NỘI DUNG CHI TIẾT
CÁNH ĐỔNG HUYỂN THOẠI
7/28/2014

 

 

 

Tôi không có ý định đi tìm xuất xứ của những cái tên mà người xưa đã chọn để đặt cho một cánh đồng rộng tới ba ngàn mẫu ở gần b trái sông Thao này. Nhưng huyền thoại về người phụ nữ dòng dõi quí tộc (nay chỉ còn biết họ mà không rõ tên) đã rời chốn thị thành, đô hội lên vùng đất phía Nam kinh thành Văn Lang xưa để khẩn hoang, mở đất lập nghiệp... cứ ám ảnh mỗi khi tôi có dịp về làng. Làng tôi cách xa cái rốn chũm cánh đồng Tam Thiên Mẫu đến 8 cây số" nhưng cho đến bây gi người làng tôi vẫn còn ruộng và cấy lúa chiêm ở đó. Tám xã của huyện Lâm Thao và bây giò có thêm một xã ở bãi giữa sông Hồng thuộc đất Ba Vì, Hà Tây đang hưởng lộc của bà Chúa đồng, nhưng duy nhất chỉ có Thụy Vân còn giữ tập tục dâng hương tưởng niệm ngươi có công mở đất vào ngày bà Chúa qui tiên. Sau trận lũ lụt năm t Dậu đền thờ bà ở thôn Nỗ Lực (Thụy Vân, thành ph Việt Trì) chỉ còn một vài di vật: long ngai, bài vị... với những dòng chữ chạm khắc nổi trên bài vị: “Đức phi Nguyễn Thị, Hiệu ứng linh nghiệm”. Ngọc phả và sắc phong “Thánh mẫu - Chúa đồng Long Trầm, thành hoàng làng Nỗ Lực” của các triều đại từ nhà Lê đến nhà Nguyễn đã bị nước lũ cuốn trôi từ năm 1945, nhưng nhiều thế hệ nông dân ở Thụy Vân, Cao Xá, Vĩnh Lại, Tứ Xã, Sơn Vi,... (Phú Thọ), Tân Đức (Hà Tây) vẫn truyền đời kể cho nhau nghe về công đức của bà Chúa đồng.

Trên 60 lão nông, già làng tuổi từ 70 đến 96 ở Thụy Vân cùng đại diện Đảng, chính quyền, các hội nông dân, người cao tuổi, phụ nữ, Đoàn thanh niên hai xã Thụy Vân, Tân Đức đã dự hội thảo (do ủy ban Mặt trận T quốc và Ban trị sự khu di tích lịch sử - văn hóa đình Nỗ Lực phi hợp tổ chức) sau lễ dâng hương ngày 26 tháng chạp Bính Tý. Theo ông Phan Minh Khai cán bộ hưu trí, người có công đầu trong việc tổ chức khôi phục di tích lịch sử văn hóa đình làng Nỗ Lực (nơi th hai vị tướng có công giúp nước dẹp giặc: Nhị vị đại vương thượng đẳng thần Hộ Tống và Viết Bô, nay ông Khai là trưởng ban trị sự khu di tích lịch sử - văn hóa (đã được Nhà nước xếp hạng năm 1993) thì hội thảo để khôi phục di tích lịch sử về bà Chúa đồng, đến nay mới tổ chức là muộn. Những di vật còn lại về bà Chúa đồng đã được tập kết về ngôi miếu nhỏ bên cạnh đình thờ nhị vị đại vương. Nhưng để có một văn bản chính thức thay cho ngọc phả đã mất, phải nhờ đên các cụ lão nông, già làng những người vốn sẵn cái tâm hướng về cội nguồn và từng làm cái việc nối thông tin giữa các thê hệ để con cháu đời này qua đời khác luôn nhớ đến công đức của Người đã vì dân, vì nước, tự nguyện rời khỏi kinh đô, nơi vinh hoa phú quý lên sống với dân nghèo nơi đồng hoang, bãi vắng mỏ đất lập nghiệp, cứu giúp nông dân thoát khỏi đói nghèo...

