NỘI DUNG CHI TIẾT
MÙA HOA VỪNG
11/26/2014

LÊ XUÂN KHOA

 

Hoàng hôn từ gốc cây bụi cỏ nào đó lén tới. Cũng như những ngày trước đó, mẹ tôi như người trầm cảm, ít nói không cười, ngồi đâu là như mọc rễ ở đó. Trước thì không, từ ngày bố tôi xuống tàu không s vận tải hàng theo đường biển vô phía Nam không trở về bà đâm chứng ấy. Năm tháng dần trôi, chị em tôi lớn lên, mẹ khuây khỏa dần. Gia đình tôi đời nối đời sống bằng nghề đánh bắt cá biển, không còn bố, ba mẹ con sống với cảnh ăn sáng lo chiều. Đến tuổi mười lăm, thằng em tôi một mực xin m cho theo nghề bố. Nghĩ rằng, nhà có đứa con trai, tuổi chưa qua ăn i xanh chấm muối, giông bão sóng to gió lớn chng biết thế nào, ăn cháo ăn khoai, mẹ một mực không chịu. Ruộng nương không, thuyền lưới không, may nhà có mảnh vườn rng, mẹ trồng được hơn chục luống vừng. Năm vừng được mùa, ngoài ăn đưa chợ bán cũng mua được hơn tạ gạo. Bữa đực bữa cái, đêm qua ngày tới, vừng đã cho hai mùa quả.

Một chiều, thực ra chiều nào cũng vậy, những ngày biển lặng, hai chị em ra bến mua cá chạy chợ.

- Chị Thùy, chị thấy sóng vỡ có đẹp không.

Nghe câu lạ tai, tôi dừng bước, nhìn em. Lại nhìn những con sóng vươn cao đuổi nhau đến gần bờ thì vỡ tung ra bắn lên những chùm nước trắng như hoa, quả là rất đẹp. Dù vậy tôi vẫn nói qua chuyện:

- Mày không chán mắt à, đẹp gì mà đẹp, vẩn vơ.

- Em nói thật mà, chị nhìn mà xem.

Qua nhận xét của thằng em, tôi nhớ mấy câu thơ của anh Cu Nam xóm trên thế này: Nồm lên sóng lại gọi bờ, con còng gọi cát con cua gọi luồng, còn tôi tôi gọi người thương.

- Mày lại học cách nói của anh Cu Nam chứ gì.

- Đó là em thấy thế đấy chứ. Chị Thùy ơi, em xa biển em nhớ biển lắm.

Tôi ngoảnh lại nhìn em:

- Mày nói gì thế, đi đâu mà xa, vớ vẩn!

Lặng im chốc lát, em tôi rụt rè:

- Em đi thoát ly đây chị ạ.

- Mới mười bảy tuổi ai cho mày đi, vớ vẩn!

- Thật mà, thanh niên xã ta được huyện tuyển bảy người trông đó có em đấy.

Thì ra là thế. Đó là lớp thanh niên xung phong đợt hai lên đường phục vụ tiền tuyến. Chuyện đại bí mật ấy mãi ba ngày thằng Na rời nhà tôi mới tiết lộ cho mẹ biết. Kể từ hôm nó vắng nhà mẹ tôi khóc sưng húp cả hai mắt, ăn ít ngủ không, người gy ruộc nom thật tội nghiệp. Và kể từ hôm ấy, không ngày nào mẹ quên thắp ba nén nhang cắm vào bát hương bàn thờ, lầm rầm khấn khứa. Rồi khi nén nhang cháy cong vành thúng, mẹ nghĩ rằng bố tôi đã về, bà vội lầm rầm: ông Nhân ơi, ông có nghe thấy tôi nói gì không. Thằng Na rời nhà rồi đấy ông ạ, nó đi với đội thanh niên xung phong, đi đến những đẩu những đâu ấy. Ông tìm nó giúp tôi đi, ông còn nghĩ đến tôi, còn thương mẹ con tôi thì ông đưa nó về cho tôi đi ông nhá. Đầu một nén nhang chợt lóe lên tàn than đỏ, bà lại lầm rầm: Ông đồng ý rồi đấy nhá, không còn kiếm gạo kiếm cơm cho mẹ con tôi thì ông bảo nó thay ông cũng được. Nào, ông nói gì đi chứ, tôi nghe đây, sao lặng thinh như thế. Tôi có điều gì không phải với ông à, nếu có dại mồm dại miệng bảo ông bớt rượu bớt chén thì bỏ qua cho tôi ông nhá. Vợ chồng ăn ở với nhau được hai mặt con mừng chưa kịp no, gia cảnh còn rèm thưa gió lọt, ông bỏ ông đi, bây giờ đến lượt nó, tôi sợ lắm ông ạ.

