NỘI DUNG CHI TIẾT
NGƯỜI MẠNH HƠN SẮT THÉP
11/27/2014

(Triệu Hồng)

Tôi quen thân anh Nguyễn Đình Dĩnh từ khi anh mới về nghỉ mất sức ở xã Thanh Minh, thị xã Phú Thọ. Nhà vợ chng anh làm bên bờ sông Thao, trong khu vực khu tập thể của xí nghiệp thủy lợi. Chúng tôi cùng là người huyện Cẩm Khê, hai xã Văn Khúc và Yên Dưỡng gần kề, cùng đi bộ đội chống Mỹ, cùng ở Đoàn Trường Sơn lại có quen biết vợ chồng anh từ thời nhỏ nên anh em càng yêu mến nhau.

Nhiều hôm được nghỉ dạy học, tôi vào lao động đóng gạch, gánh gạch và vớt củi trên dòng sông Thao mỗi lần nước lũ. Những buổi trưa, tôi nghi tại nhà anh chị, có lần anh cho tôi xem về những chiến công lập được trong đời bộ đội. Anh được tặng 4 Huân chương chiến công: Hai huân chương chiến công hạng Hai, hai huân chương hạng Ba. Hai huân chương It-xa-la hạng Hai của Nhà nước Lào. Bảy lần được công nhận là Chiến sỹ Thi đua, hai lần được công nhận là Chiến sỹ Quyết thắng và hàng chục bằng khen, giấy khen. Tôi đã đọc một bài báo Trường Sơn - cơ quan ngôn luận của Đoàn Trường Sơn ca ngợi anh Dĩnh là người“ Mạnh hơn sắt thép” anh cắt giữ làm kỷ niệm. Từ đấy tôi rất phục và quý anh, vì chẳng có mấy người đi bộ đội chống Mỹ có nhiều chiến công như anh.

Chân dung ông Dĩnh

Thời gian trôi nhanh, tôi bận nhiều công tác không thường xuyên đến thăm anh Dĩnh được. Ch đến khi về nghỉ hưu có thì giờ vào thăm anh và gặp những người đồng đội cùng chiến đấu với anh Dĩnh kể lại. Tôi mới biết rõ về những thành tích của anh Dĩnh trên đường Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông vô cùng ác liệt, anh thực là một người “Mạnh hơn sắt thép” như một phóng viên đã viết bài ngợi ca.

1.     Những ngày Trường Sơn Tây.

Anh Dĩnh đi bội đội ngày 14 tháng 9 năm 1965, lên Thái Nguyên luyện tập 3 tháng rồi được lệnh B dài. Tháng 1 năm 1966 vào đến Tuyên Hóa ( Quảng Bình) thì được bổ xung vào Đoàn 559, chuyển vào tuyến 1, lúc ấy đoàn chưa thành lập. Binh trạm. Chiến sỹ Dĩnh được chuyển vào B6 (Trung đội 6) cầu phà, khí tài là: phao thuyền ĐLB, dầm và ván do Liên Xô viện trợ. B6 có trên ba mươi người, Dĩnh được biên chế vào AI do anh Nghiêm Sinh Phượng làm Tiểu đội trưởng và hơn 10 chiến sỹ nữa. Ngày ấy, ta bắt đầu chuyển sang vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam bằng xe vận tài quân sự, qua thời gùi thồ “ đi không dấu, nấu không khói”, và giai đoạn thồ hàng bằng xe đạp. Tuyến đường Tây Trường Sơn lúc đó chỉ có đường 12 và 128, từ đèo Mụ Giạ qua đất Lào vào chiến trường. B6 cầu phà, thuộc tiểu đoàn 25 công binh, được lệnh triển khai bắc cầu qua sông Sê Băng Phai vào ban đêm cho xe ta qua. cầu có thế chở được xe nặng 4 tấn và hàng 4 tấn nữa là 8 tấn. Lúc đầu kẻ địch chưa biết, xe ta đi suôn sẻ, vận tải được nhiều hàng hóa cho chiến trường miền Nam.