Hai sáu tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng trong năm của làng tôi nên gọi là chợ Tết. Con đường từ đê Nỗ Lực vào chợ Tết Thụy Vân đông như trẩy hội. Bà con từ các xã lân cận và từ bên kia sông Thao, tấp nập đ dồn về chợ. Ngược dòng người đang hăm hở, vội vàng đi sắm hàng Tết ấy, có những ông già, bà lão y phục lễ hội cùng đi với cháu, con đến lễ dâng hương bà Chúa đồng. Gặp tôi về hội thảo (thật ra tôi chỉ là người được báo về để nghe các bô lão kể chuyện và giúp ban Trị sự ghi lại những li người xưa truyền lại), nhiều cụ cảm động nói: “Hơn 50 năm, nay mới có một lần được nói giữa làng, được nghe những lời tâm huyết của cha ông ta xưa về chuyện uống nước nhớ nguồn...”. Cụ Phùng Văn Kỳ một trong những người cao tuổi nhất xứ đạo, là thân sinh cha xứ Phùng Văn Tôn xúc động nói: “Bà con bên giáo chúng tôi thờ Chúa nhưng trong lòng vẫn nhớ công đức của bà Chúa đồng, Người đã để lại cho nông dân bên lương bên giao hàng trầm mẫu đất. Chúng ta phải có trách nhiệm khuyên bảo con cháu luôn nhớ đến ơn đức của bà...". Ông Đỗ Đức Dục Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Tân Đức - Ba Vì- Hà Tây nói: Thời buổi kinh tế thị trường bây giờ, nhiều người chỉ lo cho hôm nay và cho ngày mai, tính chuyên làm giàu, kiếm tim danh, lợi cho riêng mình và thân nhân của họ. Hội thảo về bà Chúa đồng sau lễ dâng hương hôm nay là nguyện vọng của đông đảo bà con nông dân Thụy Vân và Tân Đức chúng ta. Chúng ta cách sông, là người của hai tỉnh nhưng ở gần nhau, bà con với nhau, thân thiết từ lâu. Thụy Vân đã san xẻ lc của bà Chúa đồng cho dân Tân Đức chúng tôi. Mười tám mẫu ruộng từ đồng Long Trầm do Thụy Vân chia cho những cô gái đi Tăn Đức làm dâu ở bãi giữa sông Hồng này là lộc của bà Chúa đồng. Hàng vụ, hàng năm bà con chúng tôi vẫn vượt sông Thao sang cấy, gặt ở đồng Chắc Ngậm. Đảng ủy, chính quyền, mặt trận, các đoàn th và bà con Tân Đức chúng tôi được về dự lễ tưởng niệm và hội thảo là một vinh dự lớn. Chúng tôi mong rằng sau hội thảo này, công việc hoàn tất tư liệu về thân thế, công trạng của bà “Đức phi”, cũng như việc khôi phục di tích lịch sử văn hóa này sớm được thực hiện đ ngày này năm sau, bà con nông dân không chi hai xã Thụy Vân, Tăn Đức mà tất cả các nơi đã và đang hưởng lộc của bà đều có mặt ở đây...”.

Những li bộc bạch, chân thành của ông Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc một xã ngoại tỉnh, nơi mà cả xã chỉ được hưởng lộc có 18 mẫu ruộng, hình như có chạm mát ông cộng tác viên Hội văn nghệ dân gian Phú Thọ: Nguyễn Ngọc Tăng. Ông Tăng là người Vĩnh Lại (gần kề cánh đồng Tam Thiên Mẫu). Chẳng biết dân xã ông đang hưởng bao nhiêu mẫu ruộng từ lộc của bà Chúa đồng và dân quê ông có nghĩ như người Tân Đức không ? Tôi biết ông Tăng đến dự hội thảo không phải là đại diện cho những người hưởng lộc ở Vĩnh Lại nhưng có cái tâm mun giúp Ban trị sự khu di tích lịch sử - văn hóa này, mun làm một s" việc có tính chất sưu tầm, nghiên cứu để lập lại ngọc phả về bà đức phi họ Nguyễn - Chúa đồng Long Trầm.

