NỘI DUNG CHI TIẾT
Về nghiên cứu trống đồng Việt - Mường
1/15/2015


                                                                                                TS. NGUYỄN ANH TUẤN

Phú Thọ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc như Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Thái... Những dân tộc này đến Phú Thọ chưa lâu lắm. Sống lâu đời nhất ở tỉnh Phú Thọ chính là hai dân tộc Việt và Mường.

Người Việt sống ở đồng bằng và trung du Phú Thọ và một vài xã ở vùng người Mường cư trú.

Người Mường thì cư trú có vẻ riêng biệt, tập trung ở huyện Thanh Sơn và Yên Lập. Ngoài ra ở huyện Thanh Thuỷ cũng có 2 xã người Mường cư trú.

Nhìn vào phạm vi người Mường cư trú ở Phú Thọ chúng ta có thể nhận xét được là người Mường Phú Thọ cư trú vùng trung du và núi cao giáp với vùng trung tâm của người Mường ở tỉnh Hoà Bình.

Trong vài thập kỷ vừa qua rất nhiều nhà khoa học thuộc các ngành xã hội và nhân văn đã nghiên cứu về người Mường. Dường như những thành tựu nghiên cứu đều đã đi đến sự thống nhất: Người Mường và người Việt trước đây là một, có thể gọi chung là người Việt cổ, hay có thể gọi là người Việt Mường.

Ngày nay, giữa người Việt hiện đại và người Mường cũng có nhiều điểm tương đồng. Ví dụ về mặt nhân chủng học, dường như không có sự khác nhau và chung nhóm Việt Mường. Về ngôn ngữ, có thể xếp chung tiếng Việt và tiếng Mường vào một ngôn ngữ, gọi là ngôn ngữ Việt Mường.

Về mặt tín ngưỡng người Mường và người Việt ở nhiều vùng đều thờ Hùng Vương và đức thánh Tản Viên. Người Mường ở hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập thờ Tản Viên (riêng huyện Thanh Sơn có 18 nơi thờ Tản Viên). Về mặt đời sống, người Mường vẫn còn giữ được nhiều nếp sinh hoạt của người Việt cổ như ở nhà sàn, thích ăn cơm lam, lợn thui, đựng nước vào ống tre, phụ nữ mặc váy và áo dài tứ thân, Người Mường có cách làm nông nghiệp giống người Việt: trồng lúa nước, đồng thời cũng vẫn trồng trọt ngô lúa trên nương rẫy...

Nói tóm lại, người Mường  và người Việt là hai nhánh cây của một gốc: Người Việt Mường.

May mắn thay, những chiếc trống đồng loại II Hêgơ có thể góp phần vào việc nghiên cứu quan hệ Việt Mường trong quá khứ.

Không phải ngẫu nhiên mà trống đồng loại II lại thường tìm được ở khu vực cư trú ở người Mường. Ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An cũng vậy. Ở Phú Thọ thì trống đồng loại II có địa bàn phân bố trùng khớp với địa bàn người Mường cư trú: Huyện Thanh Sơn và huyện Yên Lập.

Vì thế, có nhà khoa học đã gọi trống đồng loại II là trống Mường.

Có thể nói không ngoa rằng trống loại II có số phận gắn bó với người Mường, riêng của người Mường ngày nay và người Việt Mường xưa kia. Trong Trường ca “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường đã nói đến việc đúc trống, đã nói đến trống đồng, chứng tỏ từ lâu trống đồng đã là một trong những vốn di sản quý báu của người Mường, không những là di sản vật thể - những áng thơ văn truyền đời...

Trường ca “Đẻ đất đẻ nước” có đoạn cuộc chu du của “Hồn” đến nơi đúc đồng đổ thang. Trường ca còn có đoạn “chặt cây chu đồng” mà theo các nhà khoa học là để chỉ việc khai thác đồng. Vua Dịt Dàng (mà theo người Mường thì Vua Hùng Tổ của người Việt cũng là tổ của người Mường. Vì vậy, có thể Vua Dịt Dàng có thể cũng là Vua Hùng chăng?) sai thợ nấu chảy đồng, giã đất thành khuôn để đổ thành trống.

Theo Trường ca thì vua Dịt Dàng cho đúc 1.960 chiếc trống đồng theo đúng mẫu của chiếc trống bằng đồng thau mà em gái vua khi gội tóc ở suối trông thấy chiếc trống này nổi lên rồi trôi vào bãi cát.

Ở một đoạn khác, nhân vật Tả Cần lại còn nhờ con rùa Vàng dạy cách làm nhà thờ nhờ có trống đồng nổi ở khe, dạy dân đúc trống đồng.

