NỘI DUNG CHI TIẾT
ĐỢI ANH VỀ
2/25/2015

                        Truyện ngắn của BÌNH DÂN

Chẳng biết bận nghĩ ngợi điều gì, mà chèo chiếc nốôc lòi(1), bà Hoa mấy lần làm cho nó hết cà sàn sạt lên đám đá ngầm, lại chỗ phải mấy chiếc bè nuôi cá lồng dọc sông và khi vào bờ, bà lại để nó húc phải vào cột chòi nhà bà Xuân một cái đánh rầm, khiến con trâu của ai buộc gần đấy, bứt dây tháo chạy như bị ma đuổi.

- Đi vào, đi vào, rồi “người ta” kể chuyện lạ này cho mà nghe!

Bà hùng hục trèo lên cầu thang, và nói liến thoắng khi vừa thoáng thấy bóng dáng bà Xuân bước tập tễnh trên sàn chòi với một chiếc chân gỗ.

- Chuyện gì thì chuyện, nhưng năm mới năm mẻ ta phải chúc nhau mạnh khoẻ đã chứ - Bà Xuân cười xởi lởi.

- Ừ thì chúc mạnh khoẻ... Hì hì.

Hai bà theo nhau đến chỗ có chiếc chiếu hoa trải lên sạp chòi. Trên chiếu có cơi trầu, tích nước, bộ khay chén và hộp mứt thập cẩm bày sẵn. Mặc dầu rất nóng lòng muốn được kể chuyện, bà Hoa vẫn dành mấy phút thắp nén hương cắm lên bàn thờ, nơi xếp đặt có thứ lớp rất nhiều bánh trái, mứt kẹo, giấy vàng giấy bạc.

Câu chuyện bà Hoa kể có thể tóm tắt như sau:

Tuy độc thân trong một chiếc nốôc lợ (2) cắm mãi dưới Bến Đò Cũ, nhưng tết năm nay, bà gói vừa bánh chưng bánh tét mỗi thứ những bảy cặp. Bánh gói xong, bà tự tay sắp vào nồi, tự tay nấu. Nhưng đến lúc chuẩn bị cúng giao thừa, thì lạ lùng thay, chúng thảy đều bị đánh tráo bằng những chiếc bánh khác hẳn.

- Khác thế nào? - Bà Xuân sốt ruột cắt ngang lời bạn.

- Bánh “người ta” gói toàn loại nếp cái hoa vàng, gửi mua tận xứ Vĩnh Bảo - Hải Phòng, còn loại bánh cha căng chú kiết này thì gói bằng nếp lứt đất... Quảng Bọ!

- Lạ quá! Sao cứ nghe như chuyện Thục An Dương Vương xây Loa Thành vậy nhỉ? Này, “đằng ấy” có nghi cho đứa nào đánh tráo không? Không ư ? Vậy chõ bánh đó, “đằng ấy” giải quyết thế nào rồi?

- Cúng không đành vì sự làm bánh với những thứ thừa thãi uế tạp; ăn không dám vì sợ bị đầu độc, nên phải nhắm mắt mà đổ xuống sông, chứ giải quyết thế nào nữa.

- Hoài của, hàng yến nếp chứ ít đâu, lại còn thịt mỡ với đỗ xanh! - Bà Xuân thít tha như người đau răng, rồi vỗ lên vai bạn - Này, sao tết này “đằng ấy” làm nhiều bánh thế? Mà lại dùng toàn nếp cái hoa vàng. Chẳng bù năm ngoái... bánh gói toàn bằng... đất sét!

- Nếp cái hoa vàng là đặc sản của xứ Vĩnh Bảo - Hải Phòng quê anh Tuyến. À mà sao “đằng ấy” cứ nhắc chuyên cũ của “người ta” mãi thế? - Giọng bà Hoa chợt trở nên thách thức, chì chiết - Năm ngoái khác, năm nay khác. Năm ngoái là “cơ hàn thiết thân bất cố liêm sỉ ” nên “người ta” bắt buộc phải làm bánh tét, bánh chưng bằng đất sét để đặt lên bàn thờ gia tiên trong ba ngày tết. Năm nay, trời cho sức gối mạnh tay làm ăn chẳng đến nỗi nào, lại được nhận tiền Huân chương chống Mỹ, thì phải theo cách “phú quý sinh lễ nghĩa” chứ.

