NỘI DUNG CHI TIẾT
Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa
7/31/2014
 
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
Trong những năm gần đây, phê bình sinh thái nổi lên như một hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm. Điều ấy không có gì lạ khi nhân loại đang phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng; quá trình đô thị hóa và sản xuất công nghiệp vừa vắt kiệt tài nguyên, vừa gây ô nhiễm môi trường. Thứ nữa, từ giác độ nhân văn, sự chia tách con người khỏi môi trường đã làm méo mó nhân cách của mỗi cá nhân. Rất có thể, hội chứng vô cảm trong xã hội hiện đại cũng bắt nguồn từ chỗ con người không còn biết rung cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên, khi mà ánh điện thành phố đã “vô hiệu hóa” ánh trăng, máy điều hòa không khí đã làm thay chức năng của những làn gió mùa hạ, và sự kết nối nguyên sơ giữa con người với con người bị cắt đứt bởi internet đã trở thành kênh giao dịch chủ yếu của cư dân mạng và con người đô thị bị nhốt chặt trên các nhà hộp (building).
Một khái lược về phê bình sinh thái
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết). Sinh thái học, vì thế, là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, và đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học này là tất cả các mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường. Từ chỗ là một bộ môn gắn liền với sinh học, sinh thái học dần mở rộng, ảnh hưởng đến nhiều bộ môn khoa học khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của trái đất. Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng phải đến những năm 70 của thế kỉ XX, khi Joseph W. Meeker cho xuất bản Sinh thái học của văn học và chính thức đề xuất tên gọi sinh thái học văn học (literary ecology) thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ giữa văn hóa, văn học và môi trường. Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác, chẳng hạn như Phê bình văn học sinh thái. Sự tưởng tượng lãng mạn và sinh học trí tuệ của Karl Kroeber, Hợp tuyển phê bình sinh thái học: Những điểm nhấn trong sinh thái học văn học của Cheryll Glotfellty và Harold Fromm... Vào năm 1992, Hội Nghiên cứu văn học và môi trường được thành lập tại Đại học Nevada, Hoa Kì. Từ đó trở đi, văn sinh thái (ecolit) và phê sinh thái (ecocrit) xuất hiện liên tục trong nhiều bài viết khác nhau. Phê bình sinh thái (văn hóa) từ đó nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu. Giới nghiên cứu văn học Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến phê bình sinh thái với sự góp mặt của một số học giả tiêu biểu như Đình Hiểu Nguyên, Lỗ Khu Nguyên...
Về bản chất, phê bình sinh thái ra đời bắt nguồn từ phản ứng lại với truyền thống coi con người là trung tâm, xem nhẹ, phủ nhận thiên nhiên, theo đó, Ecological Literary Criticism chủ yếu quan tâm tới nội dung sinh thái tự nhiên của văn học. Tuy nhiên, gần đây, khái niệm phê bình sinh thái được mở rộng hơn, khi coi môi trường tinh thần xã hội cũng là một kiểu hệ sinh thái tác động đến văn học nghệ thuật.
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn phê bình sinh thái hầu như chưa được chú ý nhiều ở Việt Nam. Hiện nay, mới xuất hiện một vài công trình về sinh thái học, nhưng chủ yếu gắn liền với khoa học tự nhiên, bộ môn sinh học và nhân học văn hóa.(1) Một số bài viết và công trình của các học giả nước ngoài đã bước đầu được dịch và giới thiệu, mà đáng chú ý hơn cả là Sinh thái học nhân văn của Georges Oliver (Huy Yên, Võ Bình, Đỗ Ngọc Hải dịch, Nxb Thế giới, 1997, tái bản 2002). Riêng về phê bình sinh thái văn học thì mới có những nốt dạo đầu là các công trình của Trần Đình Sử, Trịnh Bích Liên, Đỗ Văn Hiểu, Nhã Thuyên... Việc giới thiệu về phê bình sinh thái ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế, thiếu tính hệ thống. Có thể coi bài viết Phê bình sinh thái - cội nguồn và phát triển của Đỗ Văn Hiểu trên Tạp chí Nhà văn (số 11/2012) là bài tổng thuật công phu và đầy đủ nhất về phê bình sinh thái từ trước tới nay.
