NỘI DUNG CHI TIẾT
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN PHÚ THỌ KHẮC GHI, THỰC HIỆN TỐT LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ DI CHÚC THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI *
11/13/2014


(Trích diễn văn của đồng chí Hoàng Dân Mạc - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh tại lễ Kỷ niệm 60 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng (19/9/1954 - 19/9/2014) và 45 năm thực hiện Di chúc của Người (1969 - 2014)

Phú Thọ là vùng đất cổ, có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, từ khi Vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, Phú Thọ luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi có Đảng, Phú Thọ luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và là một trong những tỉnh có vinh dự được đón Người về thăm nhiều lần.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Vào thời điểm đó, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đang triển khai đợt sinh hoạt chính trị quán triệt Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tình hình, nhiệm vụ và chính sách mới của Đảng; chuẩn bị nhân lực, điều kiện cho các cơ quan, đơn vị và đồng bào về nơi ở cũ; phục vụ đợt trao trả tù binh Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ tại Việt Trì… Và ngày này cách đây đúng 60 năm - ngày 19/9/1954, trên đường về Thủ đô Hà Nội, Hồ Chủ tịch đã về thăm khu tưởng niệm tổ tiên chung của cả dân tộc, dâng hương viếng các Vua Hùng. Tại đây, trong cuộc gặp gỡ các cán bộ, chiến sỹ của Đại đoàn 308 quân Tiên Phong trước khi đơn vị về tiếp quản Thủ đô, Người căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Lời căn dặn của Bác đã khẳng định một thời đại khai sinh của lịch sử dân tộc với công lao của các Vua Hùng, đồng thời khái quát cả mấy ngàn năm lịch sử; rút ra quy luật tồn tại muôn đời của đất nước và sự trường tồn của cả dân tộc. Lời dạy của Bác là lời của sông núi không chỉ giành cho Đại đoàn 308 quân Tiên Phong mà cho toàn quân và dân tộc Việt Nam trong suốt 60 năm qua và sẽ còn mãi mãi muôn đời sau.

Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết ra quy luật tồn tại và phát triển. Quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục to lớn về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần đại đoàn kết, mà còn là sự tôn vinh tổ tiên, tôn vinh Vua Tổ Hùng Vương. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, Người đã đặt cội nguồn dân tộc lên một tầm cao mới. Nhắc đến công lao của các Vua Hùng ngay tại nơi cội nguồn của cả dân tộc Việt Nam, Bác đã khơi gợi lên ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Các Vua Hùng đã có công dựng nước” là nói về những bậc tiền nhân có công lập quốc, vừa nói tới hình ảnh tượng trưng, cao nhất, thiêng liêng nhất của dân tộc -  Đó là giống nòi Việt Nam. Nói cách khác, đó là tất cả những “Con cháu Lạc Hồng” - những tinh hoa bất diệt đã tạo nên những tiền đề cho hiện tại và tương lai của dân tộc. Câu nói của Người vừa thể hiện lòng biết ơn với các Vua Hùng “đã có công dựng nước”, đồng thời đề ra nhiệm vụ kế tục, tiếp nối sứ mệnh lịch sử cao cả của lớp lớp cháu con “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Để giữ nước, Bác căn dặn phải xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đền Hùng, nơi thờ cúng Hùng Vương, tổ tiên của dân tộc Việt Nam, là cội nguồn, là đạo lý mà mỗi người dân Việt Nam luôn hướng tới và có trách nhiệm cố kết cộng đồng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ và xây dụng đất nước.

Ngay sau chiến thắng “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, mùa thu năm 1954, dân tộc ta lại bước tiếp vào một cuộc trường chinh mới mà lịch sử đã giao phó với những thử thách hết sức nặng nề. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, quật cường, bất khuất của dân tộc, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại và đã giành được thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và ngày nay đang thực hiện sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngày  02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng. Vĩnh biệt chúng ta, Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vĩ đại, một di sản tinh thần vô giá đó là tư tưởng và đạo đức của Người, đặc biệt là bản Di chúc thiêng liêng.

Di chúc là di sản cuối cùng của Người, là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh những tinh hoa đạo đức, tư tưởng và tâm hồn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn văn được viết ra đều là kết quả của sự suy ngẫm, chắt lọc sâu sắc tư tưởng, tình cảm và trí tuệ của Người, là một chương trình hành động trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lại đất nước sau khi nước nhà thống nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Người khẳng định: Vấn đề đoàn kết có tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Đoàn kết là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do sự đoàn kết trong Đảng đem lại. Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ”“Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Người tâm huyết căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Trong Đảng, phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; phải có tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Người nhắc nhủ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trọn niềm tin vào sức mạnh và vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước. Người căn dặn Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, đào tạo thanh niên thành những người kế tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng vừa chuyên”. Phải coi việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là nhiệm vụ rất quan trọng và rất cần thiết.