Chỉ một thời gian ngắn, Sê Băng Phai trở thành trọng điểm đánh phá rất ác liệt của máy bay Mỹ. Máy bay trinh sát OV1O, OV2, C130 của địch xăm soi suốt ngày đêm. Ban ngày thì lũ “ thần sấm F 105”, “con ma F 4”, AD6 bắn phá, ném bom rất dữ dội. Ban đêm thì AC130 thả pháo sáng, bắn xối xả đạn 20 ly và đạn 40 ly. Cán bộ chiến sỹ B6 phải thực hiện tốt nhiệm vụ giữ cầu phà, bắc cầu phà bảo đảm cho xe qua. Hơn ba chục người của B6 phải làm rất nhiều việc: chập tối thì bắc cầu phà, đứng hướng đẫn cho xe ta qua, gần sáng thì thu cầu phà, cất giấu phà. Cứ như thế đêm nào cũng thức trắng, ban ngày thì về cứ trong lèn đá Nha Vai tranh thủ ngủ, có việc lại phải dậy làm ngay.

Gian khổ ác liệt thế chẳng ai nao núng, anh Dĩnh là con em nông dân vùng Đọi Đèn và đầm Meo quen gian khổ nên chịu đựng vất vả tốt. Địch đánh phá ác liệt và âm mưu là ngăn cản bằng được tuyến vận tải bằng xe cơ giới. Chúng liên tục thả bom bi, bom phá, bom khoan, mìn lá, mìn tai hồng, bom từ trường, bom vướng, bom na pan và cây nhiệt đới (cây thu phát tín hiệu). Thôi thì đủ loại bom, mìn! Ta phải kiên quyết giữ đường, thông đường cho xe ta vào chiến trường chi viện. Đường Trường Sơn thành con đường chiến lược, đường huyết quản của ta không thể để đường ách tắc. Khẩu hiệu của ta là “ Địch đánh ta cứ đi”, không để cho đường ngừng trệ một ngày. Vì miền Nam một thịt, thề hy sinh chứ không chịu thua giặc Mỹ. Quyết tâm ấy thành ý chí quyết chiến quyết thắng.

Giặc thả bom từ trường, ta phá bom bằng nhiều cách. Lúc đầu phải dùng thuyền sắt phá bom, ai là người cảm tử đẩy thuyền cho bom nổ, giữ cầu phà, cho xe qua sông an toàn. Đơn vị yêu cầu người tình nguyện phá bom, anh Dĩnh là người đầu tiên xung phong làm việc đó. Hàng chục quả bom từ trường đã được phá, cho cầu phà an toàn, thông đường cho xe qua. Có lần đi thuyền cùng anh Quyết tiểu đội phó vừa đẩy qua, bom từ trường nổ, hất tung cả hai người lên, may là thuyền chỉ bị thủng vài chỗ, người văng xuống sông vẫn tỉnh táo bơi vào bờ. Sau này ta có kinh nghiệm, lấy thùng phi gò ra những loa nổi nối buộc dây dong thả trên mặt nước, hay gói những bọc sắt nhỏ vào túi ni lông, tạo khe hở cho bom nhiễm từ thi nổ đỡ nguy hiểm hơn dùng thuyền sắt đẩy sào qua bom gây nổ. Về sau ta chế ra xe phóng từ phá được nhiều bom từ trường đỡ vất vả nguy hiểm hơn.