Nén nhang lại lóe lên đóm than đỏ. Mẹ tôi vội vàng chắp tay vái lạy: Vậy là ông đã nhất lòng rồi đấy nhá, thế là phải ông ạ. Mỗi ngày trời sắp tắt nắng không nghe được tiếng chân của nó bước vào sân là lòng dạ tôi không cầm được ông ơi. Biết ông chồng sẵn lòng đứng về phía mình giúp mình đưa thang con trai trở về, bà tươi tắn trở lại, ăn được ngủ được, khỏe khoắn ra mấy phần. Dù vậy, dù biết người chồng ngàn lần yêu thương kính trọng đã đứng về phía mình, nhưng thương nhớ có, buồn phiền có, đêm đêm thức giấc bà lại ôm gối ôm chăn. Chiếc gối của bố tôi bà vẫn giữ đây, lúc nào cũng để đầu giường, chỗ ông từng nằm. Cái hóa được bà đã hóa. Bộ quần áo ông mặc còn sờn sờn thì bà giữ lại làm vật kỷ nim để khi nỗi trống vắng ùn ùn dấy lên bà giở ra xếp lại, ngửi vào đó cố tìm lại thứ mồ hôi nồng nồng hơi muối của chng. Quần áo bố tôi không nhiều, vẻn vẹn chỉ có hai bộ, nhiều khi bộ này chưa khô bộ trên người đã ướt. Ngoài màu nâu ông không dùng màu nào khác, không bao giờ dùng áo ba lỗ (áo lót), quần đùi và áo ngắn tay. Cái vá nhiều thì phải bỏ đi, mỗi lần may cái mới mẹ tôi lên chợ dặn người hàng vải mới có màu ông ưng ý. Khi đưa thợ may phải dặn đi dặn lại chỉ may kiểu bà ba có cúc cổ để gài. Thế đấy, thời bấy giờ quê tôi nhiều người chỉ mặc qun áo bà ba màu nâu, có ngưòi không dùng dây rút mà chỉ thắt tai hồng, đội nón không đội mũ, đi guốc mộc không quen dùng dép. Mẹ tôi mua cho ông chiếc khăn len dài ông bảo quàng vào ngứa cổ không chịu được. Chiếc khăn ấy cứ để đấy cho đến ngày ông lẳng lặng xa nhà lên tàu không số. Lúc ra đi, ông xoa đầu tôi: Bố đi dăm bữa bố về, ở nhà chịu khó đỡ đần mẹ và bảo em học Thùy nhá. Mẹ tôi nói liền: Ông đi đâu mà dăm bữa, chạc câu dây câu sao cất kỹ thế. Đến bây giờ tôi mới cảm nhận được ánh mắt ông lúc ấy chứa chan biết chừng nào, thằm sâu lắng đọng cái gì đó lưu luyến khôn cùng. Đúng, lúc đó ông không cười, không căn dặn nhiều, không gửi lời tạm biệt một ai cả. Đêm ập xuống, nón trên đầu, chiếc túi vải ông vẫn dùng đựng gạo đi biển bỏ chiếc khăn len và bộ quần áo bước ra sân. Con người ấy đặt từng bước chậm rãi mò dần khuất dần phía sau mấy cây phi lao lặng gió.

