NỘI DUNG CHI TIẾT
“Sạp thơ lục bát còn tươi chữ vần”
2/5/2015


                                                                                                NGUYỄN HỮU QUÝ

Thực tình tôi đã loay hoay khi nghĩ đầu đề cho bài viết cảm nhận về tập thơ Lục bát bỏ bùa (*) của Đỗ Xuân Thu. Cuối cùng, bằng lòng trích hẳn một câu trong bài Lục bát cầu may của anh ấy làm tít. Tôi biết, Đỗ Xuân Thu đang dồi dào lực viết; ngoài 6 tập truyện ngắn, 3 tập tiểu thuyết, 1 tập tản văn anh đã trình làng 9 tập thơ. Lục bát bỏ bùa là đứa con thơ thứ 9 của Đỗ Xuân Thu.

Tôi nghĩ, thể thơ được coi là truyền thống này đã chảy, đã thấm trong Đỗ Xuân Thu từ lâu bởi vậy mới có lời ru thao thiết: Lục bát à, lục bát ơi!/ Buồn đau không bán, vui cười không mua/ Lang thang một gã quê mùa/ Gánh thơ ra chợ, vào chùa… cầu may… Chợ và chùa, một chỗ ồn ào xô bồ, một chốn tĩnh lặng, thanh đạm nhưng đều thuộc về cuộc sống cả và ở đâu cũng cần tình người tốt đẹp. Đắm chìm vào cái tình, vin câu lục bát, Đỗ Xuân Thu phơi trải lòng mình vừa hồn nhiên, vừa sâu sắc đến dễ thương.

Làm thơ lục bát dễ nhưng khó. Non tay là sáo mòn, nôm na vần vè ngay thôi. Cảm xúc không đầy, tứ thơ không vững, hình ảnh không đắt, ngôn ngữ không hoạt thì lục bát khó hay lắm dẫu vần rất chuẩn, luật bằng trắc chẳng sai. Không phải nhà thơ nào cũng bén được duyên lục bát đâu. Đọc lục bát của Đỗ Xuân Thu, tôi thấy anh là một trong những người viết hiện nay có cái duyên “lặn vào trong” với thể thơ đậm chất Việt này. Độ hòa nhuyễn trong thơ lục bát của Đỗ Xuân Thu đáng ghi nhận. Không khó lắm khi ta muốn chọn ra những bài khá, câu khá trong tập Lục bát bỏ bùa này. Những bài như Bảy ngày ở xứ Kim Chi, Bỏ bùa, Chìm nổi, Đời sông, Gió đàn ông, Khúc ru của mẹ, Ru chay, Trước ngày con làm mẹ, Vai diễn… sẽ minh chứng cho điều tôi  vừa nói.

Cái duyên ngầm trong lục bát của Đỗ Xuân Thu lấp ló trong những bài thơ thế sự khi bâng khuâng hoài niệm, khi day dứt nhân tình. Từ hiện tại anh vọng về quá khứ với những nuối tiếc bùi ngùi: “Bây giờ đám cưới ở quê/ Trầu cau tủi phận ủ ê góc bàn” (Để tôi mời trầu).

Trầu cau gắn với tích xưa, nếp xưa, từ là “miếng” để mở đầu câu chuyện đến “lễ” không thể thiếu trong cuộc trăm năm. Cụ thể là như thế, chỉ thế thôi song mở ra đó là thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt có từ mấy nghìn năm rồi. Vậy mà, nó đã bị bỏ rơi, bị lãng quên trong lối sống ào ào, bon chen của xã hội đương thời. Tính khái quát của bài thơ được xác lập bởi những ẩn dụ nghệ thuật như thế và tôi tin nó sẽ đủ sức ám ảnh người đọc.

Đỗ Xuân Thu có những câu lục bát ấn tượng nói về thân phận, kiếp số làm người. Không phải để xót xa than thân trách phận mà đó là chiêm nghiệm có được từ sự từng trải, lăn lộn trên đường đời của chính mình: “Lang thang khắp bốn phương trời/ Sông lặn thì nổi, đời bơi lại chìm” (Chìm nổi).

Cuộc sống đầy rẫy nghịch lý và những trái ngang cũng không thiếu nên khó thoát được rủi ro, bi kịch trong kiếp người. Cảnh ngộ gập ghềnh tha phương, vật vã mưu sinh, an biến thăng trầm đâu chỉ của một ai. Vì thế, soi vào thơ thấy bóng hình mình, trong dĩ vãng và cả hiện tại. Cách đối trong câu “bát” không mới (Tình trong như đã, mặt ngoài còn e - Nguyễn Du) nhưng phải nói tác giả đã khá thuần thục trong vận dụng thủ pháp truyền thống này.

Tôi thực sự có cảm tình với những câu thơ dung dị nhưng hàm lượng cảm xúc cao và độ nghĩ sâu của Đỗ Xuân Thu như thế này: “Mặc ai bên lở, bên bồi/ Cứ thao thiết chảy để rồi còn sông” (Đời sông); “Mẹ đi trong gió heo heo/ Vẫn lo con cái bọt bèo bến sông” (Khúc ru của mẹ); “Cây chen nhau chốn đại ngàn/Bão giông ném cả lá vàng sang nhau” (Ước gì).

Thơ viết về sông cũng là viết về người, bồi đắp phù sa của niềm tin yêu cuộc sống trầm kha. Thơ viết về mẹ chân mộc mà sâu lắng ân nghĩa vô cùng. Thơ viết về cây là để chỉ thói đời chen lấn, vẩn đục.