Người Mường cũng ca ngợi vẻ đẹp của hoa văn trống đồng. Theo họ, trên trống đồng có hình chim Ây, chim Ứa tức là hình chim Lạc trên mặt trống. Có tượng con nhái trên trống để ghi nhớ nghề trồng lúa nước. Hình tượng mặt trời để ghi nhớ thời kỳ đại hạn. Cảnh thuyền bè trên trống để nói về thời kỳ đại hạn, lụt lội. Trường ca còn cho thấy một vẻ đẹp là trống đồng:

“Đẹp lềnh lệch như tang trống,

Đẹp lồng lộng giống cái khâu (trống đồng)...”

Trống đồng không những đẹp trong các áng thơ ca Mường, trống đồng còn đẹp trong các ngày lễ hội quan trọng nhất của người Mường.

Trong những ngày thường không sử dụng thì trống đồng loại II ở người Mường được để ở nhà Lang, để ở trong miếu, chôn ở một góc rừng. Trong các ngày hội đặc biệt thì trống đồng mới được đem ra đánh.

Trong một năm, người Mường có rất nhiều dịp lễ hội, chứng tỏ cuộc sống hồn nhiên, vui tươi.

Các nhà nghiên cứu đã thống kê được ở huyện Thanh Sơn, nơi tìm được nhiều trống đồng loại II nhất tỉnh. Thậm chí là một trong những huyện trong nước ta có số lượng trống đồng đông đảo nhất, thì đã có tới 14 dịp trống đồng được đem ra sử dụng trong 1 năm. Những dịp đó thường là tang ma, cưới xin, hội hè, tế lễ, cầu đảo...

Có thể thấy được hình ảnh sinh hoạt tinh thần phong phú của người Mường, người Việt Mường (hay còn gọi là Việt cổ) được tái hiện một cách sinh động trong những lễ hội của người Mường Thanh Sơn ngày nay.

Trong những ngày hội như vậy, người Mường ở Phú Thọ khi rước trống đồng từ nhà thổ Lang hay từ đền miếu, góc rừng thiêng ra nơi hội hè, tế lễ thì phải có những động tác tế lễ rất quan trọng. Ngay lúc để trong miếu phải được đặt trên đế, trên giàn hoặc treo trực tiếp vào xà miếu hoặc buộc quai trống vào 2 cọc đỡ hoặc đặt vào những con kê, đặt trên hố cộng hưởng.

Qua những tài liệu văn hoá dân gian ở các vùng người Mường Phú Thọ người ta có thể thấy người Mường khai thác khía cạnh âm nhạc của trống đồng khá tinh tế, chứng tỏ trình độ “thẩm âm” của người Mường rất cao.

Tiếng trống đồng cơ bản là trầm hùng, âm vang khiến kẻ thù nghe thấy phải “bạc tóc”.

Nhưng không phải âm sắc khi đánh trống ở từng vị trí của trống loại II là đều giống nhau.

Nếu như đánh vào giữa ngôi sao trên mặt trống thì tiếng trống trầm, vang. Đánh vào các vành hoa văn hình học trên mặt thì cho những âm thanh trong và vang. Nếu đánh vào thân những con cóc được gắn trên mặt trống đồng thì âm thanh lại sắc và nhọn.

Cũng vậy, khi người Mường đánh trống ở vị trí trên mặt, âm thanh cũng có khác vị trí khi đánh trống ở phần thân trống.

Người Mường, có lẽ cũng kế thừa được kinh nghiệm đánh trống đồng Đông Sơn ở người Việt Mường (hay còn gọi là Việt cổ) trước đó. Người Việt cổ cũng đánh trống đồng ở nhiều vị trí của trống đồng để sử dụng tối đa các cung bậc âm thanh của trống đồng.

Người Mường trong ngày hội cũng không chỉ đánh một chiếc trống mà thường đánh cả một dàn trống. Tài liệu dân tộc học về người Mường cũng giống như tài liệu khảo cổ học. Ở một số đồ đựng bằng đồng có gắn tượng tròn ở khu vực Thạch Trại Sơn (Vân Nam, Trung Quốc) có cảnh nhà sàn, người, động vật trong lễ hội và đáng chú ý là trong một cảnh ngày hội như vậy có đến hơn 10 chiếc trống đồng để thành dàn.

Người Mường Thanh Sơn trong ngày hội đánh trống đồng, mà tiếng Mường là “Chàm Thau”, ăn mặc đẹp, thường cắm lông chim ở trên đầu hay ở trang phục. Họ thường đứng hoặc ngồi cầm dùi trống dài, giã theo chiều thẳng đứng, giống như cảnh giã gạo chày tay.

Để tăng thêm hiệu quả âm thanh, người Mường thường treo trống theo hướng mặt trống hướng lên trên, trống được đặt lơ lửng, gần sàn nhà.