Biết người chồng một đời trân trọng đang ở nơi cuối biển đã sẵn lòng giúp mình đưa thằng con trở về, mẹ tôi dày trông mai đợi Thế nhưng, một ngày nữa mặt trời lại tụt xuống phía sau luống vừng, bà vẫn chưa nghe thấy tiếng chân của thằng con bước vào sân.

 

*

Thuận trời ngày nắng đêm mưa, vừng xanh cây bén rễ tươi tốt bời bời. Mẹ tôi mẩm chắc năm nay vừng lại được mùa đây. Đang cần mẫn với những lung vừng, mẹ lên tiếng nói vào trong nhà:

- Thùy, mày làm gì trong đó đấy.

- Con khâu lại vai áo bị nứt, có việc gì đấy mẹ.

- Mày bảo thằng Na được chuyển về xuôi không mở đường trên núi nữa phải không.

- Ô kìa, hôm nó về thăm nhà nó đã chẳng nói rồi sao.

- , câu được câu mất, nhớ nhớ quên quên. chiến tranh bom đạn, đầu óc cứ co lại hay sao ấy. Dạo này thằng vỉ ruồi đánh phá ghê quá, chẳng ngày nào không có tiếng bom tiếng đạn, nghe thấy tiếng máy bay là hồn vía tao cứ bùng nhùng lên. Nó nói phà đò cái gì, có đò còn cần gì đến phà nữa. Tao nghe nói người làm phà chở xe chở người qua sông cũng nguy hiểm không kém trận mạc chiến trường. Mày hỏi lại nó xem thử. Gì thì gì, mày cố bảo nó về thôi. Tao còn sống ngày nào phải nhìn thấy nó, tao ăn cháo để nó ăn cơm, tao ăn rau khoai để nó ăn cá. Chị em mày không quay lưng lại với tao là được rồi.

Con gái buông lời:

- Hồi nó mở đưòng trên núi mẹ bảo sớm muộn cũng bị con gái trên ấy thả bùa mê không biết đường mà về. Bây giờ được về xuôi mẹ lại sợ làm công nhân phà đưa xe pháo qua sông dễ bị bom đạn của máy bay. Chiến trường mẹ ạ, giặc đến nhà thì phải đứng lên xông trận đuổi giặc. Chng ai muốn chơi với bom đạn nhưng đã cầm súng thì phải bóp cò, bom rơi đạn lạc nói sao hết được.

- Đến bao giờ thì hết chiến tranh.

Con gái qua chuyện:

- Để con đi hỏi cái đã.

- Dạo này đã đặt lưng xuống chiếu là tao cứ thấy chiêm bao, mày có cách nào không.

- Cách gì, mẹ bảo cách gì, để làm gì cơ.

- Mày chịu khó lên đền lên điện xin cho tao cái bùa yểm.

- Mẹ! Mẹ tưởng bùa yểm yểm được bom đạn chắc.

- Nếu mày sợ khó thì để tao lên gặp ủy ban vậy.

- Mẹ lên gặp ủy ban?

- Tao sẽ nói khó với ông chủ tịch xã xin cho nó về. Sóng to gió lớn không nguy hiểm bằng bom đạn, không có người quăng câu kéo lưới, hai mẹ con đàn bà lấy gì để sng đây.

- Người ta sống được mình sống được, sao mẹ cứ sồn sồn lên thế. Nó là đứa nhanh nhẹn khỏe mạnh, lại có đồng đội của nó nữa, mẹ yên tâm đi. Vả lại nó tự xung phong lên đường thì không chịu quay về đâu mẹ ạ.