- Nhưng... lễ nghĩa hơi quá đi đó. Một mình mà làm những mấy chục chiếc bánh đại!

- Quá với quắt nỗi gì? “người ta” làm ngần ấy chiếc bánh là vừa để đặt lên bàn thờ, vừa nhân ngày xuân tết, làm một mâm đem lên chùa Hang để xin quẻ xem anh Tuyến chết rồi hay còn sống. Nếu thần linh phán bảo anh ấy còn sống, thì “người ta” vẫn cắm nốôc tại Bến Đò Cũ đợi cho đến ngày anh ấy trở về. Nhưng nếu anh ấy... đã hi... hi sinh thì “người ta” về đây ở với “đằng ấy” cho có chị có em để khi tắt lửa tối đèn có nhau.

- Bây giờ “đằng ấy” quyết định thế nào?  

- Quyết định thế nào nữa? Quẻ chưa xin, thần linh chưa phán bảo, thì cứ như cũ mà làm thôi chứ!

- Nghĩa là vẫn cắm con nốôc lợ ở Bến Đò Cũ mà chờ tiếp, rồi khi buồn lại ngâm nga: “Đợi anh anh lại về, trong chết cười ngạo nghễ”...

Cặp mắt bồ câu vẫn còn rất đẹp của bà Hoa sáng lên        long lanh. Như quên hết mọi chuyện vừa xảy ra, bà chống tay đứng dậy, chậm rãi bước ra ngoài sân chòi, miệng nhẩm đọc “Sợ người xưa rơi lệ, hẳn cho sự tình cờ...”. Cả khuôn mặt trái xoan ửng hồng có cái mũi dọc dừa thanh tú và vành môi hình trái tim đỏ chót của bà; cả thân hình thon thả trong chiếc áo dài màu xanh thanh thiên và chiếc quần vải quyến trắng tinh của bà lúc này dễ làm bà Xuân nhớ lại cô nữ sinh cấp ba trường huyện Trần Thị Mỹ Hoa ngày nào...          

Hồi còn là một nữ sinh cấp ba trường huyện, Trần Thị Mỹ Hoa tỏ ra rất có năng khiếu văn nghệ: Hát hay, ngâm thơ hay, múa dẻo, diễn kịch tốt, và có hoài bão trở thành sinh viên nhạc viện. Nhưng Mỹ Hoa chưa học hết lớp mười, thì giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc và ngôi làng Thanh Sơn ven dòng sông Son thanh bình thơ mộng của cô, chốc đã thành chiến địa. Hầu hết bạn bè trang lứa, trong đó có Lê Thị Lệ Xuân, lần lượt lên đường ra trận. Riêng Mỹ Hoa, vì cả cha lẫn mẹ đều là liệt sỹ, lại là đứa con độc nhất của gia đình, nên mấy lần cô viết đơn bằng máu xin đi thanh niên xung phong, nhưng cấp trên vẫn “nguyên tắc cứng đờ” không chấp nhận. Cuối cùng, Mỹ Hoa đành ra trận theo cách riêng, là thay mẹ (mẹ vừa bị máy bay Mỹ sát hại) chèo đò đưa bộ đội sang sông ở nơi cách bến phà Nguyễn Văn Trỗi hai trăm mét về phía hạ lưu sông Son.