Người Mường Thanh Sơn cũng rất tinh tế khi phân công những người đánh trống đồng loại II: Người nào đánh trống thành thạo thì được làm “cái”. Những người còn lại thì được gọi làm “con”. Tùy theo nhịp phách của bài hát, điệu nhạc mà lúc thì “cái” đánh và lúc thì “con” đánh, khi thì đánh vào giữa mặt trời - ngôi sao giữa mặt, khi thì đánh vào lưng cóc (Tài liệu dân tộc Mường ở Thanh Sơn, xã Thu Ngạc, huyện Thanh Sơn). Đội hình đánh trống đồng ở đây cũng có sự phân công thú vị: đánh trống nhỏ có 4 người, đánh trống to có từ 6 đến 9 người. Ở Thu Ngạc, trống có bao nhiêu cóc thì lại có số người đánh tương ứng như vậy. Ở Thanh Sơn lưu hành số lượng người đánh trống thường là số chẵn (số cánh sao trên mặt trống loại II ở Thanh Sơn cũng là số chẵn, thường là 6 hoặc 8 cánh). Số người đánh trống ở nhiều xã Thanh Sơn thường là 4; 6 hoặc 8 người.

Có những trường hợp, cũng một người đánh trống như cả hai tay đều cầm dùi trống, khi thì làm “cái”, khi thì làm “con”. Tuy nhiên, trường hợp một vài người làm cả “cái” và “con” rất ít thấy ở Thanh Sơn.

Người Mường cũng rất ít chú ý đến những chiếc dùi để đánh trống đồng. Nếu dùi trống quá cứng (như kim loại chẳng hạn) thì sẽ làm sứt mẻ trống, mà có khi lại cho âm thanh không được êm tai, không được người Mường thích cho lắm.

Qua kinh nghiệm hơn nghìn năm, chắc người Mường Thanh Sơn đã chọn được chất lượng tối ưu cho các loại dùi trống.

Tài liệu dân tộc học cho biết được là dùi từ một đoạn cành hoặc thân cây thuộc loại gỗ mềm, nhẹ hoặc bằng một số cây thảo mộc để cả củ dùng làm đầu để đánh như cây vo, cây se (tiếng Mường gọi là cây nén), cây sa nhân, cây sậy và cây đỗ... Có loại được làm bằng gỗ trầu, bằng tre non, bằng gỗ dầu ngô (thuộc loại cây vông), cây cơi. Đáng chú ý là đầu gậy được bọc vải, bằng bông hoặc da dái dê để khi đánh không hại đến trống. Thân gậy cuốn thêm vải màu, buộc tua chỉ ngũ sắc cho thêm phần đẹp mắt.

Tuy vậy, người Mường gắn bó với trống đồng loại II khi nào vẫn là một vấn đề cần được giải đáp. Riêng lĩnh vực này có thể sự phân loại và niên đại của trống đồng loại II có thể giúp ích cho việc tìm hiểu quá trình tách ra và cả cộng cư sau này giữa hai dân tộc anh em.

Không nghi ngờ gì nữa, trống đồng loại II Hêgơ được nảy sinh trực tiếp từ trống đồng loại I Hêgơ khi trống đồng loại I có nguy cơ bị hủy hoại do những yếu tố xã hội tác động vào.

Nhà Hán xâm lược nước ta năm 111 trước Công nguyên. Nhà Hán đã ra sức hủy diệt văn hóa Đông Sơn, muốn đồng hóa nền văn hóa này của người Việt cổ, để biến nơi đây thành quận, huyện của nhà Hán: quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Trống đồng Đông Sơn trở thành cái gai nhọn trong con mắt kẻ xâm lược, các quan lại cai trị Trung Hoa cũng hiểu rằng trống đồng gắn bó biết bao với số phận dân tộc này. Chính sử cũng ghi lại “Trống mất thì vận người Man cũng mất” (Người Man là cách gọi miệt thị những tộc người phương Nam trong đó có người Việt cổ).

Vì vậy giải pháp tối ưu để đồng hóa dân tộc này là “Hủy diệt trống đồng”.

Cũng chính sử sách ghi lại: Nhà Hán ra sức thu gom trống đồng, phá hủy nó. Trống đồng của người Lạc Việt phá ra để đúc ngựa đồng và đúc “cột đồng Mã Viện”.

Biết bao trống đồng Đông Sơn bị nấu chảy. Ví dụ, chiếc trống đồng Cổ Loa (tìm được ở khu Mả Tre, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội) đẹp nhường vậy mà cũng bị chôn sâu dưới lòng đất, trong lòng trống Cổ Loa lại có một số mảnh trống khác và hàng loạt lưỡi cày, mũi giáo và nhiều mảnh đồng vụn... Người xưa chôn vội trống Cổ Loa cùng với một loại đồ... đồng nát mà không kịp đào lên lấy lại, đã chứng tỏ có một cuộc biến động xã hội ác liệt nào đấy.

