NỘI DUNG CHI TIẾT
CỐT CÁCH NGUYỄN DU QUA NHỮNG TRANG TIỂU THUYẾT
3/30/2015

Nguyễn Thế Quang 

 

     Bốn mươi năm là Nhà giáo, năm nào tôi cũng được giảng Thơ của Tố Như cho bao  học sinh. Những năm đầu nghỉ hưu, tôi dồn sức tìm hiểu cuộc đời và thơ của tiên sinh để viết nên Tiểu thuyết NGUYỄN DU. Mấy năm nay, tôi dồn sức đọc và viết về những danh nhân khác, thế nhưng cuộc đời và Thơ của Người vẫn ám ảnh, vẫn cuốn hút tôi. Càng đọc thơ Nguyễn Du, tôi càng thấy thêm bao điều mới mẻ khôn cùng. Tôi luôn băn khoăn tự hỏi: điều gì đã tạo nên những vần thơ có giá trị lớn lao mà bao năm, bao lớp người vẫn say đắm tìm đến, để UNESCO  tôn vinh Người là Danh nhân Văn hóa thế giới? Vì học vấn ư? Đó là điều rất quan trọng nhưng trước đó và sau này nhiều người học rộng chẳng kém và có khi hơn Nguyễn nhưng có ai làm được những câu thơ đọng lại trong hồn người đến thế! Vì thiên phú ư? Cũng không phải! Cái trời cho chỉ chiếm một phần nhỏ trong sự nghiệp của những vĩ nhân. Đi vào những nét nổi trội nhất của thơ Tố Như, gắn vào thời đại và những bước đi gập ghềnh cheo leo của cuộc đời Nguyễn, tôi cố tìm lời giải cho nỗi băn khoăn của mình.

Rơi vào những biến động dữ dội của lịch sử, trải qua bao cảnh bể dâu, dâu bể, từ chót vót cao sang của con một đại danh gia vọng tộc, rơi xuống cảnh “thập tải phong trần” ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ, chịu sáu năm nghèo khó đến cùng cực nơi quê cha, Nguyễn đã nếm đủ mùi cay đắng. Lòng mang bầu tâm sự u uất không biết ngỏ cùng ai, Nguyễn rơi vào nỗi buồn lớn. Nghe một tiếng chim kêu, cảm thấy nỗi bi thương xao động cả càn khôn, lắng tiếng trống nơi biên ải giữa đêm hè nóng nực mà cảm thấy giá lạnh đang ùa về “Quy hồng bi động thiên hà thủy/ thú cổ hàn xâm hạ dạ phong” (Trệ khách). Thế nhưng, Nguyễn không tuyệt vọng, vẫn ham sống “Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân” (U cư). Sống - đối với Nguyễn không chỉ là tồn tại mà điều quan trọng hơn hết là phải giữ được nhân cách, cốt cách của mình: “Bình sinh bất khởi thương dăng niệm/ Kim cổ thùy đồng bạch nghị oa?” (Tạp ngâm) - Bình sinh chưa hề có ý nghĩ của loài ruồi nhặng, Xưa nay ai lại cùng chung tổ với lũ mối. Không tìm được niềm vui giữa cuộc đời, Nguyễn tìm niềm vui tự chính mình, mừng vì mình: một mình đi trong đêm tối mà “Thả hỉ tu mi bất nhiễm trần” (Dạ hành) - mừng vì râu mày chẳng nhuốm chút bụi trần. Bị lệnh triệu, không thể từ được, đành phải “Bó thân vào với triều đình” Nguyễn xót cho mình, khóc cười cũng không còn được tự nhiên “Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần” (Xuân tiêu lữ thứ). Nguyễn cố giữ lấy cốt cách cứng cỏi và một tâm tính trong sáng không chút hoen ố. Mười tám năm trong thế giới quan trường, có khi là quan đầu tỉnh, rồi chánh sứ sang đất nước Trung Hoa về thăng lên Hữu tham tri bộ Lễ, cốt cách thanh cao của Nguyễn vẫn không thay đổi. Bả vinh hoa phú quý và sức hấp dẫn của quyền lực dễ làm cho con người biến dạng, chạy tìm danh lợi lớn hơn, thế nhưng Nguyễn thì không màng. Cảnh nhà đói rét “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng,” có quyền lực trong tay dễ làm cho con người tham lam nhưng lòng Nguyễn vẫn trắng như tuyết không nhuốm một chút hắc khí nào. Đứng trước uy quyền tuyệt đối của quân vương độc quyền, giữa các thế lực ghê gớm có thể xâu xé nuốt chửng mình, Nguyễn vẫn sống theo cách của mình. Không xu nịnh, không a dua bè phái, bề ngoài “tỏ ra kính cẩn, do dự, rụt rè” nhưng bên trong cứng cỏi “ngạo nghễ và tự phụ” của một kẻ biết được chân giá trị của mình. Quân vương bảo: “biết thì phải nói để hết chức phận” không nên “chỉ biết vâng dạ” thế nhưng Nguyễn vẫn lặng lẽ, chỉ lo làm trọn bổn phận, không hề có một ý kiến nào. Quyền lực tuyệt đối của triều đình không sai khiến được Nguyễn. Biết mình, biết người, biết thời thế, Nguyễn không hăng hái cả tin để rồi chết tức tưởi như anh ruột mình là Nguyễn Nễ, không tham lam, coi thường luật pháp phải chết nhục như Đặng Trần Thường, không cố chấp u sầu mà chết héo như Ngô Nhân Tĩnh, cũng không kiêu ngạo, chủ quan mà phải chết oan như Nguyễn Văn Thành. Nguyễn biết chịu đựng, biết hy sinh để tồn tại mà thực hành chí nguyện lớn lao mình.