Cũng thời kỳ này, dọc dãy đồi hình bát úp bờ trái sông Son, thuộc địa phận làng Thanh Sơn, có một trận địa pháo cao xạ mà Lưu Ngọc Tuyến là một trong những pháo thủ cừ khôi của đơn vị. Lưu Ngọc Tuyến quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng, đang học dở năm thứ tư ngành cầu đường, trường Đại học Bách khoa, thì có giấy gọi nhập ngũ. Với dáng người cao lớn, khoẻ mạnh; với nước da trắng trẻo hồng hào và với khuôn mặt chữ điền có vầng trán cao rộng, cặp mắt sáng long lanh của mình, vô tình Tuyến đã là hình ảnh in đậm nhất trong trái tim bao nhiêu cô gái “giỏi tay cày, hay tay súng” của xã Sơn Trạch. Nhưng sẽ chẳng có một đoá hồng nhung nào lọt được vào mắt xanh của chàng trai thành phố Cảng nếu không có cái đêm trình diễn văn nghệ “Tiếng hát át tiếng bom” do chi đoàn thanh niên địa phương tổ chức có mời bộ đội tham dự ấy. Đêm đó, cô lái đò Trần Thị Mỹ Hoa đã hút mất cả hồn vía của Tuyến không chỉ vì nhan sắc mặn mà hiếm có của cô, mà cả giọng hò khoan trong trẻo vừa dân dã vừa cao sang, và phong cách biểu diễn vừa quen thân vừa mới lạ của cô. Và cũng trong đêm đó, Mỹ Hoa đã bị Tuyến bỏ bùa mê không chỉ vì ở cái vẻ đẹp vừa “lực điền” vừa tri thức của anh, mà còn ở chất giọng ngâm thơ ấm áp, dạt dào tình cảm, bởi ngón đàn réo rắt lên bổng xuống trầm rất mực điệu nghệ của anh nữa...

Ngọc Tuyến, Mỹ Hoa yêu nhau chưa được bao lâu thì đơn vị pháo cao xạ của Tuyến được lệnh điều động qua Lào. Vì lí do đảm bảo bí mật quân sự, Tuyến chỉ nhận được tin đó vài tiếng đồng hồ trước lúc lên đường nên không sao gặp được người yêu để tạm biệt. Rất may, từ bắt đầu yêu nhau đến giờ, Tuyến thường xuyên ghi nhật ký với nội dung chủ yếu là nói về mối tình trong trắng giữa mình với Mỹ Hoa, và anh đã ghi gần hết một cuốn sổ tay bìa da dày trên trăm trang. Hai trang còn lại sau cùng, Tuyến chép bài thơ “Đợi anh về” của thi sĩ Nga         Xi-mô-nốp và xem đó như một lời ký thác của mình gửi đến người yêu thay cho bức thư từ biệt. Chép xong, Tuyến chỉ kịp nhờ một em bé chăn bò “tìm cách chuyển cuốn sổ này đến tận tay chị Mỹ Hoa càng nhanh càng tốt”, thì thủ trưởng đơn vị đã nổi còi tập hợp để kiểm điểm quân số trước giờ hành quân.

Về phần mình, mãi chập tối Mỹ Hoa mới nhận được cuốn nhật ký đó. Như một phản xạ tự nhiên, cô ba chân bốn cẳng chạy đến trận địa pháo. Nhưng lúc này ở đó chỉ còn là bãi đất hoang với những que cọc chỏng chơ, những dây nhợ bùng nhùng với những chiếc vỏ bom bi mẹ, vỏ bom bi con, vỏ đạn pháo la liệt trước những căn hầm hình chữ A miệng toang hoác...