Nhìn chung, sau mấy thập kỉ xuất hiện, phê bình sinh thái vẫn đang trong tiến trình vận động, nó chưa hề bị giới hạn, đóng khung trong phạm vi hay phương pháp nào cả. Nhưng về đại thể, nghiên cứu văn học theo phê bình sinh thái thực chất là hướng tiếp cận văn hóa học, tiếp cận liên ngành. Giáo sư Đại học Harvard Karen L. Thonrber cho rằng, giai đoạn đầu phê bình sinh thái đặc biệt chú ý đến văn học viết về đồng quê và chủ nghĩa lãng mạn, thậm chí một số nhà nghiên cứu còn đồng nhất môi trường với thiên nhiên; ở giai đoạn tiếp theo, sinh thái học lại quan tâm đến văn học viết về đô thị và công nghiệp hóa. Từ những năm 2000 trở lại đây, những giao điểm của phê bình sinh thái và nghiên cứu hậu thuộc địa bắt đầu được quan tâm, và sự quan tâm này đã đánh dấu một nấc thang mới trong việc tích hợp diễn ngôn về cái địa phương và cái toàn cầu.(2)
Tấm mạng sinh thái trong Thơ mới
Thơ mới, như chúng ta biết, chủ yếu nằm trong vòng phủ sóng của loại hình thơ lãng mạn (ở giai đoạn sau, có sự hòa trộn với tượng trưng, siêu thực). Thời đại lãng mạn châu Âu ra đời cùng với thời đại công nghiệp và quá trình đô thị hóa. Các nhà lập thuyết của chủ nghĩa lãng mạn và nền tảng triết học của nó, trong khi quá say sưa với sự “chiến thắng” của con người, coi con người là trung tâm của vũ trụ đã dần xa lánh và quên mất môi trường tự nhiên mà văn học dân gian đã từng chú trọng. Tuy nhiên, sự mơ mộng và chủ đề thiên nhiên vẫn có vị trí quan trọng trong thơ lãng mạn nói chung, Thơ mới ở Việt Nam nói riêng. Sự khác biệt giữa Thơ mới và thơ truyền thống, về thiên nhiên, chủ yếu nằm ở chỗ, trong thơ trung đại và trước đó là thơ dân gian, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là hòa đồng, gần gũi. Chẳng hạn: Thân em như chẽn lúa đòng đòng/ Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai (Ca dao) hay Lão tang diệp lạc tàm phương tận/ Tảo đạo hoa hương giả chính phì/ Kiến thuyết tại gia bần diệc thảo/ Giang Nam tuy lạc bất như quy (Dâu già lá rụng tằm vừa chín/ Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo/ Nghe nói ở nhà, dẫu nghèo vẫn tốt/ Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà) (Quy hứng - Nguyễn Trung Ngạn)… Còn trong Thơ mới, thiên nhiên như một khách thể thẩm mĩ để nhà thơ soi ngắm và hưởng thụ. Rất nhiều thi sĩ thể hiện sự tinh tế tột bậc khi miêu tả thiên nhiên. Xuân Diệu từng có những câu thơ như thế này: Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh/ Cho gió du dương điệu múa cành/ Cho gió đượm buồn, thôi náo động/ Linh hồn yểu điệu của đêm thanh (Trăng). Và đây là những câu thơ của Hàn Mặc Tử: Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lí - bóng xuân sang (Mùa xuân chín).