Ban ngày, địch ném bom phá, bom nổ chậm. Đơn vị phải tìm cách phá bom để giải phóng đường cho xe qua. Trên đường có bom nổ chậm phải tổ chức phá. Khi địch ném bom, đài quan sát Sông Đà, báo quả nào đã nổ, quả nào chưa nổ là bom nổ chậm. Khi biết quả nào rơi trên đường hoặc gần rệ đường thì phải phá ngay. Anh Dĩnh cũng là người thường xuyên chui xuống hố bom nổ chậm. Hổ bom nhỏ, anh em phải buộc chân anh vào những sợi dây dù, dây ni lông thả xuống và kéo lên. Người chui xuống tìm bom, cho bộc phá gài vào thân bom. Lúc chui xuống mà bom nổ thì người chui, lẫn người đứng kéo dây đều tan xác pháo. Biết vậy, nên phải làm nhanh, thao tác nhanh, làm thật chắc chắn phá cho kỳ được bom. Mọi người phải vượt qua nỗi sợ hãi để hoàn thành nhiệm vụ. Anh Dĩnh nói, lúc chui xuống thì quên đi cái chết, phải chịu đá sắc, dễ cây cứa vào da thịt. Đau đớn lắm, nhưng không kêu ca gì, sợ ảnh hưởng tư tưởng của anh em. Nhiều đêm anh Dĩnh xung phong ngồi trên chiếc xe đầu dẫn cho cả đoàn xe qua cầu, trong khi máy bay bắn chặn, bom bi nổ chậm ùng oàng. Lúc xe ta bị bom na pan anh cũng là người đầu tiên lao vào dập lửa để cứu xe hàng. Những ngày làm đá lát đường, đẵn cây làm cầu anh Dĩnh cũng là người làm với năng xuất cao nht.

Loại bom vướng cũng được giải quyết bằng cách kéo dây. Làm những dợi dây thép gai, kéo cho dây của bom cuốn vào, gây nổ. Các loại mìn lá, mìn tai hồng thì nhặt đi, phải nhặt cho kỳ hết, không để xe ta đi chèn lên và người đi dẫm phải. Bom nổ gây hỏng lốp xe, hoặc người bị thương nhiễm độc phải cưa chân. Cây nhiệt đới dùng để do thám cũng được công binh ta phát hiện tháo gỡ và phá. Giặc Mỹ cậy vào bom đạn, công nghệ để ngăn chặn ta, phá ta. Chúng ta chiến thắng chúng bằng ý chí kiên cường, bằng trí thông minh và lòng dũng cảm phi thường.

Khi xe ta đi vào, xe đi ra hết thì phải tháo cầu trước khi trời sáng. Đơn vị phải nhanh chóng gỡ cầu thuyền về nơi an toàn, không để lại dấu vết. Nhiều lúc neo cầu bị mắc do những cây cối trôi ngầm giữa dòng, chiến sỹ phải lặn xuống nước tháo gỡ cho nhanh. Nước sâu, vào tháng một chạp, hay giêng hai, nước lạnh cóng, phải gắng chịu đựng, lắm khi tê tái cả chân tay. Thuyền sắt bị bom phá thủng, nước tràn vào thì phải xé quần áo, thút nút cho nước không tràn vào thuyền. Ta không có thuyền mới, phải lấy ống pháo sáng, mảnh thùng bom bi, cắt ra, khoan, hàn lại bảo đảm cho thuyền không rỉ nước. Ta vẫn có thể bắc cầu lên phao thuyền cho xe tải qua.

Qua thử sức lòng dũng cảm và bằng những hành động anh hùng, anh em trong đơn vị tín nhiệm bầu anh là Chiến sỹ thi đua trong năm 1966 năm đầu tiên vào chiến trường. Được đơn vị động viên kịp thời, anh Dĩnh rất phấn khởi. Mùa mưa năm đó, anh cũng là người xung phong ở lại để tham gia tiễu phỉ, chuẩn bị nguyên vật liệu như gỗ đá làm đường, làm cầu cho chiến dịch vận tải mùa khô năm sau.