Từ bấy, chẳng rõ lí do gì, mà Mỹ Hoa không bao giờ nhận được một lá thư hay một mẩu tin gì của Tuyến. Mỗi bận nhớ người yêu, Mỹ Hoa chỉ biết lấy cuốn nhật ký kia ra đọc. Như một thứ “gậy rút đất”, nhật ký tức khắc làm cô cảm thấy giữa mình với Tuyến chẳng xa cách nhau chút nào. Rõ ràng, với Mỹ Hoa, đây không chỉ là cuốn nhật ký bình thường, mà trong đó còn có nét đi dáng đứng, ánh mắt nhìn, còn có hơi thở nồng nàn, nụ hôn say đắm của người yêu. Riêng bài thơ “Đợi anh về”, Mỹ Hoa chẳng cần quan tâm đến chuyện tác giả của nó là ai, mà đinh ninh đây là tiếng nói trái tim thay cho lời đính ước của người yêu mà cô không có quyền chối bỏ. Phải nói dứt khoát rằng, cuốn nhật ký cùng bài thơ “Đợi anh về” là chỗ dựa tinh thần vững chắc để Mỹ Hoa yên lòng đợi chờ Tuyến suốt từ tuổi hoa niên cho đến khi mãn chiều xế bóng, mà lúc nào cô cũng tìm được lí do xác đáng để giải thích vừa cho mình, vừa cho ai đó vì thương cô mà hỏi đến. Khi đất nước còn giặc thì đã đành, nhưng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, mà Tuyến vẫn bặt vô âm tín, thì lí do chờ đợi của Mỹ Hoa là “đơn vị anh ấy còn bận qua giúp nhân dân Căm-pu-chia tiểu trừ bọn diệt chủng. Bè lũ Pôn-pốt đã bị đánh tan mà người yêu vẫn “đi biệt chưa về với bến sông”, thì lí do chờ đợi của Mỹ Hoa, hoặc là anh ấy lên mạn Bắc đánh đuổi quân bành trướng hoặc là: “Anh ấy vào Tây Nguyên lùng bắt bọn Fun-rô”. Và sau mỗi lần như thế, Mỹ Hoa lại hồn nhiên cất cao giọng ngâm nga mấy vần thơ nghe rất mùi mẫn:

“...Tan giặc bước đường quê

Anh của em lại về

Vì sao anh chẳng chết

Nào bao giờ ai biết

Có gì đâu em ơi

Bởi vì không bao người

Biết như em chờ đợi…”

Giá không có chuyện gì đặc biệt xảy ra, hẳn Mỹ Hoa vẫn với con đò nhỏ bám trụ “nơi cây đa bến nước”, nhởn nha chờ người yêu mặc cho thời gian cứ trôi đi theo nhịp mái chèo đập nước. Nhưng vào những năm Mỹ Hoa lên tuổi ngũ tuần, lứa tuổi mà nhiều bạn bè trang lứa đã làm bà nội, bà ngoại, thì đúng ở vị trí “Cây đa bến nước” ấy, có hẳn một chiếc cầu bảy nhịp hiện đại mọc lên, và dĩ nhiên cái nghề chèo đò ngang “gia truyền” của bà ở đây đã hết đất dụng võ. Lưng vốn tích cóp được bao nhiêu, bà dốc ra tậu một chiếc “Nốôc lợ” vừa để ở, vừa để xoay qua nghề chằm tôm xúc tép kiếm ăn”. Nhưng đó là theo lời bà nói, còn thâm tâm, bà nghĩ: mình không làm thế, ngộ nhỡ anh Tuyến đùng đùng quay về Bến Đò Cũ, thì biết mình ở đâu mà tìm?”. Khốn nỗi, cái việc chằm tôm xúc tép vốn dĩ chẳng phải sở trường của bà Hoa. Lại nữa, vì luôn nghĩ đến chuyện ông Lưu Ngọc Tuyến đùng đùng cõng ba lô trở về, nên bà chẳng dám chống nốôc đi đâu xa để tìm chỗ có nhiều tôm tép, mà chỉ quanh quẩn hai bên cầu, nên lượng tôm tép chằm xúc được ngày một ít đi. Thêm vào đó, trong vòng bốn năm, từ đầu 1998 đến cuối 2001, bà Hoa đau ốm triền miên, làm được đồng nào, dốc cả vào thuốc thang đồng ấy. Chính vì thế mà đã xảy ra một chuyện “động trời” liên quan đến bà Hoa, nói ra ít người tin, nhưng hoàn toàn sự thật. Đó là, để chuẩn bị đón xuân năm Tân Tỵ với hoàn cảnh trong nhà tiền hết gạo không, bà Hoa nảy ra sáng kiến là gói toàn bằng đất sét đến hơn chục chiếc vừa bánh tét vừa bánh chưng đặt lên bàn thờ. Bà làm thế, chủ yếu là vì sĩ diện với bà con làng xóm. Ngày thường chả nói, chứ ba ngày tết người ta đến thăm mà bàn thờ nhà mình “hương tàn khói lạnh” để họ cười thối mũi à? Khốn nỗi, chính vì cái tính sĩ diện ấy của bà lại là nguyên nhân sau này làm bà phải xấu hổ vì có người phát hiện thấy bánh thờ của bà toàn là bánh rởm.