Xưa nay “cổ lai danh lợi nhân/ bôn tẩu lộ đồ trung”(Thơ Cao Bá Quát), bao người đua nhau chạy vào thế giới quyền lực, tìm cái danh gắn với cái lợi. Tố Như đã không vì lợi mà cũng chẳng thèm cái danh hão. Người cho rằng: cần gì phải lo cái danh xa xôi sau này: “Hà sự mang mang thân hậu danh” (Hành lạc từ). Tâm trí Nguyễn chỉ đắm mình vào Văn chương: “Bách niên ai lạc hà thời liễu/ tứ bích đồ thư bất yếm đa” (Tạp ngâm)-cuộc buồn vui trăm năm bao giờ mới hết, sách vở đầy bốn vách bao nhiêu cũng vừa. Nguyễn quyết trọn đời với nó “Bách niên cùng tử văn chương lý” (Mạn hứng 2). Trải qua bể dâu càng hiểu thêm cuộc đời, Nguyễn càng cảm thấy danh lợi sẽ mau chóng tan đi chỉ có Văn chương là bất tử. Trong bài “Hành lạc từ” Nguyễn đã nói rõ: Phùng Đạo là bậc khanh tướng, trải qua bốn triều, bổng lộc giàu sang ít ai bằng, rút cuộc cũng chỉ là “cánh hoàn không” duy chỉ bài “Trường lạc tự” là còn lại. Khi đi sang Trung Hoa, đứng trước lầu Hoàng Hạc, nghĩ đến số phận bao người, bao đời, Nguyễn khẳng định: xưa nay công danh phú quý là một giấc mộng, chỉ có văn chương còn mãi mà thôi:“Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng/ Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi.” Chính vì thế trong tình cảnh mình là tôi cũ của nhà Lê, quan bất đắc dĩ của nhà Nguyễn, Tố Như đại ẩn giữa chốn triều đình, cố giữ chí bền mà quyết lập thư.