- Làng ông ở ven đồng Chắc Ngậm. Hẳn là ông biết cánh đồng ấy rộng hẹp thế nào. Xã Vĩnh Lại quê ông và các xã Cao Xá, Sơn Vi, Tứ Xã,... Chắc là nhiều lộc hơn Thụy Vân ! Nhưng ông có biết vì sao trưốc đây dân các xã này không có di tích gì về bà Chúa đồng ? Và bây giò suy nghĩ của bà con về chuyện này thê nào?

Hỏi cho vui vậv thôi, chứ tôi biết chắc là ông Tăng chưa thể trả lời. Theo lời kể của hầu hết các cụ cao tuổi, cả bên giáo và bên lương (trong buổi hội thảo) thì sinh thời bà Chúa đồng trú ở đất Cao Xá. Bà mộ phu đến từ các vùng Hà Đông, Thái Bình, Nam Định và dân sở tại (8 xã hạ huyện Lâm Thao cũ) khai hoang được ba ngàn mẫu ruộng và giao cho nông dân cày cấy. Bà là người nhân hậu, hết lòng thương ngưi, sinh hoạt giản dị, tiết kiệm... Trước khi qua đời, bà có ý định chia hết tài sản và giao hẳn số" ruộng ba ngàn mẫu cho dân 8 xã trong vùng. Tương truyền người Cao Xá thuở ấy muốn số ruộng do bà quản lý phải thuộc vê Cao Xá. Và để ruộng đồng Long Trầm không chạy ra ngoài, người làng này đã ngăn cản không cho dân các xã xung quanh đến gần bà khi bà lâm bệnh. Cụ Cao Văn Tịch nguyên Chánh chương xứ đạo Nỗ Lực năm nay đã ngoài 80 tuổi nói: Các cụ tiền bôi kể lại rằng vào thời nhà Lê, có một phụ nữ dòng dõi quý tộc được nhà Vua cho đi tìm đất lập nghiệp, mở mang nghề canh nông. Khi lên thăm đất Tổ Vua Hùng, bà đã dẫn đoàn tùy tùng (có cả binh lính hộ vệ và người hầu) cùng với thân nhân đi về phía Nam đền Hùng; đến bờ sông Thao, thấy địa thế thuận lợi, phong cảnh đẹp nhưng dân cư thưa thớt và nhiều đất hoang, bà đã dừng lại xem xét. Đứng trước cái rốn chũm, rộng, dài từ vài ba đến cả chục cây số, bà không nỡ bỏ đi. Rồi một hôm, tình cờ bà trông thấy có rồng xuống đồng hút nước. Tôm, cá, cua, ốc trong đồng theo rồng lên trời để rồi lại theo a trở lại với đất. Bà nói với dân rằng: đây là điềm trời, phù hộ cho công việc mở đất lập trang ấp...".

Có thể hồi ấy bà quý phi họ Nguyễn đã biết đó là cơn lốc xoáy nhưng để dân tin, yên tâm theo bà khai phá đồng hoang, phát triển nghề canh nông, nên bà đã nói vậy và đặt tên cho cánh đồng là Long Trầm...

Ông Phùng Ngọc Trìu đã qua tuổi xưa nay hiếm, nói: “Vào khoảng tháng 3 năm 1939, giáp hội thiện đã cử cụ thân sinh ra ông Phan Minh Khai, là người được làhg Nỗ Lực giao cho việc quản lý, chăm sóc, bảo vệ khu đình thờ hai vị đại vương Hộ Tống - Viết Bô và Đức Phi (tam vị thành hoàng làng) về tận Hci Đông sao lục ngọc phả, sắc phong tại từ đường một vị quan trong triều (thuộc bộ Lễ) - Ông Trìu được xem bản sao Ngọc phả của cả hai vị đại vương và bà Đức Phi cùng các sắc phong của nhà vua. Theo Ngọc phả bà Chúa đồng thì bà Đức Phi là người của thời nhà Lê, dòng dõi quí tộc, vâng mệnh nhà vua, theo “chiếu” mở mang nghề canh nông, đã tự nguyện lên đất Tổ lập nghiệp...