Có hai đứa bé trạc mười hai, mười ba tuổi đều béo mũm mĩm, đều tóc vàng màu lông bò, đều đen thủi đen thui như cột nhà cháy, đang rón rén theo đường cầu thang trèo lên chòi. Gần đến bậc cuối cùng, cả hai dừng lại, đứa nọ đùn đứa kia lên trước nhưng mãi cả hai vẫn cứ thò thụt ngoài cửa, lấm lét nhìn bà Hoa với vẻ sợ sệt nom rất lạ.

Hai chú bé này là thằng Hòa với thằng Hiếu, tuy gọi bà Xuân bằng “bà nội”, nhưng không phải cháu ruột của bà.

Bà Xuân đi bộ đội giữa năm 1965. Sau tám năm đánh giặc trên đất miền Nam, Lào, Căm-pu-chia, Lê Thị Lệ Xuân trở về quê với một cái chân gỗ, một khuôn mặt bỏng Na-pan thành dị dạng, và theo kết quả xét nghiệm máu, thì bà còn bị nhiễm chất độc màu da cam rất nặng. Tự biết mình không thể lấy được chồng, bà thân hành đến cô nhi viện xin một đứa bé trai mười tuổi, tên là Thương, đem về làm con nuôi. Cu Thương ngoan ngoãn, chăm làm, chăm học. Tốt nghiệp cấp ba, không có điều kiện thi vào đại học, cu Thương ở nhà giúp mẹ lo liệu ruộng vườn, đầu năm 1990, cu Thương lấy vợ, vợ Thương sinh cho bà Xuân một cặp sinh đôi và bà đã đặt tên là Hòa và Hiếu. Hòa, Hiếu chưa đầy ba tháng tuổi thì trong một lần đào giếng lấy nước ăn, vợ chồng Thương không may cuốc phải bom bi làm cả hai đều thiệt mạng. Thấy bà Xuân đơn chiếc, tật nguyền mà phải nuôi một lúc hai cháu bé đang tuổi sài đẹn, bú mớm, bà con làng xóm lắc đầu ái ngại. Họ thành thật khuyên bà đem gửi thằng Hoà, thằng Hiếu vào cô nhi viện, nhưng bà chẳng những không nghe, mà còn làm mặt giận “khuyên gì không khuyên lại khuyên người ta bỏ con bỏ cháu, sao lắm người dở hơi đến thế không biết”, bà nói vậy và từ bấy, bà luôn gồng người lên trong mỗi công việc như để gián tiếp nói với mọi người: “tôi thừa sức nuôi hai cháu tôi cho đến ngày khôn lớn”. Nhưng bà Xuân gồng lên thế chứ giả có gồng lên hơn thế nữa, mà không có sự chung lưng đấu cật của bà Hoa, thì cũng không tài nào đưa được con thuyền nặng nề ọp ẹp đó của gia đình mình vượt qua bao nhiêu ghềnh thác của dòng sông cuộc đời.           

Cha mẹ thằng Hòa, thằng Hiếu qua đời hôm trước, thì hôm sau bà Hoa đã dọn đến xóm Vạn Chài ở với bà Xuân. Từ bấy, bà Xuân chỉ ở nhà lo cơm nước và chăm sóc hai cháu, còn bà Hoa ngoài việc chèo đò ngang, còn tranh thủ cuốc cày trồng thêm luống khoai, trỉa thêm sào bắp để có đủ đồng tiền bát gạo cho cả bốn miệng ăn. Từ bấy, chính bà Hoa lành lặn chứ không phải bà Xuân tật nguyền, ngày ba bận tay bế đứa cháu này, lưng địu đứa cháu khác đi khắp làng trên xóm dưới xin cho chúng bú nhờ, và vắt lên cổ chạy đến mời ông lang này, bà y tá nọ mỗi khi có đứa cháu nào the da ấm trán. Từ bấy, đêm đêm, mỗi bà ẵm một đứa cháu lên giường riêng để chia nhau niềm vui được cất tiếng ru hỡi ru hời. Chính vì thế mà trong tiềm thức thằng Hòa, thằng Hiếu, hình ảnh bà Xuân bà Hoa đều gần gũi thân thương như nhau, chẳng chút phân biệt. Do vậy nên lúc này, khi bà Xuân vô tình bước lại bên cầu thang thấy hai đứa đang lấm lét nhìn bà Hoa như hai con chuột thấy bóng dáng một con mèo, thì lấy làm lạ, quát:

