NỘI DUNG CHI TIẾT
THỦ LĨNH CỦA PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CHỐNG PHÁP DƯỚI CHÂN NÚI ĐỌI ĐÈN
8/19/2014


                                                                                                       THĂNG LONG

Dân làng Thạch Đê, Cát Trù - Cẩm Khê, (tỉnh Phú Thọ) còn truyền nhau kể lại nhiều câu chuyện về  Đề Kiều và dòng họ Hoàng của ông. Đó là những con người thân thiện, được bà con yêu mến. Bởi thế từ dân ngụ cư, dòng họ Hoàng đã mở rộng thanh thế, dòng tộc ngày càng sinh sôi nảy nở trở thành thổ cư ra các tổng Trương Xá, Điêu Lương, Phú Khê có hàng chục đời gắn bó với mảnh đất này. Đề Kiều tên thật là Hoàng Văn Thúy (ông sinh năm 1855 mất 1915) quê gốc ở Hoàng Mai, Thanh Trì, Hà Nội. Tổ tiên của ông xưa rời quê lên đất Cát Trù lập nghiệp, tính đến ông là đời thứ bảy.

Năm 1775, Hoàng Thời Dụng (đời thứ 5 của họ Hoàng ở Cát Trù) được vua Lê Hiển Tông phong là “Dương vũ tướng quân”, giao cho cai quản xứ Thao Hà bao gồm một vùng đất rộng lớn từ Sơn Tây, Hưng Hóa lên tận miền biên ải Tây Bắc.

Sinh ra trong dòng tộc họ Hoàng, Đề Kiều - Hoàng Văn Thuý đã mang trong mình dòng máu yêu nước, thấm đượm đạo lý “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Trong cảnh dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, ngay khi còn trai trẻ ông đã tìm cách xây dựng lực lượng để phòng khi có động sẽ dùng tới. Ông cho mua về nhiều ngựa chiến, lập xưởng rèn, tìm cách liên kết những người cùng chí  hướng, đọc binh thư, luyện võ nghệ.

Tháng 8 năm 1883, vua Tự Đức băng hà. Nhằm đúng lúc đó, giặc Pháp nổ súng tấn công thẳng vào Kinh thành Huế, triều đình không chống đỡ nổi đành bó tay ký hàng ước Harmand công nhận sự chiếm đóng của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

Trước tình thế đó, Hoàng Kế Viêm tổng đốc Sơn - Hưng -Tuyên thuộc phe chủ chiến dao động thối chí bỏ nhiệm sở về Huế. Để giữ lấy vùng đất hiểm yếu này làm chỗ dựa về sau, phe chủ chiến trong triều đã cử Ngô Quang Bích lên thay thế. Vua Hàm Nghi phong cho ông là “Hiệp thống Bắc Kì quân vụ đại thần” giữ chức Kinh lược xứ, thay vua chỉ đạo toàn bộ công cuộc chống Pháp ở Bắc Hà.

Nhằm tăng cường lực lượng, Ngô Quang Bích đã thu phục về dưới trướng của mình những viên thủ lĩnh địa phương như Tổng Giáp, Đốc Hoan, Đốc Ngữ, Ba Vân, Đề Kiều là những viên tướng tâm phúc nhất.

Đầu năm 1884, thành Hưng Hóa thất thủ, Ngô Quang Bích rút gươm định tự tử, nhưng đã được Đề Kiều kịp thời can ngăn sau đó hộ tống ông thu nhặt tàn quân rút về đất Cẩm Khê xây dựng căn cứ tính kế lâu dài.

Có Đề Kiều dốc lòng phù trợ, Ngô Quang Bích tiếp tục dâng cao ngọn cờ Cần Vương, địa bàn hoạt động từ Hưng Hóa qua Yên Bái đến tận miền biên ải Lai Châu, Sơn La… Những cuộc đụng độ dữ dội giữa nghĩa quân với giặc Pháp đã diễn ra tại Hiền Lương, Bằng Giã (Hạ Hòa). Qua những lần thử sức đầu tiên do Đề Kiều trực tiếp chỉ huy, đã thu được thắng lợi, đẩy lùi quân thù, bảo toàn lực lượng, giữ vững căn cứ.