Ở bến phà, đúng như người mẹ thấy trong giấc ngủ chập chờn, bom đạn rất ác liệt. Các ngả đường quan trọng, nhất là nơi có phà ch xe chở quân qua sông, những chiếc vỉ ruồi săn đuổi ráo riết vô cùng. Bến phà của Na làm việc cả đêm lẫn ngày. Ngày chở khách và xe dân sự, đêm chở xe và quân tiến vào phía Nam. Không ít lần Na làm việc cả đêm và ngày, người gầy ruộc, mắt sục sâu như móc hết tròng. Đêm đó, kíp phà bạn đến giữa sông thì hai chiếc vỉ ruồi săn đêm lao đến. Dù pháo sáng từ máy bay thả xuống, khúc sông và làng mạc hai bờ sáng như ban ngày. Liền sau đó những trái bom lao xuống dựng lên những cột nước cao hàng trăm mét chung quanh con phà. Cùng với bom là rốc két của chúng. Cũng nhanh không kém, pháo cao xạ của ta thi nhau vun vút bay lên. Một chùm bom nữa, một chùm tiếp nữa. Chốc lát con phà lật nghiêng, người bị sức ép, người bị mảnh bom, đồng đội dìu nhau bơi vào bờ. Từ bờ, Na chạy ra nhảy xuống nước, ba lần, vào bờ rồi lại bơi ra, anh vớt được năm người ra khỏi tay thần chết.

Vạt vừng đã lại cho hoa, những đóa hoa tím xanh nom thật mát mắt. Từ lúc vừng có nụ hoa đầu vụ, mẹ tôi như bị vừng níu chân níu tay, chẳng đi đâu được nữa. Lại nhớ, nỗi nhớ con lẫn trong nỗi thương chồng. Những ngày biển động, tôm cá đắt, bà dùng vừng thay cá. Khi tiếng chày bình bịch của bà cất lên, mùi thơm của vừng rang giã giập sao thơm đến thế, hấp dẫn đến thế, cứ len lỏi vào các tế bào kẽ răng của người ta, không cao lương mĩ vị nào sánh nổi. “Tôm cá tôi nhường mẹ con đấy, bà cứ cho tôi ăn vừng quanh năm cũng được. Ông nói vậy chứ món vừng rang mặn làm thức ăn gia đình tôi dùng thường xuyên trong năm. Mà đâu chỉ gia đình tôi sống bằng nghề quăng câu thả lưới lấy con cá ở biển để tn tại, gia đình nào cũng thế cả. Chẳng những ngày sóng quăng gió giập tôm cá khan hiếm, ngay cả khi trời quang biển lặng cá đầy khoang, mẹ tôi cứ chọn những con cá tươi to đưa lên chợ. Cá không thay khoai gạo được. Rồi thì quần rách áo vá, rồi rằm tự giỗ tết, cười khóc, trăm thứ đổ lên đầu con cá. Những lần bố đưa về con cá mực to như cái quạt, chị em tôi thèm nhể dãi ra. Mẹ bảo, để mẹ bán đến tết mẹ may cho chị em mỗi đứa một chiếc áo phin da trời. Xoan đơm đầy ngõ, tết mấp mé ở sân, thằng Na đòi mẹ chiếc áo phin da trời. Mẹ xoa đầu nó: Năm nay biển động dài quá con ạ, tết sau, nhất định tết sau mẹ may cho con.

Thế đấy, ngay cả khi biển lặng cá mú nhiều, nhà tôi vẫn có đĩa vừng để trên mâm. Thằng Na không thích ăn vừng, tôi cũng không khoái lắm. Bố giống mẹ, vừa ăn vừa khen vừng thơm. Thực ra cơm nắm mà chấm muối vừng thì ngon hơn ăn với cá, củ chuối, bắp chuối, đu đủ trộn vừng thêm mấy ngọn rau thơm làm nộm thì miễn chê. Mấy lần bố gợi ý với mẹ có vạt đất ở vườn trồng khoai không hay bằng trng vừng, bà xem thử. Mẹ tôi lạnh lùng: Vừng không thay được khoai, bụng đói vừng không no được. B tôi cười làm lành: Thế thì tùy bà, khoai cũng tốt