Như vậy, trong bản nguyên Thơ mới, những vần thơ về đồng quê thể hiện tình yêu mà các thi sĩ dành cho thiên nhiên với tư cách Mẹ và với tư cách là những vẻ đẹp thanh tân. Về phương diện nào đó, đây cũng chính là ý thức chống lại sự tàn phá môi trường của văn minh công nghiệp. Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ mang vẻ đẹp “hoài cổ” qua khối ẩn ức lớn dần vì ý thức được sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa tự do và bị tước đoạt tự do, giữa tự nhiên hoang sơ rộng lớn và môi trường nhân tạo nhỏ hẹp. Người đọc dễ dàng cảm nhận “khối sầu đô thị” của Xuân Diệu (Lời kĩ nữ), Vũ Hoàng Chương (Say), Đinh Hùng (Bài ca man rợ)... Ở những bài thơ này, ta không được gặp một thứ thiên nhiên trong trẻo như  trong thi giới của Nguyễn Bính hay những nét văn hóa tươi tắn như trong thơ Tết của Đoàn Văn Cừ... Vẻ đẹp của thiên nhiên trong Thơ mới còn được thể hiện rất chân thực qua những “bức tranh quê” của nhóm thi sĩ đồng quê hay trong thơ của Nguyễn Nhược Pháp, Nam Trân... Những bức tranh ấy về sau có thể sẽ trở thành những bảo tàng nghệ thuật, giúp con người thời kĩ trị tìm được niềm thư thái, lấy lại được cân bằng khi thưởng ngoạn chúng. 
Trong phê bình sinh thái, khái niệm nơi chốn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu bên cạnh ba mối quan tâm lớn là chủng tộc, giai cấp và giới.(3) Không phải ngẫu nhiên mà ở giai đoạn đầu, trong cái nhìn của các nhà sinh thái, nơi chốn thể hiện sự tương giao, kết nối giữa lịch sử của con người với môi trường địa lí và vật lí mà con người hít thở và chứng nghiệm. Những nghiên cứu về thơ Wordworth đều nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người với khu vực tự nhiên mà nhà thơ đã sinh sống. Còn nhắc đến John Clair, người ta lại chú ý đến sự thân thuộc của thi sĩ lãng mạn này với những bức tranh phong cảnh đã biến mất của vùng Norham Scheier đầu thế kỉ XIX. Cùng với sự mở rộng trường nghiên cứu, ở giai đoạn sau, từ việc chú ý đến vùng sinh thái địa văn của khu vực, địa phương, các nhà sinh thái học tiến đến nghiên cứu khu vực công nghiệp hóa và sự vắng khuyết của cái gọi là đô thị xanh trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp.
Trong Thơ mới, khái niệm nơi chốn được thể hiện khá đa dạng. Nơi chốn có thể là nơi gắn bó lúc thiếu thời hay suốt cuộc đời, có thể là một quá vãng tươi đẹp đã mất khiến nhà thơ không nguôi nỗi hồi cố, có thể là nơi trú ngụ sau bao mệt mỏi tha hương... Như vậy, khái niệm nơi chốn trước hết là khái niệm mang tính vật lí, sau nữa, là lãnh địa tinh thần trong mối giao cảm gắn bó với tự nhiên. Bầu trời, mặt đất, con đường, dòng sông, áng trời chiều, ánh trăng thanh… đều trở thành không gian sinh thái của Thơ mới. Bên cạnh đó, một làn hương, một bước chuyển mùa, thậm chí, một “xuân ý” vô hình cũng là không gian sinh thái được thẩm thấu và được biểu đạt tinh tế nhờ tình yêu thiên nhiên của chủ thể sáng tạo. Tuy nhiên, biểu tượng tập trung nhất của mối quan hệ giữa con người với nơi chốn trong Thơ mới là vườn. Hầu như nhà Thơ mới nào cũng nói đến vườn với ý nghĩa là một thiên nhiên đầy hương sắc, sự sống. Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ); Nguyễn Bính: Thong thả dân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng (Xuân về); Xuân Diệu: Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá/ Ánh sáng tuôn đầy các lối đi/ Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ/ Im lìm, không dám nói năng chi (Trăng); Huy Cận: Một buổi trưa không biết ở thời nào/ Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đang bên vườn tình tự (Đi giữa đường thơm)... Đây không phải là những bức tĩnh vật mà là những sinh thể thiên nhiên luôn chuyển động, cựa quậy. Thiên nhiên có thể bày ra hữu hình, có thể ẩn giấu, vô hình. Phải rất tinh tế thì các nhà Thơ mới mới có thể cảm nhận và hữu hình hóa những thứ (nhiều khi) vô hình ấy. Ở phương diện này, sức quyến rũ của Thơ mới, theo tôi, chính là sự đan dệt khéo léo giữa cái hữu hình và cái vô hình của thiên nhiên, rồi đến lượt mình, thiên nhiên hô ứng hòa điệu với con người. Đó là sự đan dệt để tạo nên những khoảng trống mà người tiếp nhận sẽ làm đầy nó bằng trường liên tưởng và kinh nghiệm thẩm mĩ cá nhân. Thử đọc một đoản khúc của Huy Cận sẽ thấy: Nắng chia nửa bãi, chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu/ Sợi buồn con nhện giăng mau/ Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây (Ngậm ngùi).