Mùa khô năm 1966 - 1967, đoàn 559 phát triển mạnh, thành lập các Binh trạm, đơn vị anh Tiểu đoàn 25 công binh biên chế vào Binh trạm 31. B6 phát triển thành Đại đội cầu phà vào đầu năm 1967. Anh Nguyễn Công Chữ làm đại đội trưởng, anh Nguyễn Công Tố chính trị viên, các anh Đức, anh Hiền cán bộ B6 lên làm cán bộ đại đội. Anh Phượng tiểu đội trưởng lên làm trung đội trưởng, Dĩnh được đề bạt làm tiểu đội trưởng. Đại đội lúc đầu cũng có trên một trăm anh em, nhiệm vụ là bắc cầu phà, làm ngầm cho xe qua sông. Chiến trường đang cần thiết có vũ khí đạn dược, lương thực. Quân Mỹ đang tăng quân nhằm tìm cách tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Chúng mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Tuyến đường Trường Sơn- 559, giữ vai trò quan trọng sống còn với công cuộc giải phóng miền Nam và cách mạng Lào và Căm pu chia.

Kiểu bắc cầu nổi ở Sê Băng Phai không còn thích hợp, đại đội cầu phà chụyến sang cách bắc cầu chìm dưới mặt nước 50 cm, để máy bay Mỹ không phát hiện được. Ta làm nhiều bến vượt, nhiều cầu. Trên Sê Băng Phai ta làm ba bến vượt, đặt tên là 15B, 15D, 15E, một bến ngầm 15C đi vào giữa mùa khô, khi nước sông cạn. Kiểu cầu quân sự này, khi bắc phải lặn xuống nước đặt các giá cầu, định vị bằng dây cáp, néo cho chắc, xếp những thanh cầu dài bốn mét do ta chặt cây rừng, dùng dao, dìu làm thành những thanh sàn cầu. Nước sông sâu, không có phương tiện áo lặn, phải lặn bộ. Phải đặt giá cho thật vững, mới ghép cầu, ghép ván. Công đoạn quan trọng trước tiên là đặt hàng loạt các giá cầu, neo giữ cho thật chắc chắn, sau đó mới chuyển sang giai đoạn bắc ghép cầu. Cầu bắc rồi thì hướng dẫn cho xe qua, anh em cán bộ chiến sỹ công binh phải đứng làm cọc tiêu cho xe đi trên cầu. Mỗi đêm hàng trăm xe qua cầu, niềm vui sướng được cống hiến sức mình cho công cuộc giải phóng miền Nam trào dâng trong mỗi người, làm cho cán bộ chiến sỹ quên đi mọi gian khổ, nguy nan.

Giặc Mỹ, chúng cũng phát hiện ra cầu chìm, cho các loại máy bay đánh phá. Bầu trời sông Sê Băng Phai và trọng điểm Pắc Pha Năng không một lúc nào vắng tiếng máy bay. Máy bay trinh sát OV1O ban ngày xăm soi, phát hiện dấu vết bắn pháo hiệu cho các loại máy bay ném bom. Vẫn các loại bom từ trường, bom nổ chậm, ta tiếp tục rà phá, bảo vệ cầu và bảo vệ đường. Lúc này, ta đã triền khai pháo cao xạ 37 ly tầm cao, 12 ly 7 tầm thấp bảo vệ các trọng điểm. Pháo cao xạ đã bắn rơi nhiều máy bay. Anh Dĩnh kể, một lần đi kiểm tra đường, thấy cao xạ 37 ly bắn lên một điểm xạ ba viên, chiếc máy bay F4 bị trúng đạn, bốc cháy, viên phi công nhẩy dù cách anh khoảng hơn một nghìn mét. Không chậm trễ, anh vận động tiếp cận tên phi công, không để cho bọn giặc trời tìm cách cứu nhau. Tên giặc lái Mỹ tháo dù, cầm lấy súng ngắn tự vệ, dùng máy bộ đàm gọi máy bay trực thăng, máy bay phản lực ứng cứu. Mặc cho máy bay địch gầm rú trên đầu, anh đã tiến sát gần tên phi công vài chục thước. Linh tính nó biết có người đến bắt mình, tên phi công quay lại phía anh. Nhanh trí anh đánh lừa nó, bằng cách để chiếc mũ cối của mình trên lùm cây cao, để nó chú ý về phía chiếc mũ. Anh bò vòng về phía sau đến nó, cách chục mét tên phi công không phát hiện ra. Anh đưa súng lên nhắm vào chân nó mà bắn. Tên giặc lái trúng đạn, hoảng loạn giơ tay lên hàng. Anh chạy lại thu súng, thu máy điện thoại, cắt dây dù trói gô nó lại, băng bó cho nó và dìu nó vào trong rừng cây. Bọn giặc tri, không nhận thấy tiếng gọi của tên giặc lái, gầm rú quần đảo một thôi rồi bỏ cuộc. Anh bắn ba phát súng báo hiệu cho người đơn vị ra đưa về. Tên phi công ngoan cố, không nói và không ăn gì, mãi khi được Binh trạm trưởng Khúc Trường Thành đến, nói với nó bằng tiếng Anh, nó mới chịu ăn uống và chịu cho ta đưa về Binh trạm bộ. Hành động một mình gan dạ, thông minh bắt sống phi công Mỹ được cấp trên cấp bằng khen và anh em đồng đội rất khâm phục.

