NỘI DUNG CHI TIẾT
MÙA TƯƠNG
11/24/2014

Truyện ngắn dự thi của XUÂN THU

Cả tuần nay, ông Thạo thao thức không sao ngủ được. Sau bữa tiệc bạn ông chiêu đãi chiều nay ở quán Tùng béo về, ông Thạo lại gần như thức trắng thêm một đêm nữa. Quán thằng ấy toàn tôm, cua, ốc, ếch mà đông khách thế cơ chứ. Nó kiếm đâu được loại tương khá ra phết, dẫu so với tương bố mẹ ông làm ngày xưa thì vẫn chưa bằng. Hay có lẽ, lâu ngày ông không ăn tương nên mới cảm thấy ngon đến vậy. Mà dạo này ti vi, đài báo hay nói đến chất hóa học, chất bẩn trong thực phẩm thế nhỉ? Cả chin-su, xì dầu có cái chất gì gây ung thư nữa cơ chứ? Sợ quá! Nhiều nhà xóm ông không dám mua nước chấm, chỉ dùng bột canh, muối trắng thôi. Có nhà đã chuyển sang dùng tương. Nhưng tương chợ nhạt thếch, lõng bõng chẳng ra làm sao cả. Thằng Tùng chẳng ta thán rằng kiếm được chai tương ngon bây giờ xa và khó lắm đó sao? Vậy thì tại sao ta không khôi phục lại nghề làm tương, cái nghề mà làng ông xưa kia đã sống nhờ nó, nổi tiếng nhờ nó? Nghĩ tới đó, mắt ông sáng lên trong đêm. Ông bật dậy gọi bà Thạo dậy cùng. Bà Thạo dụi hai con mắt ngơ ngác.

Ông thủ thỉ với bà những điều mà cả tuần nay ông đã trăn trở. Bà thấy không, chương trình nông thôn mới đã làm bộ mặt làng mình rạng rỡ hẳn ra. Đường nhựa, bê tông vào tận từng ngõ xóm. Nhà tầng thi nhau nâng cao. Khách sạn, nhà hàng, quán sá đua nhau mở. Nông thôn bây giờ có khác nào phố xá. Thế nhưng, tôi thấy có vẻ chưa ổn định, chưa vững chắc cho lắm. Việc làm vẫn là vấn đề nan giải phải không bà? Ruộng đất bị các dự án lấy gần hết. Lao động thừa ra. Người ta chạy khắp nơi tìm công ăn việc làm. Lên phố. Vào Nam. Ra nước ngoài. Ngay như thằng Thi, con mình, cũng Tây Nguyên, Sài Gòn mấy đận mà khi về vẫn cứ rỗng túi. Đến con dâu ông cũng dập dờn mấy bận định lên phố làm ô-sin. Tháng ba ngày tám làng vắng teo. Toàn ông già, bà cả với lũ trẻ con. Có lẽ đông đủ nhất, ồn ào nhất vẫn là mấy ngày Tết.

Bà Thạo hơi sốt ruột. Sao ông này hôm nay lại vòng vo Tam quốc mãi nhỉ? Có gì đó hệ trọng chăng? Bà thấy vậy đành cứ ngồi yên lắng nghe. Ông Thạo tiếp tục. Bà biết đấy, những năm gần đây, khi ma-ri, nước mắm đủ loại tràn ngập thì tương làng mình tự nhiên bỏ đi. Bữa ăn chỉ thấy xì dầu hôi xì, nước mắm mặn chát. Nhà nào còn dùng tương thì mọi người bảo  nhà đó là quê, là cổ lỗ sĩ phải không bà? Tương tự nhiên biến mất và trở thành hiếm hoi. Giờ đây, nó lại đang trở thành đặc sản đấy bà ạ. Thế nên, tôi định mở lại nghề làm tương cổ truyền của làng, cái nghề mà bố mẹ tôi, ông bà tôi đã sống nhờ nó khi xưa đấy. Bà thấy có nên không?

Nên gì nữa? Ông đã quyết rồi thì cứ làm thôi. Xưa nay bao giờ chả thế. Mọi việc trong nhà đều do ông Thạo quyết đáp. Ông ấy nói thế bảo là hình thức cũng không đúng lắm, mà đó là cách tranh thủ sự ủng hộ của bà. Có gì lấn cấn, ông ấy kịp giải thích để khi đưa ra “hội nghị” gia đình thì ông với bà đã về một phía. Nói là hội nghị cho oách chứ thực ra bây giờ trong nhà ông chỉ còn mỗi Nguyệt, con dâu của ông bà và hai đứa cháu nội. Chồng nó, tức con trai cả của họ đang đi làm thuê ở Tây Nguyên. Phận làm dâu thì đố đứa nào dám trái ý bố mẹ chồng. Thế nên, chỉ hai ông bà đêm nay quyết là xong.