Nguyễn như con rồng lớn biết nằm im giữa đáy biển, lặng lẽ học, chiêm nghiệm, tích tụ năng lượng để có lúc vùng dậy và tỏa sáng. Chuyến đi sứ Trung Hoa chính là dịp như thế. Ý thức sâu sắc sức mạnh của Văn chương, đêm trước khi qua Ải Nam quan, không thấy chánh sứ tuế cống Nguyễn Du nghĩ gì đến sản vật của triều Nguyễn mang theo mà ông chỉ nghĩ đến “Khuông trung huề hữu bút như đao” - trong tráp đã có ngọn bút sắc như dao. Thân phận người đại diện quốc gia không phải là bề tôi chịu thần phục mà là tư thế của chiến sĩ sắp bước vào một cuộc chiến lớn về  tư tưởng, về Văn hóa với cả một Trung Hoa mênh mông, hàng nghìn năm văn hiến, nơi luôn ngạo mạn tự cho mình là trung tâm của văn minh nhân loại. Chỉ trong vòng 12 tháng (tháng ba năm Quý Dậu 1813 đến tháng ba năm Giáp Tuất 1814) Nguyễn viết 132 bài, nhiều hơn thơ còn lại của cả cuộc đời mình (mười sáu năm hàn vi lận đận chỉ có 60 bài, hai mươi năm làm quan ở nước Việt chỉ có 58 bài). Đó thực là một sự bùng nổ, thăng hoa, chói sáng.  Ngòi bút của Nguyễn Du súc tích mà tài hoa, sắc sảo và biến hóa, hùng hồn và tha thiết thể hiện một tầm cao vòi vợi về tư tưởng và văn hóa không mấy ai sánh kịp.

Đối thoại với lịch sử Nguyễn tranh luận với mọi giá trị của Trung Hoa. Nguyễn điềm tĩnh khẳng định sự bất tử của những danh nhân lớn: Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Liễu Tông Nguyên, Dự Nhượng... mạnh mẽ phủ nhận những giá trị mà Trung Hoa đề cao: Tô Tần khí cục nhỏ nhen, Mã Viện tham lam, Tào Tháo tiếng thối đầy săng. Mạnh mẽ nhất là ở trên đất nước Trung Hoa mà Nguyễn chỉ rõ Minh Thành tổ  là kẻ bất chính và bạo tàn, khẳng định “thánh nhân xuất” lúc bấy giờ chính vua Lê của nước Nam. Phải gan góc, tự tin và cả niềm kiêu hãnh tự hào về dân tộc lắm mới có thể có những vần thơ sắc sảo, mạnh mẽ đến vậy. Không chỉ có thế, Nguyễn nhớ tiếc một khúc nhạc Kê Khang, lên tiếng giải oan cho những người đẹp bị lịch sử bất công vu tội: “Tự thị cử triều không lập trượng/ uổng giao thiên cổ tội khuynh thành” (Dương Phi cố lý). Nguyễn là một nhân cách văn hóa lớn.

Không chỉ lặng lẽ đối thoại với quá khứ mà ông hăm hở đối thoại với thực tại. Ngòi bút của tiên sinh có phê phán bác bỏ, có đau xót yêu thương. Nguyễn thẳng thắn chỉ  rõ những điều mà sách vở thánh hiền cũng như quân vương nước Việt ngợi ca đều không có thực trong cõi người này. Tố Như chỉ rõ sự suy thoái về đạo lý của Trung Hoa “Cộng đạo Trung Hoa trọng tiết nghĩa/ như hà hương hỏa thái thê lương” (Quế Lâm Cù Các bộ) - Nghe nói Trung Hoa trọng tiết nghĩa, sao đây hương khói lạnh thế này. Cả sự suy sụp về kinh tế “Chỉ đạo Trung Hoa tận ôn bảo/ Trung Hoa diệc hữu như thứ nhân” (Thái bình mại ca giả). Nghe nói Trung Hoa no ấm cả, Trung Hoa cũng có cảnh này sao? Đó là những phản biện sắc sảo, bác bỏ những giá trị không có thật của một vương triều thống trị. Từ thực cảnh đó, tấm lòng nhà thơ nước Việt tràn ngập những tình cảm yêu thương con người, nhất là người cùng khổ với cảm thức nhân loại. Lòng ông đầy xót thương cho những người dân Trung Hoa “Nhãn hạ ủy câu hác/ huyết nhục tự sài lang” (Sở kiến hành)-chết lăn rãnh đến nơi, thịt da béo cầy sói. Là người trong hội quan trường, Nguyễn đã dám chỉ ra bản chất giả dối và tàn ác của quan lại “Xuất giả khu xa, nhập cử tọa/ tọa đàm lập nghị giai Cao Qùy/ Bất lộ trảo nha dữ giác độc/ Giảo tước nhân nhục cam như di” (Phản chiêu hồn) – họ đi ra ngựa xe vênh vênh váo váo, miệng nói hay như ông Cao ông Qùy, Không lộ vuốt nanh và nọc độc, Nhưng nhai thịt người ngọt xớt như ăn đường. Hơn thế nữa, từ đó Nguyễn đã khái quát “Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan/ đại địa xứ xứ giai Mịch La”- đời sau này ai ai cũng gian nịnh như Thượng Quan, trên mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La nơi những kẻ sĩ như Khuất Nguyên phải tự vẫn. Đó là những lời gan ruột và sâu sắc, đau đớn và căm phẫn của một con người trung thực và dũng cảm. “Bắc hành tạp lục” kết tinh những tư tưởng cao đẹp, những tình cảm nồng thắm với nhiều cung bậc của một thi nhân nước Việt mang tầm vóc thời đại.