- Quái, hai thằng giặc cỏ không lên chào bà trẻ, còn định giở trò gì đấy nữa hả?

“Hai thằng giặc cỏ” giật mình, lấm lét nhìn nhau, rồi tiu nghỉu như vượn chết con rời cầu thang, đến trước bà Hoa, lí nhí:

- Chúng cháu chào bà trẻ ạ... Chúng cháu chúc bà trẻ năm mới tiến bộ mới ạ...

- Lại còn “tiến bộ mới” nữa cơ đấy! - Bà Hoa cười ngất - Ô kìa! Hình như chúng mày mới đánh nhau với thằng nhóc nào hay sao mà mặt xị như bố vợ phải đấm cả thế? Tết nhất mà thế là dông cả năm đó. Nào, lại đây, lại gần đây để bà mừng tuổi.

Bà móc túi lấy hai tờ giấy bạc loại năm nghìn mới kinh coong, đưa cho thằng Hòa, thằng Hiếu, nhưng chẳng đứa nào đón nhận, khiến bà phật ý:

- Ô hay! Chúng mày chê ít à? Của thơm, của thảo, của bà lão ăn thừa chỉ có thế thôi đấy.

- Không phải chê ít đâu - Một trong hai đứa trẻ lí nhí đáp - Chỉ vì... Chỉ vì chúng cháu thấy mình... không xứng đáng được bà... được bà…

- Mừng tuổi chứ khen thưởng gì đâu mà bảo xứng đáng. Với lại... Năm học vừa rồi, hai đứa chẳng được học sinh tiên tiến cả đó sao?

- Nhưng... chúng cháu vừa... mắc tội nặng... với bà!

- Với bà nào? Với bà nội hay với bà trẻ? Với bà trẻ à? Ha ha... lớn lên chúng mày đều có thể làm “nhà văn nói láo, nhà báo nói phét” được cả đấy. Vậy cái tội nặng ấy là tội gì thử nói nghe nào? - Bà Hoa bắt đầu nghiêm trang một cách hài hước - Nói đi để nếu tội quá nặng thì cho vào tù, tội nặng vừa thì xử phạt hành chính. Pháp bất vi thân mà. Nào, nói đi, nói đi!           

Bà Hoa giục đến mỏi miệng, hai đứa trẻ vẫn đun đẩy nhau. Mãi đến lúc bà Xuân sốt ruột quát ầm lên, thằng Hiếu, với tư cách làm anh, phải đứng ra chịu trận:

- Thưa, lúc nãy đứng dưới chân cầu thang, chúng cháu... đã nghe... hai bà kháo nhau... chuyện bánh chưng, bánh tét của bà trẻ bị đánh... đánh tráo ạ.

- Đúng rồi!- Bà Xuân gần như chồm lên - Chắc chúng mày đã biết đứa đánh tráo ấy là ai rồi phải không?

- Dạ... biết ạ!

- Đứa nào?

- Dạ... dạ... chính hai đứa chúng cháu ạ.

- Cái gì? Cái gì? Nói năng cho nghiêm túc! Không được đùa!

- Chúng cháu đâu dám đùa! - Như đã vượt qua cửa ải nguy hiểm nhất, thằng Hiếu mạnh dạn hẳn - Chính chúng cháu đã đánh tráo số bánh ấy và đã đem về vào lúc... khoảng mười giờ đêm hôm qua... Hòa, mày ra sau chái, đêm chõ bánh ấy vào trả lại cho bà trẻ.