Mẹ tôi nhẹ chân đưa từng bước trong các luống vừng. Bồi hồi, một hình ảnh và giọng nói của người chồng muôn vàn thương yêu tận tâm tốt bụng hiện dần lên. Cách mấy bước chân, có con ong đang cần mẫn trên đóa hoa đang xòe cánh. Lòng phấn chấn, bà nhẹ nhàng bước tới. Nhìn con ong, không hiểu sao đôi mắt răn reo của tuổi sắp làm bạn với cỏ lại ứa ra mấy giọt nước. Bà đau đáu rằng, giá ông ấy chưa kịp đi xa, giá ông ấy cũng được tong tả với mình bên luống vừng này có phải vui hơn không. Ô không, bà thầm mắng mình, ông ấy đang đây thôi, trên lưng con ong này thôi, ông ấy vừa đi lại, vừa làm một việc gì đó. Có lẽ ông ấy đang gọi mình, tại cái tai nghễnh ngãng mình không nghe được đy thôi. Đoán vậy, bà se sẽ bước thêm bước nữa, thầm thào: Ông Nhân ơi, tôi đây, ông có căn dặn khuyên bảo tôi gì không?

Con ong cứ cắm cúi tần tảo, lúc bên này lúc bên kia bông hoa. Bà lắng nghe. Không một âm thanh nào cất lên từ nó. Bà lại thầm thào: Có phải ông Nhân đấy không, nào, ông nói gì đi nào. Con cái đã lớn cả rồi đấy ông ạ. Thế nhưng, tôi mắng mỏ có, khuyên bảo cũng có, con Thùy thương em thương mẹ không chịu nhận lời với ai cả. Thằng Na đang công nhân phà, tôi sợ lắm ông ơi. Bom đạn dạo này ác liệt lắm, nếu nó mệnh hệ gì thì tôi không sống nổi đâu. ông còn thương nhớ mẹ con tôi thì bảo nó về với tôi đi, cháo rau qua ngày cũng được mà. Tôi biết, cho dù một mai thân già này không giúp đươc gì cho nó, nhưng tôi cũng là cột trụ, một cái cột trụ chng cứng cáp gì còn hơn không cha không mẹ, phải vậy không ông. Này ông, ở thế giới siêu linh, giúp được cái gì thì ông giúp, phù hộ được cái gì với sức lực của ông cho mẹ con tôi thì ông phù hộ, ông hãy thường xuyên đi về an ủi động viên mẹ con tôi đấy nhá. Đến ngày thu hoạch vừng bận gì thì bận ông phải về, đừng vắng mặt ông nghe, ông Nhân ơi, cho tôi nói lời này nữa, nếu quả ông là ông đang trên cánh con ong này, nếu ông đã nghe rõ được những lời tôi nói, thì ông hãy bảo con ong cất cánh lên xem nào. ông có nghe tôi nói gì không, ông Nhân?

Dứt lời, mẹ tôi hơi hoảng, vừa hoảng vừa mừng, con ong liền cất cánh bay đi. Bà nhìn theo, một cái chấm nhỏ xa dần, mờ dần, cái chấm nhỏ ấy biến vào khoảng không vô cùng vô tận, bà không thể nào xác định được nó bay về đâu, nơi hạ cánh là một cõi vô biên vô hạn nào.

 

*

 

Một ngày tiếp nữa lại trôi qua. Đêm dài tựa mặt trời ngủ quên, chẳng thấy gà đập cánh gọi sáng. Mẹ tôi ngồi dậy, bước ra sân. Không gian vẫn màu ấy, đen như mực. Tần ngần một lúc, bà quệt chân bước đốn vạt vừng. Không màu sắc, không mùi vị, văng vẳng bên tai chỉ có tiếng dế kêu sương ong ong như những tiếng than vãn. Chẳng biết làm gì, chẳng muốn làm gì, bà quay vào nhà, quẹt diêm châm ngọn đèn dầu đặt lên bàn thờ. Dù đã vặn cho ngọn đèn cháy rất nhỏ, bà vẫn dùng mảnh giấy bao quanh chiếc bóng để hạn chế ánh sáng. Thời buổi bom đạn thế đó, những chiếc vỉ ruồi chẳng biết từ đất hay lòng biển, bỗng chốc rú trên đầu, thoạt thấy ánh sáng là chúng vòng lại, nghi ngờ thì cho mấy loạt rốc két, xác định có cuộc họp, có tụ tập là cắt bom. Lại như những lần trước đó, bà thắp ba nén nhang cắm vào bát hương, lầm rầm khấn khứa.