Đâu chỉ có thế “Du rất giỏi về thơ và thơ quốc âm rất hay. Khi sang sứ nước Thanh về có tập thơ “Bắc hành” và truyện “Thúy Kiều” (Đại Nam thực lục chính biên). Với cái tâm trong sáng, không định kiến, không bảo thủ, Nguyễn biết học những cái hay trong văn chương uyên bác của người xưa nhưng cũng rất biết học cái hay cái đẹp của dân gian “Thôn ca sơ học tang ma ngữ” (Thanh minh ngẫu hứng) đã làm cho Nguyễn tạo nên một tượng đài kỳ diệu, bất hủ của Văn chương Việt Nam. Ôm mối sầu vạn thuở Nguyễn viết nên một “Đoạn trường tân thanh” khóc cho thân phận bao kiếp người và cả kẻ sĩ phải chịu những bi kịch đớn đau khôn cùng. Câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà” cất lên như có máu chảy đầu ngọn bút. Nguyễn khóc cho muôn người mà cũng khóc cho mình. Tiếng khóc này trong văn chương có nhiều, nhưng cái làm cho Truyện Kiều khác người, hơn người, vượt lên thời đại bấy giờ chính là cái nhìn mới mẻ, là khát vọng lớn lao. Học theo cửa Khổng sân Trình mà Nguyễn cổ vũ cho các cô gái đạp lên đạo Tam tòng “Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình” tìm đến với chàng trai mà mình yêu. Luôn được nghe, luôn bị bắt theo giữ đạo Tam cương, tôn thờ tuyệt đối thiên tử, thế mà Nguyễn dám viết “Chọc trời quấy nước mặc dầu/ dọc ngang nào biết trên đầu có ai.” Trong tay của quân vương độc quyền, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết mà dám viết những câu thơ đảo lộn cả đất trời như vậy thì chỉ mới thấy ở Nguyễn Du. Cái cốt cách cứng cỏi đến bất chấp tất cả để đòi Tự do cùng khát vọng Tình yêu mãnh liệt cho con người, vượt qua những tư tưởng  trói buộc của chế độ phong kiến đã đưa tác phẩm Truyện Kiều tới đỉnh cao sừng sững của thi ca đương thời. Nguyễn Du không chỉ đặt ra và giải quyết những vấn đề của một nhóm người, của dân tộc mình thời đó mà cho cả nhân loại, trong mọi thời đại.

“Có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời,” cùng với tài năng văn chương trác tuyệt, Tố Như đã làm nên một sự nghiệp Văn chương không đồ sộ nhưng lại là những đỉnh cao chưa ai vươn tới. Chính cốt cách sống thanh cao, cứng cỏi cùng với tấm lòng son đầy yêu thương con người “mài chẳng khuyết, nhuốm chẳng đen” là sức đẩy mạnh mẽ đưa Nguyễn Du vươn lên tầm vóc của một Đại thi hào, một Danh nhân Văn hóa của Nhân loại.

Cốt cách ấy, xưa nay dễ có mấy ai? Bao giờ chúng ta có thêm những Nguyễn Du?

Nguồn: Báo Văn nghệ số 10+11/2015

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.