Giặc Mỹ vẫn tiếp tục đánh phá ác liệt. Nhưng không th ngăn bộ đội cao xạ, bộ đội công binh, bộ đội xe vận tải thực thi nhiệm vụ giữ đường, thông đường, vận tải hàng chục vạn tấn hàng hóa cho chiến trường. Anh Đĩnh và đồng đội tiếp tục xung phong làm các nhiệm vụ khó khăn như đặt giá cầu, rà phá bom, mìn, trong bom đạn cùng anh em làm tiêu, dẫn đường cho hàng trăm xe qua cầu an toàn trong mỗi đêm. B trưởng Nghiêm Sinh. Phượng người chỉ huy trực tiếp và đông đảo anh em đã chúng kiến hàng chục lần anh Dĩnh có những hành động anh hùng quả cảm. Nên năm nào anh Dĩnh cũng đạt được danh hiệu cao Chiến sỹ Thi đua và danh hiệu Chiến sỹ Quyết thắng. Ngày ấy, đơn vị đã có kế hoạch xây dựng Nguyễn Đình Dĩnh trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang trang nhân dân.

Năm 1968, ta mở thêm tuyến đường 20 Quyết thắng vượt Trường Sơn, Đơn vị B6 được lệnh đi chi viện cho đại đội 6, tiểu đoàn 33 công binh, thuộc Binh trạm 32, do anh Cao Văn Sỹ người làng Văn Khúc - Cẩm Khê làm đại đội trưởng. Cũng là nhiệm vụ bắc cầu nổi qua sông Ta Lê, anh Dĩnh đã lập thành tích xuất sắc cũng được đơn vị bạn bầu là Chiến sỹ thi đua và cấp bằng khen. Đại đội 6 được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng Cờ Luân lưu Quyết thắng. Sau đó, anh mới biết giá trị của các chuyến hàng vận tải lương thực vào mùa mưa, qua cầu thuyền Ta Lê năm ấy đã giúp cho bộ đội ở chiến trường miền Nam thoát khỏi nạn đói hoành hành. Chính vì anh luôn có những chiến công đột xuất và hành động anh hùng nên được Nhà nước tặng ba Huân chương Chiến công chỉ trong một thời gian ngắn. Huân chương Chiến công hạng Hai đầu tiên được Bác Tôn Đức Thắng - Chủ tịch Nước ký ngày 20/10/1969, hai chiếc Huân chương Chiến công hạng Ba được Chủ tịch Nước ký ngày 12/11/ 1969 và 16/1/ 1971. Những chiếc Huân chương này kèm theo giấy báo công đều được gửi về gia đình ở hậu phương đã kịp thời động viên mọi ngườỉ.