Vườn trong Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa, dĩ nhiên, trước hết là một khái niệm mang tính địa lí, thậm chí, tính khu vực, vùng miền hắt xuống khá rõ trong từng bức phong cảnh thiên nhiên. Ví như có một xứ Huế thơ mộng trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, một miền quê Bắc Bộ trong thơ Nguyễn Bính… Cũng có khi, vẻ đẹp ấy được nói đến mơ hồ về địa chỉ, như trường hợp “buổi trưa không biết ở thời nào” trong không gian Huy Cận, hay miền Thiên Thai ma mị tiếng sáo trong thơ Thế Lữ, và cả không gian lảng vảng hồn ma và những nấm mồ trong thi giới Chế Lan Viên... Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với vườn trong Thơ mới hàm chứa trong đó một ý niệm tinh thần độc đáo. Việt Nam về cơ bản là một nước nông nghiệp, ngay cả khi đô thị hóa đã bắt đầu được mở rộng vào nửa đầu thế kỉ XX thì văn hóa tiểu nông vẫn rất đậm nét. Vì thế, vườn bao giờ cũng gắn với văn hóa làng với tư cách là không gian tinh thần và là nơi quy tụ những mối liên kết giữa cá nhân và cộng đồng của các thôn dân. Nó hoàn toàn khác với văn hóa đường phố là nơi cư ngụ (và lưu lạc) của những cá thể thị dân. Bởi thế, đặc tính của làng là bình yên và trong trẻo, là nơi có khả năng chữa lành mọi vết thương tinh thần của những kẻ tha hương. Rộng hơn, nó là một phạm trù trong cặp phạm trù đối lập giữa một bên là nature (tự nhiên), natus (sự sinh ra, được sinh ra) và bên kia là những sản phẩm nhân tạo của con người. Làng hay vườn, theo tinh thần ấy, là chốn cư ngụ, có khả năng thuần dưỡng và tái tạo, tái sinh. Cảm thức về làng, vườn như một địa chỉ cư ngụ, có khả năng làm vợi bớt chơ vơ trong những ngày dan díu với kinh thành, làm giảm thiểu niềm đau đắng tha hương đặc biệt nổi bật trong thơ Nguyễn Bính. Thậm chí, sự khắc khoải kia trở nên quánh đặc: Ở Ngự viên mà nhớ Ngự viên. Tôi nghĩ, có một phần làm nên chiều sâu của thơ Nguyễn Bính nằm ở đó, nơi ông hoài nhớ về những giá trị văn hóa làng quê chứ không phải là sự luyến tiếc trật tự, tôn ti trong xã hội nông thôn. Đây cũng là nhân tố tạo nên màu sắc cổ tích trong thơ Nguyễn Bính khi viết về quê cũ. Qua hoài niệm của thi sĩ, vẻ đẹp ấy hiện lên từ hoa bưởi, hoa cau, từ những âm vang của tiếng trống hội, sự giăng mắc của những hạt mưa xuân và của những giấc mơ quan Trạng...