Từ giường trong, nhận thấy mùi hương, Thùy ngồi dậy. Thì hóa ra, cũng như mẹ, những ngày này cô khó được giấc ngủ sâu, cứ chập chờn, nghĩ khôn nghĩ dại. Lúc còn cây ổi cây xoan, những đêm trăng sáng, khi mẹ ngủ say, khó chợp mắt, cô ra đứng dưới gốc đếm sao để con sâu ngủ lần tới mới quay vào giường. Từ ngày có phong trào chặt hạ cây trong vườn để sửa cầu lót đường, cô không dùng bài đếm sao nữa. Dù sao thì giấc ngủ cũng khó trở lại, cô lại khẽ khàng nằm xuống, để mẹ yên tĩnh khấn khứa cho khuây khỏa nỗi lòng.

Yên tĩnh, vắng lặng, mẹ tôi kính cẩn đứng trước bàn thờ nhìn những cây nhang tỏa khói, lầm rầm những điều chỉ có bà nghe được, biết được. Những làn khói của nhang đêm nay lạ quá, cuộn tròn tròn quấn quýt một lúc mới bay thẳng lên rồi luồn qua kẽ hở cánh cửa bay ra ngoài. Có lẽ mình quá lời chăng, bà thầm nghĩ, những li mình yêu cầu quá sức với ông ấy chăng. Không, nhớ lại, bà một hai chỉ nhờ ông đưa thằng Na về cho bà thôi, không cầu mong ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý gì cả. Bà biết người chồng ngàn lần thương yêu kính trọng, ngoài việc lầm lụi quăng câu kéo lưới chẳng có tài ba gì hơn người, vả lại, bà cũng biết, đến cả trời Phật, thần thánh, ban lộc ban của, ban cầụ được ước thấy, ban vạn sự như ý cho mọi người, thì lầy đâu ra mà ban, mà rải cho khắp.

Ba cây nhang cháy đến phân nửa, lúc lặng nhìn, lúc lầm rầm khấn khứa. Có tiếng chó sủa xa xa. Lòng rộn ràng, mẹ tôi chợt nghĩ, có lẽ thằng Na đã về. Bà toan chạy vào gọi con gái dậy. Vậy nhưng, chẳng rõ vì sao, hai cẳng chân như bị nn nhà giữ lại líu ríu muốn bước mà không nhấc nổi.

Con thạch sùng trên xà nhà kêu chát chát chát. Âm vang của nó lúc này mới to làm sao, làm mẹ tôi như tỉnh cơn mê. Con thạch sùng thôi kêu, đêm tr về ắng lặng. Bà lắng nghe, không có tiếng chân nào bật lên trong sân cả, hoàn toàn không! Cùng lúc đó, phía bến phà, dù pháo sáng sáng đến tận thôn xóm cùng với tiếng bom dậy đất đập vào tai mẹ tôi. Bà thốt lên, trời đất, bom đạn đâu mà lắm thế. Bà biết, mỗi lần có tiếng bom tiếng đạn chui vào tai lại có thêm những vòng tang thít chặt lấy đầu người dân vô tội, mẹ mất con, vợ mất chồng, tiếng ai oán lại râm ran. Bà tự nhủ, đến bao giờ thì hổ đạn bom, đến bao giờ thì hết chiến tranh đây. Rồi một lời nhắn nhủ nào đó cộm lên trong tâm trí bà, có lẽ là của ông Nhân đang quăng câu kéo lưới dưới biển. Rằng, cũng sắp kết thúc rồi đấy bà ạ. Rằng, còn giặc thì còn chiến tranh, còn chiến tranh thì còn chiến đấu, còn chiến đấu thì còn nhiều vòng tang như nấm dại quấn quanh đầu. Rằng, nhưng bà ơi, người này ngã xuống thì người khác đứng lên, con phà này bị phá thì có con phà khác, không thể khoanh tay run rẩy trước kẻ thù được đâu. Chờ cho ba cây nhang cháy gần hết, mẹ tôi thắp tiếp ba cây nữa, lầm rẩm khấn khứa mới quay vào giường. Nhưng làm sao bà chợp mắt được bởi bà là người mẹ, bởi ngừơi mẹ có đứa còn đang ở ngoài vòng tay của bà.