Đó là quân xâm lược dã man, hủy hoại văn hóa và giết những người đứng lên chống lại. Hai Bà Trưng đứng lên khởi nghĩa và bị dìm trong bể máu. Sử sách còn ghi lại: Sau cuộc khởi nghĩa, dư đảng giặc (cách nhìn của nhà Hán với nghĩa quân Hai Bà) chạy đến huyện Cư Phong thì bị bắt và chém đầu phải kể đến hàng trăm, ngàn...

Đối sách với cuộc tàn sát cả con người lẫn trống đồng, khi đó ở vùng đồng bằng thì chỉ còn là cuộc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, chống đồng hóa tiếng nói, phong tục, tập quán. Ở vùng miền núi hẻo lánh, quân xâm lược không với tới được thì người Việt cổ vẫn giữ nếp cũ, bảo lưu một nền văn hóa trống đồng. Những người Việt Mường khi đó vẫn có tập tục dùng trống trong các ngày lễ hội. Nền văn hóa trống đồng không mất đi ở những vùng người Hán chưa với tới được.

Lúc đó là vào khoảng những năm trước, sau Công nguyên đôi chút có thể là niên điểm trống Đông Sơn chuyển sang trống loại II.

Nghiên cứu hoa văn, dáng trống ở những chiếc trống chuyển hóa từ loại I sang loại II cũng thấy rõ điều này: Một số hoa văn hiện thực mất đi, một số hoa văn hình học xuất hiện. Ở phần chân của một số trống đồng Đông Sơn có dáng chuẩn của loại I nhưng lại trang trí hoa văn ô trám chuẩn của loại II.

Người Mường có thể trước sức ép nghìn năm Bắc thuộc đã tách ra khỏi khối Việt cổ (Việt Mường cổ thì chính xác hơn), biệt lập hơn bắt đầu từ khi trống đồng loại II ra đời, thay đổi kiểu dáng và hoa văn.

Quá trình tách ra là từ đầu công nguyên, dần dần đến thời Lý Trần thì có vẻ hai dân tộc đã có những bước tách bạch rõ hơn. Chỉ đến thời kỳ cận đại gần đây thì sự tồn tại độc lập giữa hai dân tộc về tiếng nói, về phong tục tập quán, về địa bàn cư trú.

Không phải ngẫu nhiên mà nhìn chung, phân bố khối người Mường cũng nhờ sự phân bố trống đồng loại II cơ bản là trùng khít nhau, liền mạch một dải từ Phú Thọ qua Hòa Bình đến Thanh Hóa, Nghệ An. Là một khu vực núi cao, biệt lập với những làn sóng văn hóa mới, dồn dập và ào ạt ở vùng đồng bằng...

Khi nghiên cứu trống đồng ở Phú Thọ, cũng còn lưu ý đến môi trường địa lý nơi đây nữa. Ven sông Hồng, sông Lô là hai con sông lớn nối nhiều nhịp cầu giao lưu văn hóa và cả giao thương nữa. Vì thế nhìn những chiếc trống phát hiện ở Phú Thọ, ta có thể thấy có những nét giao lưu văn hóa xa: Nhóm trống đồng Đông Sơn ở Phú Thọ có những nét chung của trống Đông Sơn ở cả khu vực châu thổ Bắc Bộ. Thậm chí ở một vài chiếc trống đồng như Thượng Nông, Đào Xá lại mang những sắc thái chung của nhóm trống đồng Vạn Gia Bá, ven hồ Nhĩ Hải (Vân Nam). Giữa nhóm trống loại này ở Phú Thọ và ở Vân Nam nơi nào ảnh hưởng sớm muộn tới nơi nào, cũng còn là vấn đề bàn cãi, chỉ biết rằng con sông Hồng là một hành lang giao thông cực kỳ thuận lợi mà Phú Thọ là một điểm quan trọng, một bến sông sầm uất cho sự giao lưu văn hóa và giao thương kinh tế, ngày trước cũng vậy mà ngày nay cũng thế.

Những chiếc trống đồng loại II Phú Thọ có nhiều mối quan hệ với trống cùng loại ở Hoà Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Sự chuyển qua chuyển lại trống đồng giữa các vùng này có nhiều lý do, người Mường thiên di, các quan hệ xã hội... Vì thế nay bản thân những chiếc trống Mường này cũng đã có những sự ảnh hưởng lẫn nhau về kỹ thuật đúc, về tạo dáng, về hoa văn để tạo nên một sắc thái chung không trộn lẫn được và có sức sống trường tồn gần 2000 năm. Đó là trống Mường và người Mường.

                                                                                                                          N.A.T 

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.