnh tỉnh, như tiếng chuông chùa thảng mặc, cứ lịm dần, lịm dần:

Vẫn cánh đồng hôm trước/ Vẫn đàn chim hôm trước/ Lại mắc lưới sa chân/ Lại sang chùa ban phúc/ Bắt - thả/ Bắt thả/ Bắt - thả/ Đàn chim/ Vơi dần/ Vơi dần/ Vơi/ Dần… (Phóng sinh).

Lúc lại thấy anh hớt hải trong mộng ảo:

Ta còn em/ Bóng chàm trong mộng/ Tự núi nào thả xuống đày đọa ta/ Đi tìm em ngược đường xưa ngày cũ/ Giữa tim mình mà như lạc bến xa (Bóng chàm).

Chỉ thế thôi cũng có thể khẳng định, người thơ này thật mong manh trong cảm xúc. Đọc thơ anh, cảm giác thấy những hiện tượng thiên nhiên, mưa gió hay phận người, tái hiện nhiều lần trong tập. Anh run rẩy và đồng hiện với chúng ở trên mỗi trang thơ. Thơ tuy ít nói về gió, nhưng đâu đó cứ như nguồn cơn của những biến động, trong biến đổi hay ghi nhận tâm trạng của nhân tình thế thái. Ta luôn bắt gặp những cơn gió đang lay động cõi hồn ta, day trở ám ảnh, trong từng cung bậc và trạng thái của thơ:

Tết này anh về thúc lửa/ Ôm nồi bánh chưng/ Chín nhừ ngày ly biệt/ Trời tây/ Lại tuyết rơi/ Khoảng trời quê/ Lá rơi… (Bên nồi bánh chưng quê).

Cái thảng thốt của cách biệt: Anh về nhà ăn tết, bởi chẳng mấy khi ở trời Tây anh về, bên nồi bánh chưng mà như chưa hẳn anh đây, như anh còn đi mù tăm, chỉ còn tiếng của gió, của tuyết rơi hay tiếng lòng khắc khoải vọng về.

Đạt được sự thảng thốt trong thơ anh như thế, chính là chạm đến đáy mong manh của cõi hồn, như nhập nhòa tìm cái gì đó, mất cái gì đó, thừa cái gì đó, thiếu cái gì đó, đến vơ vẩn. Nó cho tôi cảm giác nhiều khi những hiện tượng bất thường của cảnh vật trực giác tâm trí Yên như một thứ hàn thử biểu. Đọc thơ Yên tôi bỗng liên tưởng đến câu thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh “Tôi như cây biết giấu lá vào đâu/ Nếu giấu lá thì không còn bóng mát/ Bóng mát mà không che nổi chính tôi”. Yên cũng như một thứ cây, mưa sa bão táp ngoài đời ập xuống, cứ lơ ngơ hứng chịu bị vùi dập. Nhưng không còn bóng mát thì cây đâu còn là cây nữa. Nhưng đã chấp nhận phận là cây thì đâu cần giấu lá. Con người cần tâm thế của cây đời, cần phải học ở cây, chấp nhận dãi dầu thân phận thử thách để dưỡng tâm dưỡng trí. Đạt đến cái tận cùng thiên nhiên như cây, chính là đạt đến cái “ngộ” của đạo lý.

Yên có cách đặt tên các bài thơ trong tập như những cơn gió hỗn mang vọng động, tuy không gọi tên nhưng ẩn ức bắt ướt trên lá cành, tâm trạng:

Đảo bọt, Dòng sông đất, Vũng Tàu đêm ngược sóng, Cánh hoa bạt gió, Cánh đồng hao gầy, Cô đơn em, Bóng chàm, Niềm tin đi hoang, Trốn đông, Đáy hồ mặt phố…

Đứng trong nghĩa trang có con mình, Yên tưởng tượng thấy ngổn ngang mộ chí, những người chết như còn phiêu bạt, những oan hồn còn đang la hét, anh bật lên câu thơ như xoáy lốc vào địa mộ:

Họ đã yên nơi vĩnh hằng cội lạnh/ Hay tai ương, địch họa vẫn theo về/ Và trên đầu ai cầm gió bẻ cây/ Ơi nhân thế - cõi trần - ôi nhân thế (Đi trong nghĩa trang nghĩ về những oan hồn).

 Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, mang suốt đời tật bệnh đau đớn. Anh đã tìm được nguồn cảm hứng từ thơ, vin vào thơ để sống đẹp trong nghệ thuật sáng tác. Bắt nhịp vào lục bát, thể thơ quốc hồn quốc túy của dân tộc, anh say sưa chiêm nghiệm với thơ, rút ra cái nghiệm số để sống chậm, để như kéo dài tuổi thọ ý nghĩa cuộc sống. Với Yên, cũng bằng những câu thơ tìm tòi, mượn cái nhâm nhi, tí tách từng giọt cà phê mỗi sáng để suy ngẫm sự đời, cân chỉnh tư duy, lẽ đời, xoa dịu nỗi đau và tìm về cái thiện của bản ngã. Sống chậm để thao thức, để cởi lòng, để tin yêu, thư thái hơn:

Cà phê/ Phấn khích một ngày mới/ Đời cứ trôi/ Ta sống chậm hơn/ Bên bè bạn cởi lòng/ Yêu thương tìm sâu lắng/ Giấc đơn côi như được vỗ về  (Cà phê chậm).

Với “Mảnh vườn thao thức” anh đã có tập thơ, góp tiếng thơ run rẩy những lẽ đời, mong manh thân phận những cảnh đời ngang trái, niềm thơ day dứt, thiện tâm và xao động. Thơ anh tuy ít tính can dự thời cuộc nhưng yêu ghét rõ ràng… Gam thơ đậm màu xám mà vẫn thấy yêu mến, thiết tha cảnh vật, được tận sống bởi nhịp thơ hối thúc. Trong đời sống mưu sinh bày biện, đã có sự lạnh nhạt nhiều với văn chương, cái vô cảm bao trùm đâu đó, thơ anh còn như tín hiệu “Ngược sóng”, thức tỉnh về cách hành sử giữa con người, và con người với vạn vật thiên nhiên.

 Tôi trích mấy dòng thơ cuối dưới đây, chúng tự nói phần nào về lối viết, lối cảm, hay phong cách thơ của anh trong tập:

Hoa xoan hé nụ mong manh/ Đã mơ ngày rụng và lành đất quê (Tình xuân).

Dã tràng xe cát cả đời/ Ru ta nguôi những khóc cười đắng cay/ Lặn bơi vùng vẫy mê say/ Đâu trong ngấn nước tháng ngày mồ hôi (Tắm biển).

Hội chiều bóng núi đổ theo em/ Ngơ ngẩn mình ta cuối con đường/ Giếng Ngọc lỡ in hình với bóng/ Để hồn theo cả bước người dưng… (Em lên Đền Hùng).

Em hái từ đông lạnh/ Nụ hoa sen hồng/ Như ngắt về hơi thở đầm sen/ Có bóng hình người con gái chở đầy thuyền hoa/ Dưới trăng khuya cóng lạnh mặt hồ… (Trà sen Tây hồ).

Ơi sơn nữ/ Vườn xuân chưa thành lối/ Loài hoa xanh hoang hoải đến bao giờ/ Sao không bỏ bùa ta buổi ấy/ Hú ta về làm bóng cả rừng em (Bóng chàm).

 Đấy là Yên đấy, Yên mà nào có yên được đâu, thơ anh thảng thốt, lãng mạn và cô đơn lắm. Khi Lãng Thanh viết: “Sống giờ đây em sống thiếu cô đơn/ Cô đơn nhỏ nhoi là hạnh phúc/ Em mang nợ tháng ngày cô đơn/ Phút giây được là mình, không gian thuộc về mình, nguồn gốc đam mê và sáng tạo” ta thấy tính dự báo và đúc kết triết lý sống đến cô đọng, thì có thể coi sự cô đơn run rẩy thơ anh nó như vốn tự có rất cần cho rung cảm tự nhiên của cõi thơ, của thi sỹ. Và nếu trách rằng, thơ anh lãng đãng, tản mát, mạch thơ còn rời rạc, tứ thơ lan man, thì cũng là chuyện bình thường, vì cái tâm cái tính nó vốn thế. Anh là một thứ cây mà, sợ đấy, run rẩy đấy, thảng thốt đấy, nhưng là cây ở “Mảnh vườn thao thức” - Mảnh vườn thơ khao khát. Nếu phải khuyên một câu gì đó thì mong thơ anh, chú ý mở biên độ thơ, chú trọng tính tư tưởng, tính can dự thời cuộc lớn hơn, mạch thơ cần sáng sủa hơn. Xin chúc anh, thẳng đường thơ đã chọn.

                                                                                                          N.Đ.P


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.