Ngô Quang Bích tuổi cao lâm bệnh và tạ thế tại căn cứ Tiên Động năm 1888. Đề Kiều và Đốc Ngữ kế tục sự nghiệp mỗi người trấn giữ một phương lập nên phòng tuyến sông Đà và sông Hồng liên tiếp giáng cho địch những đòn đau. Trong trận chợ Bờ - Hòa Bình và trận Khả Cửu (Thanh Sơn), mỗi trận tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều đạn dược, vũ khí làm nức lòng nghĩa quân và nhân dân trong vùng.

Đang lúc nước sôi lửa bỏng thì Đốc Ngữ bị giặc sát hại ở Hòa Bình, phong trào chống Pháp lâm vào tình thế ngày càng nguy ngập, nghĩa quân dưới quyền ông tan rã, phong trào nông dân Bắc Giang dưới sự lãnh đạo của Đề Thám cũng bị suy thoái, chỉ còn đồn Phồn Xương nhỏ bé bị quân thù vây chặt, do đó Pháp có điều kiện dồn quân, dốc sức vào việc tấn công, tiêu diệt Đề Kiều.

Tuy ở vào cái thế đơn thương độc mã, nguy khốn trăm bề, song Đề Kiều vẫn nêu cao dũng khí tìm mưu tính kế dựa vào thế hiểm trở của núi Đọi Đèn thuộc đất rừng Cẩm Khê - Yên Lập tổ chức những trận đánh tập kích, phục kích tiếp tục tiêu hao sinh lực địch.

Giặc Pháp thấy khó khăn tiêu diệt Đề Kiều bèn dùng những mưu kế thâm độc, hèn hạ. Chúng dùng những bọn lính mã tà (người Việt) đóng chốt vây chặt rừng già, phong tỏa nhằm chia cắt nghĩa quân với nhân dân, chúng tin rằng cứ làm như vậy không đánh nghĩa quân cũng tan.

Nhưng lạ lùng thay cuộc bao vây đã kéo dài cả trăm ngày mà chẳng thấy nội tình của nghĩa quan dao động. Thì ra nghĩa quân và binh lính của Lê Hoan đã thỏa thuận ngầm nếu bị ép phải bắn thì cứ bắn chỉ thiên. Đó chính là nguyên nhân tồn tại dai dẳng của nghĩa quân.

Khi bao vây kéo dài mà không thanh toán nổi nghĩa quân, Lê Hoan đích thân viết mật thư khuyên nhủ Đề Kiều ra hàng song không được ông đáp lại. Bao vây không được, mua chuộc không xong, chúng quay ra dùng hạ sách, bắt tất cả dân làng, trong đó có mẹ của Đề Kiều làm con tin. Với lời hăm dọa nếu nghĩa quân không ra đầu hàng thì cả làng sẽ bị sát hại. Trong tình thế đó để giữ mạng sống cho dân làng, Đề Kiều buộc phải buông súng với điều kiện là ông và dân làng phải được sống tự chủ ngoài vòng cương tỏa của nhà nước bảo hộ. Giặc Pháp chấp nhận vì chúng tin rằng trên danh nghĩa là có tự do, nhưng thực tế đã là “kiếp cá chậu chim lồng”, bóp chết lúc nào cũng được chẳng phải lo ngại gì nữa. Còn Đề Kiều thì không tránh khỏi nỗi day dứt khôn nguôi cho dù đã phải đem đổi cả sự nghiệp và danh dự để cứu lấy mạng sống cho dân làng. Song ông cũng tự trấn an rằng: Còn người còn ý chí thì sẽ còn sự nghiệp.