Thằng Hòa cũng đã lấy lại bình tĩnh, ra sau chái chòi. Một lát, nó quay trở vào với một gánh nặng lặc lè toàn bánh tét bánh chưng, chiếc thì còn để nguyên nên vuông thành sắc cạnh, chiếc thì đã bị bóc ra kiểm tra rồi gói lại, nên xộc xệch méo mó và tất cả đều được treo lủng lẳng trên hai đầu mấu của một chiếc đòn gánh tre, làm cho cả bà Xuân lẫn bà Hoa đứng há hốc mồm ra như sáo con đói mồi.

- “Trời cao đất dày ơi! Hóa ra bấy lâu nay tôi nuôi hai thằng kẻ cắp trong nhà mà không biết! - Mãi hồi lâu, bà Xuân mới mở được miệng, la lên - Nhưng tại sao chúng mày lại đổ đốn ra như thế? Tại sao?

Đến lượt thằng Hòa đứng ra chịu trận:

- Vì chúng cháu... thương bà trẻ ạ.

- Thế nào? Vì chúng mày thương bà trẻ? Thương bà trẻ mà đi ăn trộm bánh của bà ấy sao?

- Không phải ăn trộm mà đánh tráo! - Thằng Hòa bướng bỉnh cãi lại - Vì chúng cháu tưởng năm nay bà trẻ vẫn gói bánh bằng đất sét như năm ngoái, nên chúng cháu đem bánh thật đến đánh tráo. Nhưng không ngờ...

- Sự thật đúng vậy sao? - Cặp mắt đeo kính cận của bà Xuân chợt bắn lên bao nhiêu tia nắng, bao nhiêu tia sáng - Nhưng bánh thật chúng mày lấy đâu ra?

- Dạ chúng cháu tự gói lấy ạ.

- Lấy nếp đâu mà gói?

- Dạ nếp thì do chúng cháu đi mót lúa cả năm, tích trữ lại, bà biết rồi còn gì?

- Đúng là hai đứa có đi mót lúa thật. Cứ tưởng sau đó chúng nó bán đi lấy tiền ăn kẹo, hoá ra... - Bà Xuân lẩm nhẩm, rồi lại cất cao giọng - Nhưng chúng mày nấu bánh vào lúc nào mà bà không biết?

- Dạ, chúng cháu đem nhờ cô giáo Lan, chủ nhiệm lớp chúng cháu nấu hộ. Chính cô giáo cũng tán thành việc đánh tráo này của chúng cháu lắm đó ạ.

- Cha cha, được cả cô giáo chủ nhiệm làm quân sư quạt mo thì việc gì mà chẳng chót lọt! - Bà Hoa nói chen vào, rồi quay sang bà Xuân: - Thôi “đằng ấy” đừng tra khảo hai cháu nữa, mà “người ta” khóc òa lên bây giờ đây này. Chao ôi! Sao chúng nó lại có những ý nghĩ với việc làm dại dột một cách đáng yêu đến thế không biết?

Bà Xuân nguýt yêu bạn:

- Thôi đi. Đừng có khen hai con quỷ rách trời rơi xuống ấy mà chúng lên mặt.

- Được voi đòi tiên: “Người ta” đây mà có được một thằng “rách trời rơi xuống” như thế, thì đâu đến nỗi.

- Nếu muốn “người ta” cho một đứa đó.

- Thật ư? Nói lời phải giữ lời!

- Giữ lời chứ. Cho ai chứ cho “đằng ấy” thì mất đi đâu mà so bì. Tuy vậy, cũng phải có điều kiện.

- Điều kiện thế nào? - Bà Hoa giật giọng.

- Điều kiện tiên quyết là “đằng ấy” phải quay về đây ở với “người ta” cho vui. Này Hòa, Hiếu! Chúng mày có thích vậy không?