Sáng ngày hôm sau, trời không mưa không nắng, những ngọn gió từ mạn Đông Bắc mang những đám mây vẩn vùn vụt tạt vào nơi thôn dã. Cô gái Thùy dậy sớm hơn thường lệ đã thấy mẹ lúi húi trong những lung vừng. Mùa vừng năm ngoái, ngoài ăn còn bán mua được hơn tạ gạo. Tuy không nh vậy mà có miếng ăn miếng để nhưng có luống vừng cũng đỡ được phần nào cho gia cảnh khi người cha đã đi xa, nữa là cũng có chỗ để mẹ chăm bón cho vui tay vui chân. Thùy lại nhớ, trước ngày có luống vừng, cây ổi già quả đỏ lòng sai chi chít. Mỗi lần trẩy ổi, mẹ chỉ cho chị em mỗi đứa năm quả. “Thế thôi, ổi không thay được sách v cho chúng mày đâu, cái áo của thằng Na cũng vá một miếng rồi”. Hôm chặt cây ổi thằng Na khóc mấy ngày, tôi cũng tiếc đau ruột đi.

- Mẹ ơi, con đi đây mẹ nhá.

Mẹ không nhìn tôi:

- , đi đi, nhớ bảo nó không xin được thôi việc thì mỗi tháng về thăm tao một vài lần, tao chẳng còn mấy năm my tháng nữa đâu.

- Mẹ nói gì mà sợ thế.

- Thì tao cũng nói trước với chị em mày như thế. Trong túi áo tao con mấy đồng đấy, đưa đi cho nó để nó thêm thắt ăn uống vào.

Thùy cho vào túi vải chục con cá mực khô, mấy khúc cá nướng, một chai nước mắm ngon, tong tả ra đi. Hăm h bước được dăm chục bước, chợt cô dừng lại, quay về vì quên nón.

Trời sáng hẳn, cô lại vội vàng sải bước. Phía biển không bình minh, những con sóng âm thầm đang đón đợi một đợt gió giận dữ nào đó. Bến phà còn vài chục bước chân, cầm chắc túi quà, cô bước theo những người cùng hướng xuống bến. Không kịp, phà đã cách bờ vài con sào. Nhìn thấy em trai trên phà, cô gọi to:

- Na, chị đây!

Người em ngoảnh lại, cũng gào lên:

- Chuyn sau, chị quay lại đi, phà không quay vào đâu.

Khi con phà đã ra gần giữa sông, ba chiếc vỉ ruồi từ phía biển lao vào, tiếng rít xé bầu trời đang yên lặng. Cùng lúc, pháo mặt đất của ta vọt lên, khoảng không trên cao phút chốc trở thánh một vùng hoa đạn thi nhau tung tóe nở. Ba chiếc vỉ ruồi không bỏ cuộc. Lát chốc một chiếc trúng đạn nhả ra luồng khói đen đâm vào dãy Trường Sơn. Hai chiếc còn lại điên cuồng thả bom, những cột nước cao như thác vọt lên, con phà không còn cơ hội cặp bờ cho người thoát nạn. Một quả bom rơi đúng giữa sàn phà, con phà nặng nề vỡ tung, chìm dần. Trước mặt Thùy, dòng sông yên bình bỗng chốc trở thành dòng sông máu, xác nạn nhân vô tội nổi lềnh bềnh, không một người sống sót.

Ngày hôm đó, cả những ngày hôm sau, cô không một phút nguôi ngoai. Căm giận có, nghĩ về đứa em bé nhỏ nhiều hơn. Chiến tranh, chiến đấu, mất và được. Đời là thế ư, cô mung lung, vẫn biết không có cái gì được mà không mất cái gì, ai được ai mất? Bàng hoàng, loạng choạng, đôi mắt mờ nhòa. Chiến tranh, cô lại thốt lên lần nữa, đến bao giờ con người với con người không nói chuyện với nhau bằng súng đạn đây, con người thông minh hơn loài cầm thú cơ mà...

L.X.K


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.