Điều ông Trìu vừa nói có ghi ở phần cuối bản sao (chữ Hán) Ngọc phả nhị vị đại vương Thượng đẳng thần: “Sao lục từ bản chính tại từ đường... xã Bình Đoài (Đà ?) tỉnh Hà Đông tháng 3 năm Bảo Đại thứ 14” *. Nhưng đáng tiếc là ông Trìu không nhố các chi tiết cụ thể trong bản sao Ngọc phả nên không rõ năm nào bà Đức Phi lên Lâm Thao mở đất và năm bà qua đòi. “Còn ngày bà mất thi chắc chắn là 26 tháng Chạp”. Ông Trìu khẳng định thế. Ông Chế, ông Tung, ông Thế,... thừa nhận điều ông Trìu nói: Chúng tôi tuổi đã quá cao, sức nhớ suy giảm nhưng những điều chúng tôi nói có Chúa và đức Phật chứng giám...".

- Hồi cải cách ruộng đất - ông Trìu kể tiếp - tôi làm địa chính nên tôi biết chắc là số ruộng từ đồng Long Trầm bà Chúa đồng chia cho Nỗ Lực là 260 mẫu, 7 sào. Xã đem số ruộng này chia cho 180 hộ nông dân (xã chỉ giữ lại 1 mẫu chia cho giáp hội thiện sử dụng làm hương hỏa, lo việc cúng giỗ bà Chúa đồng). Còn cái tên đồng Chắc Ngậm là do dân trong vùng đặt sau khi bà qua đời. Năm bà lâm bệnh nặng, tròi hạn hán kéo dài. Đồng Long Trầm thiếu nước, lúa vẫn làm đòng nhưng “nghẹn” không trổ được bông. Đến mùa gặt, bà con nông dân vẫn xuống đồng cắt lúa đem về phơi khô làm thức ăn dự trữ cho trâu bò và làm củi đun. Khi đun bếp nghe tiếng nổ lách tách và những hạt bông gạo nở trắng như hoa chanh bắn tung tóe quanh bếp, mọi người mới hay là lúa vẫn chắc, vẫn chín dù mỗi bông chỉ được một số ít hạt. Lúa chắc, ngậm trong đòng đòng lần đầu được thấy trên cánh đồng Long Trầm nên bà con nông dân gọi là Chắc Ngậm...