Như thế, vườn, hay rộng hơn là thiên nhiên và thế giới tự nhiên trong thơ lãng mạn đã trở thành một điểm nhấn quan trọng khi lí giải mối gắn kết giữa lịch sử của mỗi cá nhân và nơi sinh thành nuôi dưỡng họ. “Sự trở về với chủ nghĩa lãng mạn” và bài ca về vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới có thể coi là “sự tưởng nhớ trái đất” của con người trong thời đại những cỗ xe lửa đang phì hơi khói phủ đầy làng quê.
 Tuy nhiên, trong trường mĩ học Thơ mới, bên cạnh những cảm nhận tuy mãnh liệt, tinh tế nhưng vẫn còn “hiền lành”, Hàn Mặc Tử là một trường hợp kì lạ bởi nhiều lúc thơ ông như đã “ra ngoài vòng nhân gian” (Hoài Thanh), vượt khỏi những kinh nghiệm thẩm mĩ thông thường. Dấu ấn của tư duy tôn giáo và thế cách trữ tình của một kẻ đau thương tột độ cháy bỏng đức tin là một trong những nhân tố tạo nên sự khác lạ của thơ Hàn Mặc Tử. Vườn trong sinh thái thơ Hàn Mặc Tử, vì thế, có những chiều kích kì vĩ, nơi lưu dấu những bước chân sáng thế và gợi sự nguyên sơ huy hoàng của vũ trụ. Cuộc viễn du của Hàn Mặc Tử lên miền thượng giới vượt khỏi mường tượng của nhiều thi sĩ cùng thời, nhất là khi điều đó ăn sâu vào quan niệm nghệ thuật của ông: “Ai nói vườn trăng là vườn mơ. Ai nói bến mộng là bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa Nguồn Trong Trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng; xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến – làm bằng êm dịu, làm bằng thanh bai... Gió phương mô đẩy Người đến bến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thanh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang như tiếng châu báu vỡ lở. À, ra Người cũng dại dột hốt vàng rơi bọc trong vạt áo. Trí Người đã dâng cao và thơ Người dâng cao hơn nữa. Thì ra Người đang say sưa đi trong Mơ Ước, trong Huyền Diệu, trong Sáng Láng và vượt ra hẳn ngoài Hư Linh...” (Tựa Đau thương).(4)
Ở đây, vườn, với không gian trăng, sao, hoa cỏ, sông Ngân... có ý nghĩa như một thiên đường, nhưng lại thấp thoáng nhiều chi tiết của cuộc sống trần thế. Thậm chí, có cả nỗi đau cơm áo, tình duyên: Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói/ Gió trăng có sẵn làm sao ăn/ Làm sao giết được người trong mộng/ Để trả thù duyên kiếp phụ phàng? (Lang thang). Rõ ràng, vườn, hay rộng hơn là vũ trụ cao xanh trong cái nhìn nghệ thuật của Hàn Mặc Tử không hẳn là thiên giới, là vườn trong cái nhìn tôn giáo thuần túy mà là một thế giới cao đẹp trong tưởng tượng có ý nghĩa thỏa mãn được khát khao vượt khỏi hư linh và xoa dịu nỗi đau trần thế của nhà thơ.(5)
    Tóm lại, tấm mạng sinh thái trong Thơ mới đã được các thi sĩ thời đại này khám phá, biểu đạt hết sức tinh vi và phong phú. Cho dù trí tưởng tượng của họ có vượt thoát ra khỏi hư linh thì cuối cùng, trong thẳm sâu tâm hồn họ vẫn là nỗi mê đời, niềm khát sống, khát yêu. Thì ra trong nhãn quan nghệ thuật của họ, thiên đường không ở đâu xa xôi mà hiện hữu ngay trong cõi thế đầy bí ẩn này. 