Đ phát triển lực lương, cần phải đào tạo cán bộ tại chiến trường. Năm 1970, anh Dĩnh được cấp trên cử đi học trường quân chính của Đoàn 559. Tháng 1/1971, anh được về làm cán bộ Đại đội 6, Tiêu đoàn 2 công binh Anh hùng thuộc Binh trạm 12. Anh lại chỉ huy đại đội làm cầu ngầm quân sự trên trọng điểm Sen Phan, vẫn là các công việc thường làm, ở cương vị phụ trách đại đội, anh lo lắng bởi trách nhiệm. Động viên anh em chiến sỹ làm việc trong một trọng điểm địch đánh phá ác liệt, bảo đảm cầu ngầm chắc chắn cho xe qua. Trong mùa khô này, hàng nghìn tấn hàng hóa bao gồm lương thực và vũ khí được chở vào chuấn bị tích cực cho các chiến dịch lớn. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào nổ ra, đơn vị anh vừa phải làm tốt cầu ngầm vừa tham gia chiến đấu khi địch lấn chiếm Sê Pôn. Niềm vui sướng vô cùng suốt mùa khô năm ấy đơn vị anh trong đội hình bộ đội Việt Nam và Lào lập chiến công đập tan cuộc tiến công chiến lược của Mỹ ngụy.

2.     Những ngày ở Trường Sơn Đông và làm chuyên gia giúp bạn Lào

Tháng 12/ 1971, đơn vị anh gồm toàn bộ Tiểu đoàn 2 Anh hùng lật cánh sang phía đông. Đơn vị tập kết tại Nông trường Quyết thắng thượng nguồn phía bắc sông Bến Hải, phát triển vào động Ông Do khoảng 6 km, qua đường 9 tới bến Thịnh Tất cũng khoảng 17 km. Đơn vị có nhiệm vụ làm đường, khôi phục đường xá, chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí. Đương nhiên chỉ mở được đường dã chiến nghĩa là đường mà là không phải đường. Tại Đông Trường Sơn, rừng già thì B52 đánh phá, máy bay trực thăng thả chất độc hóa học đi-ô-xin, đồi rừng bị hủy diệt, cây cối mới mọc lưa thưa, lúp xúp. Để chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Quảng Trị vào tháng 4 năm 1972, ta phải chuẩn bị tốt về mặt hậu cần. Chuyển dần vào phía trong những mặt hàng thiết yếu, bộ đội công binh phải đào hầm hào, ngụy trang mặt đường, làm cầu ngầm qua sông, qua suối, tham gia vận chuyến hàng hóa. Máy bay B52 đánh bom rải thảm và các loại máy bay Mỹ cường kích hoạt động quần đảo suốt ngày đêm, tầu chiến Mỹ từ ngoài biển bắn vào nhằm ngăn cản sự chi viện của ta vào chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế.

Đại đội 6, cùng toàn thể Tiểu đoàn 2 và cán bộ chiến sỹ Binh trạm 12 làm nhiệm vụ hậu cần cho chiến dịch lịch sử năm 1972. Mặt trận Quảng Trị trở thành khâu quan trọng nhất của chiến dịch này. Tại mặt trận Quảng Trị quân ta thắng lớn, chỉ mấy ngày đầu tháng 4, quân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Các vị trí của địch ngăn chặn ta trên đường số 9 từ Đông Hà đến Lao Bảo đã được giải phóng. Đơn vị đại đội 6 của anh Dĩnh được điều đến bến Thịnh Tất, bắc cầu nổi cho xe vận tải qua sông Thạch Hãn. Mỹ ngụy phản kích, đánh chiếm thị xã Quảng Trị và chiếm lại những vùng đất đã bị mất ở Hải Lăng và Triệu Phong. Cuộc chiến trở nên vô cùng ác liệt, ta phải kiên quyết giữ vùng đất vừa giải phóng và đánh kìm chân địch trên chiến trường Quảng Trị.