- Thích lắm! Thích lắm ạ! - Hai đứa bé nhảy cẫng lên mà reo, rồi quay sang bà Hoa, đứa hót cổ, đứa bá vai - Bà về đây ở với chúng cháu như ngày xưa cho vui bà nhé… Rồi chúng cháu đi câu cá hanh, hái quả mít nài cho bà ăn.

Bà Hoa bất giác thấy cay xè trong sống mũi:

- Bà cũng muốn quay về đây ở với hai thằng chó con của bà lắm chứ. Khốn nỗi, nếu bà chống chiếc nốôc lợ ra khỏi Bến Đò Cũ nhỡ ông Tuyến cõng ba lô quay về, thì biết bà ở đâu mà tìm?

- Bà này! - Thằng Hiếu bỗng nhiên trầm ngâm như ông cụ non - Nếu đã về đến Bến Đò Cũ, thể nào ông cháu chẳng hỏi các cô các chú gác trên cầu, và họ sẽ chỉ chỗ ở của bà cho ông cháu chứ.

- Thằng bé nói nghe có lí đó - Bà Xuân phụ họa - Ông Tuyến đã cất công về đến Thanh Sơn, thì “đằng ấy” có cấm cung trong động tiên, ông ấy cũng lôi ra nữa là... Thôi cứ về đây ở với “người ta” rồi “người ta” cho thằng Hiếu đó mà làm cháu nội. Này Hiếu, cháu có chịu nhận bà Hoa làm bà nội không hả?

- Chịu, chịu ạ. Nhưng bà trẻ phải về ở đây cơ.

- Được, bà sẽ về ở đây, sẽ về - Bà Hoa mừng quá hoá cuống - vậy là từ rày cháu phải gọi bà bằng bà nội. Bà sẽ lên Ủy ban làm lại giấy khai sinh cho cháu để cháu mang họ Lưu. Vì ông nội cháu là Lưu Ngọc Tuyến quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Bà sẽ nuôi cháu ăn học đến công thành danh toại. Nhưng cháu đừng quên là mình có phận sự mỗi ngày một bận đi xuống Cầu Mới nhắc nhở các cô các chú đứng gác hai bên đầu cầu, hễ có ai hỏi thăm nhà bà Trần Thị Mỹ Hoa, thì chỉ cho họ về đây được không?

- Được chứ ạ. Việc đó thì dễ ợt.

- Được ư? Vậy là từ giờ phút này, cháu đã thành cháu nội của bà rồi đó, và quê cháu phải là Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Chao ôi! Sao hôm nay tôi thấy ai cũng đáng yêu cả thế này nhỉ? Đáng yêu lắm này! Đáng yêu lắm này!...

Bà lần lượt ôm hôn thằng Hiếu, thằng Hòa, rồi bà Xuân một cách hết sức tự nhiên. Đoạn, bà chấp hai tay lên ngực, ngoảnh nhìn về Bến Đò Cũ, nơi ngày nào cô lái đò Trần Thị Mỹ Hoa cùng anh pháo thủ Lưu Ngọc Tuyến từng trao cho nhau những nụ hôn say đắm, nói như người mộng du:

- Anh Tuyến ơi! Anh Tuyến! Đúng ra thì hai ta đâu đã là chồng vợ, và dĩ nhiên em chưa thể sinh cho anh một đứa con nối dõi. Nhưng giờ đây, sau hơn một phần ba thế kỷ xa cách, em đã tìm cho anh được một đứa cháu nội. Bà cháu chúng em ở xóm Vạn Chài, cách Bến Đò Cũ không xa. Nếu còn sống, anh cố gắng thu xếp mà về, sớm được ngày nào hay ngày ấy.    

Thế rồi, như một thói quen cố hữu không tài nào bỏ được sau mỗi lần nhắc đến tên người yêu, bà lại cất cao giọng đọc bài thơ “Đợi anh về”. Đọc đến đâu, cặp mắt bồ câu tuyệt          đẹp của bà sáng lên long lanh đến đỏ.

                                                                                                                      B.D

(1) Nốôc lòi: Con đò nhỏ.

(2) Nốôc lợ: Con đò cỡ trung bình.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.