Vạn vật hữu linh
Tư tưởng này có lẽ là một trong những tư tưởng gần gũi nhất khi nói về thiên nhiên, môi trường trong thơ lãng mạn. Theo đó, tự nhiên không chỉ là môi trường địa lí mà tất cả những sự vật, hiện tượng trong đó đều mang chứa linh hồn. Có lẽ, màu sắc duy lí của thơ lãng mạn đã phần nào hạn chế vấn đề này khi nó bị giới hạn bởi chính tư tưởng con người là trung tâm của vũ trụ. Nhưng tôi nghĩ, sự giao hòa bí ẩn của tự nhiên được miêu tả trong Thơ mới cũng là biểu hiện linh hồn của đất Mẹ, và chính nó, biểu đạt sự sinh tồn của thế giới. Hãy lắng nghe điều đó từ cảm nhận của Xuân Diệu trong Thơ duyên:
Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.
Cái phong tình của chàng trai quê cũng được Nguyễn Bính ví như sự giăng mắc của cỏ may trongHoa cỏ may:
Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em.
Dĩ nhiên, việc cấp cho thiên nhiên những niềm giao cảm mang đặc tính người, hoặc coi thiên nhiên như phông nền của sự hòa điệu giữa người - người và người - vật là biểu hiện tinh thần duy lí trong thơ lãng mạn, cho dù thơ lãng mạn là tiếng nói tràn bờ của cảm xúc. Nhưng điều quan trọng là thơ về thiên nhiên, về đồng quê trong Thơ mới đã thiết tạo một cấu trúc mới, trong đó, thiên nhiên không bất động mà luôn luôn chuyển động. Sự chuyển động ấy có thể mang khuôn mặt của sự úa tàn (vốn là một nét yêu thích của mĩ học lãng mạn), có thể mang sự cường tráng hay nỗi say mê, hoặc có thể là một hoài nhớ về vườn địa đàng và vẻ xuân thì trong ngôn ngữ mang màu sắc nhục thể (thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê...). Nhưng tất thảy, chúng hiện lên như hàng chuỗi kí hiệu biểu đạt các sắc màu khác nhau của sự sống. Sự sống ấy luôn gắn liền với mặt đất, trần thế. Bản thân sự giao hòa giữa tâm hồn nghệ sĩ với thiên nhiên, thậm chí với cả những vẻ “đẹp xưa” đã mất dấu, theo ý nghĩa này, cũng có thể coi là sự giao cảm của những linh hồn, giữa quá khứ và hiện tại, giữa còn và mất.
Thiên nhiên trong Thơ mới có cả niềm côi cút, chia li. Sự côi cút ấy bắt đầu từ con người: Một chiếc linh hồn nhỏ/ Mang mang thiên cổ sầu trong mối liên hệ sâu xa với nỗi cô đơn trong linh hồn tạo vật:Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều trong thơ Huy Cận. Lại có những rạn vỡ ghê rợn: Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa/ Vỡ tan thành máu đọng vàng khô trong thơ Hàn Mặc Tử. Nghĩa là hỉ, nộ, ái, ố đều có, quá trình sinh - hóa, hóa - sinh đều có trong thiên nhiên Thơ mới.