Trong thơ lục bát của Đỗ Xuân Thu luôn chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà hồn Việt. Đó là, dù cuộc sống vật chất còn nhiều thiếu thốn nghèo khó nhưng lòng lạc quan, yêu đời vẫn không để rụng rơi. Có mặt trong sân khấu cuộc đời với muôn cung bậc buồn vui hay vai diễn trên chiếu chèo dân gian cũng thuộc về con người cả, nên phải biết thuận duyên chấp nhận, biết hòa trộn vào nhau: “Mới hay sân khấu cuộc đời/ Chẳng cần diễn vẫn cứ phơi cái nghèo/ Thế mà hễ giục trống chèo/ Lại “quan” tít mắt cười theo thằng hề” (Vai diễn).

Từ hiện tượng cuộc sống quen thuộc, thơ nâng lên tầm bao quát để còn lưu lại được trong lòng người đọc những dư âm yêu dấu khi anh viết về sự làm mẹ của con gái mình: “Con đau trở dạ mà mừng/ Cha đau câu chữ nhặt từng vần thơ/Mẹ cho con khúc ầu ơ/ Câu thơ cha viết bây giờ trao con” (Trước ngày con làm mẹ).

Trong tập lục bát này có một đại từ luôn được lặp lại nhiều lần. Đó là “Em”. Em chính là nhân vật trong thơ tình của Đỗ Xuân Thu. Em là vợ, là người tình, là phái đẹp, là đối tượng để tác giả gửi gắm lòng si mê, đa tình của mình vào những dòng sáu tám quen thuộc. Có thể nói, thơ tình là phần chủ đạo của tập thơ này; có không ít lá bùa yêu lục bát được bày ra ở đây.

Tôi thích những câu thơ đắm đuối thế này: “Nhớ hoài thắt đáy lưng ong/ Trời ơi, con mắt liếc cong mái chùa!” (Bỏ bùa); “Lúm đồng tiền ấy lạ chưa/ Bỗng dưng lốc xoáy, bất ngờ bão giông/ Gió này đúng gió đàn ông/ Bao nhiêu cái nắng chưa chồng lung liêng” (Gió đàn ông); “Em cuối bể hay đầu nguồn?/ Ở đâu trên trái đất tròn, em ơi?/ “Chấm com”, “chấm nét” khổ tôi/ Tình ngay trước mặt mà vời vợi xa” (Tình ảo); “Thôi còn một chút tin yêu/ Xin em, giữ lại mơ nghìn muôn sau” (Qua ngõ nhà em); “Đêm qua mơ gặp vợ người/ Tình xưa ập đến, đất trời tan ra/ Bồng bênh giữa dải Ngân Hà/ Trăng non phơi cái nõn nà… giời ơi!” (Mơ hoang).

Cái sự đa tình rất đàn ông Việt này khi bôn ba xứ lạ vẫn cứ vẹn nguyên như thời cụ kỵ ông bà xa xưa vậy: “Không em xứ lạ bảy ngày/ Vía thăng bảy vía, hồn bay ba hồn/ Còn đây thân xác vô ngôn/ Hồng sâm không giải được buồn đâu em” (Bảy ngày ở xứ Kim Chi).

Dù khắt khe đến mấy cũng không thể không khen hay những câu lục bát này. Nếu ai còn nghi ngờ về khả năng diễn đạt rộng mở, lắng sâu của thơ lục bát thì nên đọc ngẫm những câu như thế. Còn hơn ngàn vạn lần những câu thơ loằng ngoằng, cố ý trúc trắc, chen chúc chữ mà gầy úa cảm xúc, ý nghĩ.

Góp thêm phần duyên lục bát của Đỗ Xuân Thu có lẽ cũng nhờ vào sự dụng công trong sáng tạo ngôn từ và hình tượng. Có hình ảnh cực kỳ ảo diệu: “Thôi về khâu những giấc mơ/ Vá lành mảnh gió mà chờ ru chay” (Ru chay). Động tác khâu vá đã được ảo hóa, lạ hóa làm cho câu thơ lung linh khác thường. Vẻ đẹp của thơ nằm ở hình ảnh, ngôn từ mang dấu ấn sáng tạo của người viết. Thêm một ví dụ nữa để chứng tỏ điều ấy ở Đỗ Xuân Thu: “Tháng hai lúa trổ chè vè/ Rách bươm mảnh gió bờ tre gai cào” (Ru chay).

Chân mộc nhưng không dễ dãi, truyền thống nhưng ít cũ mòn, có những sáng tạo về cấu tứ và ngôn từ, tập Lục bát bỏ bùa của Đỗ Xuân Thu đáng để đọc. Tôi nghĩ, anh là một trong những tác giả hiện nay có duyên với lục bát. Nếu nghiêng về thơ lục bát và khổ công hơn, chiu chắt hơn chắc tác giả sẽ thành công với nó. Những chữ những vần còn tươi rói như hoa trái nhà quê trong tập thơ này làm cho tôi hy vọng nhiều vào điều vừa nói. Tuy nhiên, tôi biết Đỗ Xuân Thu còn nặng lòng với văn xuôi thì biết đâu mảng thơ lục bát đối với anh chỉ như tấm chiếu chèo được trải ra ở đình làng khi tiếng trống hội vang lên. Thế cũng đã là quý rồi, có câu lục bát neo được lòng người đủ cho người viết rưng rưng trọn đời. Theo năm tháng dãi dầu, không mong gì hơn, Đỗ Xuân Thu vẫn còn ru: “Lục bát à, lục bát ơi!/ Buồn đau không bán, vui cười không mua…”.

                                                                                                                      N.H.Q


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.