Từ nhỏ tôi đã nghe ông nội kể chuyện dân Nỗ Lực bắt được cái nồi đồng đặt trên bè chuối (đắp cỏ lên trên) từ ngòi Tùng trôi ra sông Thao. Trong đó có di chúc của bà Chúa đồng chia đất cho dân Nỗ Lực. Con ngòi thiên tạo với 99 khúc uốn lượn, vòng vèo như thân con rồng chảy từ chân núi, vùng đồi 99 con voi, qua làng Thanh Mai (xã Thanh Đình, Phong Châu) rồi qua vùng đất giáp ranh giữa Cao Xá với Thụy Vân, chảy vào sông Hồng ở đầu làng Nỗ Lực. Sau Cách mạng tháng Tám nhân dân hai huyện Lâm Thao, Hạc Trì chung sức đào con kênh thủy lợi tiêu úng cho những cánh đồng chiêm khô mùa thối. Con kênh Lâm Hạc thẳng như đường kẻ chỉ từ đầu Làng Rền (Dục Mỹ) qua xóm Sậu, sát vối gò đất phía đông làng Cao Xá (gò Lộc Vừng - tương truyền là nơi bà Chúa đồng chọn để lập trang ấp) đến cng Vĩnh Mộ. Kênh đào Lâm Hạc gần như chiếm gần hết những đoạn uốn lượn cuối cùng ở ngòi Tùng xưa. Hồi nhỏ, nghe ông nội kể vậy, tôi cứ nghĩ rằng “Nỗ Lực gặp may". hội thảo này, nghe người già truyền dẫn lòi cha ông ta xưa, tôi cứ nghĩ rằng chuyện cái bè chuôi mang theo di chúc của bà Chúa đồng Chắc Ngậm có th không phải là huyền thoại. Có hay không có chuvện dân Cao Xá ngăn cản các cuộc tiếp xúc giữa bà Chúa đồng với nông dân các xã quanh vùng như nhiều cụ cao tuổi vừa k hay không ? Sự tranh chấp ruộng hương hỏa của bà Chúa đồng đã đưa dân hai làng ra trước cửa quan. Cao Xá từng đã có thi là đất “hàng tng”, đất có thế lực. Nhưng may là quan sở tại ngày ấy đã theo phép công mà xử đúng luật, công nhận quyền thừa kế 260 mẫu, 7 sào ruộng từ đồng Chắc Ngậm theo di chúc bà Chúa đồng... Phải chăng đây là lý do để dân Nỗ Lực (Thụy Vân) và dân bãi giữa sông Hồng (Tân Đức), hai xã chỉ được hưởng có gần một phần mười cái lộc bà Chúa đồng chia cho, lại truyền đời ghi nhớ công đức và giữ gìn nơi th cúng bà?

Bà Chúa đồng Long Trầm, ngưi đã không giành lại cho mình chút gì sau bao nhiêu năm lăn lộn trên cánh đồng hoang cùng lo khai phá đất đai với dân tạo dựng cánh đồng rộng đến ba ngàn mẫu để rồi chia hết cho dân... Nhưng cho đến bây giờ những người đang hưởng lộc của bà vẫn chưa biết tên thật của bà để cung kính nhắc gọi khi làm lễ dâng hương... Ghi lại những dòng này trước vong linh bà Chúa đồng, tôi chỉ muốn được mượn lời kết của người chủ trì cuộc hội thảo: “Nhân bảo như thần bảo” - ông Đước, Chủ tịch y ban Mặt trận Tổ quốc xã Thụy Vân vui vẻ nói: - Tôi xin phép được nhắc lại câu ngạn ngữ này để ghi nhận những lời tâm huyết của các cụ và các đại biểu có mặt hôm nay. Ông cha ta vẫn nói “uống nước phải nhớ nguồn”. Về công đức của bà Chúa đồng như các cụ và các vị đại biểu vừa nói, chúng ta có trách nhiệm phải truyền lại cho con cháu, cho các đời sau như ông cha đã truyền lại cho chúng ta bày giờ. Điều vui mừng nhất và có th nói là thành công của buổi hội thảo này là chúng ta đồng tâm nhất trí khắng định sự tồn tại của cánh đồng Long Trầm, nguồn gốc của nó và ghi nhận công lao của người mở đất. Việc lập lại Ngọc phả có nhiều khó khăn nhưng đây là việc trọng đại, thu hút nhân tâm của mọi người, trước hết là những người đang hưởng lộc từ cánh đồng ba ngàn mẫu này. Rồi đây chúng ta còn phải góp công, góp sức tu tạo ngôi miếu thờ bà Chúa đồng cho tướng xứng vi công đức của bà như các cụ và các đại biểu vừa nói và làm thủ tục để xin Nhà nước công nhận di tích lịch sử - văn hóa thay cho các sắc phong của các triều đại, các Nhà nước trước kia, đã bị nước lũ của trận lụt năm t Dậu cuốn trôi... Hy vọng là điều mong mun của nhiều thế hệ chúng ta sẽ được nhiều ngưi đồng tình ủng hộ...

 

VƯƠNG HỒNG


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.