Thi pháp Thơ mới là thi pháp “lộn trái”, lấy tơ lòng của chủ thể làm chất liệu chính. Nhưng trong cái nhìn nghệ thuật của các nhà Thơ mới, thiên nhiên luôn có một địa vị quan trọng, nối con người với nơi chốn cưu mang, cân bằng sinh thái con người trong tuyệt vọng, an ủi và tái tạo con người trước sự tinh khôi của Mẹ Đất. Xa hơn, những vần thơ viết về thiên nhiên, tự nhiên trong Thơ mới cũng có ý nghĩa đánh thức sự gắn kết giữa con người với môi trường nhân tính của tự nhiên, bằng chính ngôn ngữ của tự nhiên, bằng thứ ngôn ngữ trong trẻo và nhiều khi tràn đầy dục tính, vì bản chất của dục tính là “lực sống” (S. Freud). Đó là một lộ trình thanh tẩy, một phương thức tái cấu trúc nhân cách, ngăn cho con người không trượt vào con đường tha hóa. Tôi nghĩ, đây chính là một biểu hiện về tính nhân văn của Thơ mới, mà ở bài viết này, chỉ mới là những vén mở ban đầu        
N.Đ.Đ
------
 1. Chẳng hạn, năm 2007, quyển Việt Nam đất nước con người (Lê Thông chủ biên) do Nxb Giáo dục ấn hành đã ít nhiều đề cập đến môi trường địa lí nhân văn mặc dù trọng tâm của quyển sách này là giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam. Năm 2011, Nxb ĐHSP Hà Nội ấn hành công trình Môi trường và con người sinh thái học nhân văn (Vũ Quang Mạnh chủ biên) cũng dành trang viết cho con người trong môi sinh của nó…
 2. Bài viết này của tôi được gợi hứng từ bài thuyết trình của Karen L. Thonrber tại Viện Văn học (Việt Nam) năm 2011, và gần đây là mệnh đề “trở về với chủ nghĩa lãng mạn” của Kate Rigby. Trong bài viết này, tôi muốn tiếp cận Thơ mới từ sinh thái học văn hóa như một quan tâm bước đầu. Xin cảm ơn bạn Đặng Thị Thái Hà, nghiên cứu viên Viện Văn học đã cung cấp tư liệu về công trình của Kate Rigby. Vấn đề nữ quyền luận và hậu thuộc địa gần đây cũng được giới nghiên cứu văn học quan tâm. Có thể kể đến một số dịch phẩm, nghiên cứu và giới thiệu: Edward W. Said: Đông phương học (Lưu Đoàn Huynh, Phạm Xuân Di, Trần Văn Tụy dịch, Nxb Chính trị quốc gia, H., 1997); Phương Lựu: Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX (Nxb Văn học, H., 2001); Nguyễn Hưng Quốc: Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học (Nxb Văn mới, California, 2007); Cynthia Freeland: Một đề dẫn về lí thuyết nghệ thuật (Như Huy dịch, Nxb Tri thức, H., 2010)…
3. Từ ba vấn đề cốt yếu này, Karen L. Thornber trong bài thuyết trình đã nói ở trên cho rằng phê bình sinh thái đã mở rộng sang nhiều hướng khác nhau. Giờ đây, người ta có thể nói đến chủ nghĩa sinh thái và công bằng môi trường, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, chủ nghĩa sinh thái hậu thuộc địa...
4. Dẫn theo Thơ mới 1932-1945 tác giả và tác phẩm, Lại Nguyên Ân chủ biên, Nxb Hội Nhà văn, H., 1998, tr.151.
 5. Chevalier – Alain Gheerbrant giải thích: “Vườn là một biểu tượng của Thiên đường trên mặt đất, của Vũ trụ mà vườn là trung tâm, của Thiên đường mà vườn là hình tượng, của các trạng thái tinh thần như lúc được sống trên Thiên đường” (Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, 2007, tr.1104). Cũng xin lưu ý thêm giải thích của các tác giả: Trong Sáng thế, Thiên đường trên mặt đất là một khu vườn, Adam là người làm vườn, “còn thành Jésusalem trên trời của ngày tận thế sẽ là một thành phố”. Như vậy, đô thị rất dễ trở thành nguyên nhân tận diệt hệ sinh thái tự nhiên. Có lẽ vì thế mà trong thơ lãng mạn, từ môi trường đô thị, con người hoài nhớ về vẻ đẹp nguyên sơ của tự nhiên và quá khứ như kí ức về một thiên đường đã mất.
 
Nguồn vannghequandoi.com.vn

Lê Tiến khai thác  


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.