Bà Thạo thấy chồng nói cũng phải. Sẵn nghề cũ, thương hiệu xưa, thị trường mới, tội gì mà phải mày mò nghề nào nữa, tội gì phải đi làm đâu xa cho mệt? Cần thiết gọi cả thằng Thi về nữa để mà lo việc làm tương. Có nó nữa là yên tâm. Mình có kinh nghiệm người già, nó có sức khỏe và sự năng động tuổi trẻ chắc chắn sẽ thành. Ổn định rồi thì chỉ cho cả vợ chồng thằng thứ hai, con thứ ba nữa cùng làm. Cả mấy bố con nhà ông bà sẽ “chuyên tương” cung cấp cho cả làng, cả xã, cả cái chợ quê trung du này. Thậm chí cho cả tỉnh ngoài nữa ấy chứ. Thế là “nghị quyết” về khôi phục nghề làm tương đã được ông bà Thạo thông qua.

Nguyệt ở xã bên, về làm dâu ông bà Thạo khi cái nghề làm tương của làng vừa đến hồi kết. Bao nhiêu đồ hành nghề đều đã vứt mỗi chỗ một thứ. Chum vại xếp ở xó vườn. Cối đá quẳng nơi góc bếp. Nồi chảo thì bán cho bà đồng nát... Nhiều nhà đã đập bỏ chum vại thành những mảnh sành cắm lên tường rào. Nguyệt không phải lo thức khuya dậy sớm đồ xôi, khuấy mốc, chạy nắng, che mưa cho tương nữa. Trước hôm về nhà chồng, mẹ Nguyệt đã dặn: nhà người ta có nghề gia truyền làm tương, con phải để ý mà học mà làm, kẻo lỡ hỏng mẻ nào thì khổ lắm. Là dâu trưởng con phải chịu khó, tháo vát. Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay đâu con ạ. Phúc nhà người, con được hưởng đấy. Vậy mà, lời dặn ấy của mẹ bây giờ Nguyệt mới phải để ý tới.

Cả tháng nay, vợ chồng ông Thạo cùng Nguyệt tất bật với việc làm tương. Nguyệt lớ nga lớ ngớ. Được cái, chị không giấu dốt và bà Thạo thì mau mồm mau miệng giảng giải cho con dâu. Hai mẹ con ríu rít bên nhau. Nào đi chợ đong gạo nếp, đậu tương. Nào đồ xôi, rang đỗ. Nào ủ mốc, ngâm nước đỗ. Vừa làm, bà Thạo vừa giải thích cho Nguyệt. Muốn tương ngon, chị nhớ là phải có nguyên liệu tốt. Đầu tiên là gạo nếp để đồ xôi làm mốc. Hạt gạo phải đều, không lẫn tẻ, không xát trắng quá. Xưa kia gạo nếp giã dập sáu trăm chày là được. Còn bây giờ cứ mua loại nào đều hạt, có màu vàng xen lẫn màu mận chín, vỏ mỏng, cùi dày. Loại này rang chín và trắng vừa vừa là ổn. Thứ nữa là đỗ tương, phải chọn loại đỗ ré hạt nhỏ, tròn, ăn bùi, thơm và béo. Để sản xuất một lít nước tương cần có hai lạng đỗ. Với muối thì lựa loại hạt trắng tinh, đem về nhà để một thời gian cho chảy hết nước chát mới mang ra dùng. Ngay cả việc chọn nước ngâm đỗ làm tương cũng phải chú ý. Tương ngon hay không cũng ở nguồn nước. Làng Bần người ta sử dụng nước mưa đã được tích trữ vài tháng hoặc nguồn nước ngầm ở làng. Còn làng mình thì các cụ xưa thường lấy nước ở giếng Đình. Bây giờ có giếng khoan, nước máy rồi. Nước ấy trong, không mùi vị, đã lọc qua bể cát khử tạp chất cũng được. Mình làm tương không chỉ để dùng trong nhà mà là để bán nên càng phải chú ý khâu chất lượng. Có ngon người ta mới mua. Như thương hiệu tương Bần đấy, tha hồ mà giữ