Thấu hiểu những gian khổ của nhân dân ta trong cách mạng và kháng chiến, Người căn dặn Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; khoan thư sức dân, bảo đảm việc làm, học tập, thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với từng đối tượng: Thương binh; gia đình thương binh, liệt sĩ; những người trẻ tuổi đã tham gia kháng chiến; phụ nữ... Làm như vậy là để tất cả mọi người có điều kiện phát huy hết năng lực của mình trong công cuộc kiến thiết, bảo vệ Tổ quốc.

Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”. Những diễn biến phức tạp trong khu vực và thế giới gần đây càng cho chúng ta thấy lời dạy của Người mang tầm chiến lược và luôn là vấn đề thời sự sâu sắc.

Di chúc thể hiện tình thương yêu bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tất cả mọi người, từ mỗi người dân Việt Nam cho đến những bạn bè trên thế giới. Từ trái tim mình, Người viết: “Tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Tự nhận thức sâu sắc về bản thân, sẵn sàng đón nhận quy luật của cuộc sống, chuẩn bị cho sự ra đi của mình, bằng phong thái ung dung tự tại, Người viết những lời tâm huyết: “Suốt đời tôi hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Liên quan đến “việc riêng” sau khi về với “thế giới người hiền”, Người đề nghị “chớ nên tổ chức phúng viếng linh đình, làm  lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”, qua đó thể hiện rõ những phẩm chất đạo đức vô cùng cao quý của Người.

Kết thúc bản Di chúc, Người nói đến điều mong muốn cuối cùng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời căn dặn cuối cùng của một lãnh tụ thiên tài, một nhà cách mạng lỗi lạc có tầm nhìn xa, trông rộng, một chiến sỹ cộng sản suốt đời yêu thương, trân trọng con người, phấn đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của con người. Những tư tưởng lớn, những phẩm chất đạo đức trong sáng tuyệt vời và chủ nghĩa nhân văn cộng sản toả sáng từ Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là nguồn sức mạnh tinh thần dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trên con đường xây dựng Tổ quốc Việt Nam theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện đường lối, chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động. Các nước lớn tiếp tục gia tăng can dự, cạnh tranh ảnh hưởng với mức độ, quy mô khác nhau; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn ra gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới. Sau gần 30 năm đổi mới, thế và lực của đất nước ta đã lớn mạnh, nhưng bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội còn nhiều thách thức vẫn đan xen: Tổ quốc vẫn chập chờn bóng giặc, các thế lực thù địch gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền… để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Dân tộc ta là dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhưng với một vị trí địa chiến lược quan trọng, chúng ta phải bao lần chống trả lại sự xâm lăng, đô hộ của kẻ thù. Chính vì vậy, trước mọi diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm hơn nữa trong thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấy là bổn phận, là tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng.

Khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi về thăm Đền Hùng và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ luôn kề vai sát cánh, chung sức chung lòng cùng đồng bào và chiến sỹ cả nước lập nên những thành quả to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Suốt chặng đường kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đã không chỉ làm tròn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ quê hương, mà còn là “hậu phương lớn”, huy động cao nhất sức người, sức của cho kháng chiến. Chỉ tính 10 năm, từ năm 1965 đến năm 1975, tỉnh Phú Thọ đã huy động gần 9% nhân lực cho chiến đấu và phục vụ chiến đấu với gần 93.000 thanh niên vào bộ đội, hơn 4.000 người tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Tại hậu phương, Phú Thọ đã tổ chức trên 600 đơn vị dân quân, du kích và tự vệ với gần 20.000 cán bộ, chiến sĩ; huy động hàng chục vạn lượt người phục vụ các chiến trường; huy động hàng triệu ngày công vận chuyển, sơ tán, cất giấu hàng hóa, sửa chữa cầu đường, san lấp hố bom, giữ vững mạch máu giao thông; xây dựng hàng vạn hầm hào phòng không nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho nhân dân, cho các cơ quan, đơn vị của Trung ương và đồng bào các tỉnh về sơ tán.

Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, lực lượng dân quân, du kích và tự vệ tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực đánh địch hàng trăm trận lớn nhỏ, lập nhiều chiến công oanh liệt. Quân và dân Phú Thọ đã trực tiếp chiến đấu 783 trận, bắn rơi 86 máy bay Mỹ; đồng thời bảo đảm giao thông vận tải thông suốt để phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

Từ sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ tiếp tục nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy mọi nguồn lực, vượt qua mọi thách thức, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ.

Từ một tỉnh nghèo, thuần nông, cơ sở hạ tầng thấp kém; công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển chậm, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, đến nay, kinh tế của Phú Thọ luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn bình quân chung của cả nước. Năm 2013, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 3 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 đô la Mỹ, đưa Phú Thọ trở thành tỉnh cơ bản thoát nghèo. Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng cao; sản xuất công nghiệp dần phục hồi. Các ngành dịch vụ tiếp tục có bước phát triển, chỉ số giá tiêu dùng được kiềm chế ở mức thấp. Huy động vốn đầu tư phát triển đạt khá. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại.

Trong lĩnh vực phát triển văn hóa - xã hội: Chất lượng giáo dục nằm trong nhóm mười tỉnh, thành phố xếp hàng đầu của cả nước, có 3 trường Trung học phổ thông nằm trong danh sách 200 trường có điểm trung bình kỳ thi tuyển sinh Đại học cao nhất của cả nước. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng. Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh từng bước được cải thiện ở cả 3 tuyến, nhất là tuyến tỉnh. Các thiết chế văn hóa được  gìn giữ, bảo tồn, nổi bật là “Hát Xoan Phú Thọ” và “Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng ở Phú Thọ” được tổ chức UNESCO vinh danh, trao bằng công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2011 và 2012. Diện mạo từ đô thị đến nông thôn ngày càng đổi mới, tiến bộ. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 12,57%, cơ bản xoá xong nhà tạm cho hộ nghèo; chính sách xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; các hoạt động nhân đạo, từ thiện được chú trọng; thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên.

Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai tích cực, có hiệu quả, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” tạo chuyển biến về nhận thức và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc làm theo gương Bác ngày càng được nhân rộng và có sức lan tỏa mạnh mẽ; nhiều điển hình tiên tiến, cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả đã xuất hiện ở tất cả các địa phương, cơ quan, đơn vị. Kết quả nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đã có chuyển biến tích cực trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, lựa chọn những vấn đề tồn đọng, bức xúc và vướng mắc nảy sinh ở cơ sở để tập trung giải quyết có hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Với những thành tựu xuất sắc đạt được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh được Đảng, Nhà nước và Chính phủ tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh; “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”; 82 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 15 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 461 mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; hàng vạn đồng bào chiến sỹ trong tỉnh được tặng thưởng huân, huy chương và các phần thưởng cao quý khác... Đây là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ, động viên Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phấn đấu giành kết quả to lớn hơn trong những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, với tinh thần cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật chúng ta cũng nhận thấy vẫn còn có những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, đó là: Tiềm lực nền kinh tế còn thấp; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn hạn chế; thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn; lĩnh vực dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; một số vấn đề xã hội chậm được giải quyết; đời sống nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị còn bất cập so với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… Đó chính là những khó khăn, trở ngại, đang thách thức ý chí quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên con đường xây dựng và phát triển.

Với tất cả tình cảm kính yêu vô hạn và niềm tin tuyệt đối vào lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp chúng ta - những con cháu Lạc Hồng trên quê hương đất Tổ biết khơi dậy những nguồn lực còn tiềm ẩn, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững, tạo nền tảng đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.

Để đạt được mục tiêu trên, trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: Tổ chức thực hiện tốt 3 khâu đột phá về đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển du lịch. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh; phát huy tiềm năng, lợi thế, tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội then chốt; tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - xã hội; giữ vững ổn định chính trị; củng cố vững chắc thế trận quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; tập trung xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của  tổ chức cơ sở đảng. Đặc biệt chuẩn bị tốt và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Tiếp tục đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân để kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.

Kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng và 45 năm thực hiện Di chúc của Bác là dịp để toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh suy ngẫm, cảm nhận sâu sắc hơn về tình cảm và tầm nhìn chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Phú Thọ cũng như đối với cả nước; cùng nhau ôn lại chặng đường phấn đấu đầy hy sinh gian khổ nhưng rất vẻ vang của quê hương đất Tổ. Chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp, hy sinh to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, quyết tâm nguyện đi theo Đảng, cùng góp sức xây dựng Phú Thọ giàu đẹp, văn minh, luôn xứng đáng với niềm tin yêu, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu...


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.