Để mua chuộc Đề Kiều, thực dân Pháp ngỏ lời phong cho ông chức quan lãnh binh tỉnh Hưng, nhưng ông cương quyết chối từ. Để có cái vỏ bọc tốt hơn ông còn giả bộ làm người thối chí, song trong thực tế ông đã tận dụng mảnh đất được tương đối “tự do” của mình để chứa chấp che chở cho những nhân vật bị Pháp truy đuổi, lùng bắt.

Đã hai lần ông đứng ra bảo lãnh cho Ngô Quang Đoan (1909 và 1913) là con trưởng của Ngô Quang Bích thoát khỏi sự sát hại của giặc, lúc ngấm ngầm, khi công khai ông còn trực tiếp tiếp tay cho phong trào đấu tranh chống Pháp ở những giai đoạn sau. Như lo việc chu cấp tiền nong và phương tiện cho đoàn quân xuất dương của Ngô Quang Đoan với Phan Châu Trinh sang Nhật. Hội kiến với Phan Bội Châu bàn kế hoạch hợp tác hành động, khi con đường quốc lộ 2 được mở ra, Cát Trù trở nên hẻo lánh, ông liền bỏ công sức và tiền của khai phá lập nên ấp Tam Lộng, ấp này ở về phía Tam Đảo giáp thị xã Vĩnh Yên thuận tiện giao lưu với các miền trong cả nước. Nơi ấy về sau trở thành một điểm hẹn gặp gỡ trao đổi giữa Ngô Quang Đoan với những yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng (1930) như xứ Nhu và về sau nữa là cả với những chiến sỹ cộng sản của Xứ ủy Bắc Kỳ như đồng chí Bùi Lâm…

Biết là dù mua chuộc hay hăm dọa cũng không thể đè bẹp được ý chí của Đề Kiều, giặc Pháp đã hèn hạ dùng thuốc độc sát hại ông ngày 14/7/1915 đúng ngày kỷ niệm nước Cộng hòa Pháp. Cái chết bất đắc kỳ tử này chẳng những bị giặc Pháp vùi sâu vào trong bóng tối để che đậy tội lỗi của chúng, mà chúng còn tung ra những luận điệu mập mờ giả dối hòng xuyên tạc bôi nhọ tinh thần bất khuất của Đề Kiều.

Sau khi ông mất, người con trai của ông là Hoàng Mẫn Tuệ tiếp bước theo cha đã có công đầu trong việc xây dựng căn cứ cách mạng trên quê hương mình tỉnh Phú Thọ. Từ nơi đây chi bộ Cát Trù - Thạch Đê - chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh ra đời, nối tiếp theo là những chiến khu vũ trang Minh Hòa - Vạn Thắng được thành lập đã góp phần quan trọng quyết định trong việc giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám.

Đề Kiều - Hoàng Văn Thúy được vua Thành Thái phong tặng “Minh nghĩa đô úy” hiệu “Anh dũng tướng quân” còn gia đình Hoàng Mẫn Tuệ con trai thứ 7 của ông cũng được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Bằng gia đình có công với nước trong đó ghi rõ:

 “Gia đình ông Hoàng Mẫn Tuệ đã có tinh thần yêu nước, tích cực giúp đỡ và bảo vệ cách mạng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám”.

Ghi nhớ công lao của Đề Kiều với đất nước, dòng họ Hoàng và chính quyền địa phương đã  xây dựng đền thờ ông dưới chân núi Đọi Đèn thuộc xã Văn Khúc. Những ngày tháng Tám lịch sử hàng năm, đền thờ Đề Kiều đón hàng ngàn lượt du khách các miền quê cả nước về đây thắp nén hương thơm tri ân công đức của ông - người thủ lĩnh của phong trào Cần Vương chống Pháp năm xưa.

                                                                                                                               T.L


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.