Trải gần 10 tháng trời và nhất là thời gian 81 ngày đêm vô cùng ác liệt trên quãng đường huyết mạch Đông Trường Sơn, suốt cả mùa mưa, chiến sỹ công binh phải bám đường, gần như gìm mình chịu đựng mưa bom bão đạn. Không có rừng già, không có núi đá, lèn đá như Trường Sơn Tây phải giơ mình ra chịu đựng bom đạn. Chiến sỹ ta phải đào hầm, ngụy trang hầm thật khéo không để cho địch phát hiện. Ban ngày phải ngồi dười hầm, ăn gạo sấy, không ai được ra khỏi hầm. Không ai được vô kỷ luật, tự ý ra đường, khi chưa có lệnh. Trời mưa nước ngập phải tát nước ra mà ngồi, mà nằm ngủ. Ban đêm thì ra khỏi hầm làm nhiệm vụ bắc cầu nổi, làm bến ngầm cho xe qua sông qua suối, không làm đường, làm cầu thì vận chuyển lựơng thực và vũ khí.

Ở cương vị đại đội trưởng, anh Dĩnh rất lo lắng tới việc lãnh đạo đơn vị của mình phải hoàn thành nhiệm vụ. Bộ đội phần nhiều lính mới, là sinh viên các trường cao đẳng, đại học không quen với lao động nặng nhọc, dễ bị ốm đau, lại thiếu kinh nghiệm thực hành. Lính cũ thì thiếu hụt nhiều, do hy sinh, do sốt rét không còn sức khỏe phải cho đi viện, hoặc bị thương không thể đảm đương công việc chiến đấu phải cho xuất ngũ. số cán bộ tiểu đội, trung đội cũng thiếu, cán bộ đại đội 6 lẽ thường 4 người, nay chỉ có anh Bùi Như Lạc chính trị viên trưởng và anh Vũ Đình Thi đại đội phó. Biên chế đại đội thường là 120 người, mà lúc vào chiến dịch chỉ có 60 người, khi vào giai đoạn quyết liệt nhất chỉ còn trên 30 người.

Là người chỉ huy đại đội trách nhiệm rất cao, phải bảo đảm được công việc trên giao. Anh vừa phải động viên anh em, vừa phải giao công việc rất tỷ mỷ cụ thể cho mỗi người. Anh phải làm mẫu cho anh em các công việc bắc cầu, tháo gỡ cầu, cất giấu cầu thuyền, khí tài. Trực tiếp lặn xuống sông Quảng Trị đặt giá cầu, vớt neo, ghép ván. Hướng dẫn anh em đào hầm tránh máy bay địch, giữ vững trận địa,.kiểm soát anh em giữ vững kỷ luật chiến trường. Các công việc rà phá bom mìn, làm đường anh đều phải trực tiếp làm cùng với anh em.

Cuộc chiến giữ Thành cổ Quảng Trị diễn ra quyết liệt, đơn vị anh phải vn chuyển vũ khí cho các đơn vị pháo. Đêm đêm, anh em phải chuyển đạn pháo 120 ly, cối 160 ly vào cho các đơn vị pháo binh. Mỗi quả đạn năng khoảng 80 ki lô. Anh và đồng đội đều phải cố gùi cho bằng được. Là các trang nam nhi, tất cả cán bộ chiến sỹ đều noi theo chị Tuyển và các chị em dân quân Hàm Rồng Thanh Hóa. Anh em tự nhiên như khỏe ra làm được cả các công việc nặng nhọc, tưởng như không thể làm nổi.

Lúc ác liệt nhất, bộ đội ta trong Thành cổ thiếu lương thực thực phẩm. Đơn vị đại đội 6 phải chuyển hàng tới sông Thạch Hãn cho hàng vào bao túi ni lông thả hàng xuôi dòng cho bộ đội ra bờ sông vớt. Pháo hạm địch bắn suốt ngày đêm, toàn loại đạn pháo 130, nổ đì đùng, có loại đạn nổ trên không và chụp xuống gây thương vong cho bộ đội ta rất nhiều. Suốt 81 ngày đêm, anh Dĩnh không nghỉ ngày đêm, nào bám cầu, bám đường, chỉ huy phá bom, lấp hố bom, làm tht tốt các nhiệm vụ trên giao. Anh em trong đơn vị ca ngợi anh là “Người mạnh hơn sắt thép”. Chính vì vậy, một phóng viên báo ở chiến trường nắm được đã viết bài báo “ Mạnh hơn sắt thép”. Trong năm ấy, anh Dĩnh cũng được toàn đơn vị bầu là Chiến sỹ thi đua. Vì có những chiến công xuất sắc trong phục vụ chiến đấu, Tiểu đoàn 2 công binh Anh hùng được đề nghị Nhà nước phong Anh hùng lần thứ 2.

Mỹ ngụy thua nặng nề trên chiến trường miền Nam và thua đau trên bầu trời Hà Nội phải ký kết Hiệp định Pari, quân Mỹ phải cam kết rút quân về nước. Mặc dù quân ngụy còn ngoan cố vi phạm hiệp định, tấn công lấn chiếm. Nhưng chúng đã bị quân dân ta đánh bại, đơn vị anh Dĩnh tiếp tục mở đường cho xe pháo ta vào chiến trường, chuẩn bị cho giai đoạn tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đơn vị anh Dĩnh tiếp tục mở đường vào Thừa Thiên, qua A Sầu, A Lưới, theo đường 14 đi Quảng Nam. Ngày ấy, Quân lực ngụy vẫn còn mạnh thường xuyên cho máy bay bắn phá đường, nhưng số bom đạn đỡ đi rất nhiều so với thời còn giặc Mỹ. Quân ta đông hơn, có đủ các binh chủng hợp thành, hàng hóa miền Bắc vào nhiều, vũ khí đạn dược không thiếu, lương thực tương đối đầy đủ. Những con đường Đông Trường Sơn được củng c, thuận tiện, nhanh hơn đường Tây Trường Sơn. Không khí chun bị cho cuộc Tổng tiến công mới lúc nào cũng rạo rực trên con đường Đông Trường Sơn.

Mùa xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta thắng lợi, miền Nam được giải phóng, đất nước thồng nhất. Nước Lào cũng đã được giải phóng hoàn toàn, nhưng cũng như Việt Nam vẫn bị bao vây cấm vận, khó khăn rất nhiều. Ta phải thành lập Đoàn 384 giúp bạn Lào, anh Dĩnh được điều về Đoàn, làm cán bộ kế hoạch, thường xuyên giúp bạn Lào làm cầu đường, từ Cha Ky tới Sa-va-na-khét. Anh thường xuyên giúp bạn Lào làm các cầu nổi. Bạn chưa có kinh nghiệm, anh phi hướng dẫn tỷ mỷ cho anh em. Tuy không còn bom đạn như thời Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông nhưng anh vẫn phải vất vả làm mẫu cho anh em như lặn xuống sông đặt neo, gỡ neo, tháo gỡ khí tài khi cần thiết. Anh có kinh nghiệm làm đường, tháo gỡ bom mìn, không sợ nguy hiểm tận tâm, tận lực làm việc. Ông Chăn Tao Bon trưởng chỉ huy đoàn 923 của nước bạn Lào và anh em chiến sỹ Lào rất mến phục tài năng của anh đã học tập làm theo thực hiện các công đoạn bắc cầu phà nhanh, đảm bảo kỹ thuật. Những năm này, anh được đơn vị bạn đ nghị cp cho anh hai Huân chương It-xa-la hạng Hai và Đoàn 384 đ nghị Nhà nước ta tặng Huân chương Chiến công hạng Hai.

T.H


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.