NỘI DUNG CHI TIẾT
VĂN HÓA - QUY LUẬT CỦA ĐỊNH THÁI VÀ BIẾN THÁI - NHÌN LẠI VÀ ĐI TIẾP
5/20/2015

                                                                                                                                               GS.VS. HỒ SĨ VỊNH

Vào mấy năm gần đây, từ Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (6-2008) về phát triển văn học, nghệ thuật cho đến Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, còn sau đó là Đề án của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương: Lý luận văn nghệ Việt Nam - thực tiễn và định hướng trong thời kỳ mới đều đòi hỏi xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Đó là công việc không dễ, đòi hỏi công sức của nhiều nhà khoa học. Để góp phần vào công trình này, chúng tôi xin nêu hai điều kiện tiên quyết: Đó là tư liệu chuẩn xác về văn hóa sử từ cổ đại đến hiện đại và phương pháp luận khảo sát để có thể tổng kết lý luận và ứng dụng vào thực tiễn. Xin nêu hai nội dung của bài viết:

Rà soát lại các giá trị trong văn học, nghệ thuật truyền thống.

Giá trị là phạm trù triết học, kinh tế học, chỉ tính có ích, có ý nghĩa của sự vật trong tự nhiên, xã hội để con người sử dụng và hưởng thụ. Ở đây, là các giá trị tinh thần, giá trị xã hội. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tiền nhân đã để lại cho chúng ta nhiều kho báu quan yếu. Văn chương, nghệ thuật là một kho báu chứa nhiều giá trị phức hợp, phần lớn được viết bằng chữ Hán; về sau, trong sáu thế kỷ tiếp mới có chữ Nôm, văn Nôm. Nho học là nền tảng của hệ thống giáo dục khoa bảng với mục đích đào tạo sĩ phu học để làm quan, phụng sự cho các nền chính trị phong kiến, văn chương được sáng tạo, dù ở đỉnh cao với nhiều văn nhân kiệt xuất vẫn chịu ảnh hưởng của Khổng giáo. Năng lực sáng tạo của văn nhân nghệ sĩ là to lớn, nhưng cha ông ta không quen làm nghệ thuật học. Tư duy trực giác hạn chế tư duy khái niệm, chưa tạo dựng được một nền mỹ học có tính truyền thống, được coi là cơ sở triết học của văn hóa. Thực trạng đó kéo dài hàng nghìn năm, để lại những khiếm khuyết có tính lịch sử sau:

Một nền văn học chữ Nho có xu hướng đạo đức nhập thế, ít bàn luận về triết học, mỹ học, có khuynh hướng sáng tác nghệ thuật. Ngay cả Lê Quý Đôn (1726 - 1784) cho đến thế kỷ XVIII, người sớm tiếp cận nhiều cái mới của châu Âu về các quy luật địa lý tự nhiên của bốn châu lục, về lý, khí, lịch số rất tinh tường, về văn tự độc đáo qua các sách của đạo Giatô, phát hiện nhiều địa danh nước Nga ghi trong Vân đài loại ngữ, v.v..., thế mà ông vẫn chưa thật rạch ròi tìm ra quy luật nào về sáng tạo trong văn hóa sử. Chưa nói, trong số 40 bài thơ được ông chép trong Kiến văn tiểu lục, nói là của nhà thơ thiền sư Hương Hải (1628 - 1715) thì có đến 32 bài là tác giả Trung Quốc!?

Muốn nghiên cứu tốt, đề xuất luận điểm, ý tưởng, trước hết phải dựa vào tư liệu, văn bản học (nói như V. Lênin: tư liệu lớn như núi); nhưng tư liệu càng nhiều, thì dễ bị lầm lẫn, trùng lặp. Trong kho tàng Hán học đồ sộ từ phương Bắc nhập vào nước ta, qua các triều đại tránh sao khỏi “tam sao thất bản”. Văn Hán, văn Nôm thường mượn những điển tích trong thư tịch cổ Trung Hoa. Chỉ riêng kho từ vựng chỉ việc học hành đã có hàng trăm từ ngữ: Cửa Khổng, sân Chu Trình, áo Trọng Do, đai Tử Lộ, màn Trọng Thư, gối Ôn Công, cỏ bồ chép Sách, Tôn Khang, đèn học bóng tuyết, v.v... Văn Nôm mượn Hán văn, nhưng thường dùng theo nghĩa riêng; còn chuyện nhầm lẫn trong thư tịch ta là khó tránh. Ví dụ: bài thơ Xuân Nhật tức sự được cho là của sư Huyền Quang (đời Trần) nhưng theo bộ sử Thiền tông Trung Quốc cho biết: Bài thơ này là của Ảo Đường Trung Nhân (?-1203) được học trò của ông là thiền sư Lôi Am Chính Thọ (1145 - 1208) đính chính là của thầy mình. Bài thơ Kiều Trang Khuyết thi phụ lục tập Vương Thúy Kiều truyện được các học giả Việt Nam cho là của Nguyễn Du, ghi lại mối tình của ông với một thiếu nữ Hoàng tộc, khi làm quan ở Huế: Tam sinh chung ái, Kiều Trang Khuyết... Thật ra là của Giang Vĩnh, đời Thanh, một học giả uyên bác, miêu tả mối tình trong sáng với một nữ sinh, gây cảm hứng sáng tạo cho bài thơ; về sau, chính người nữ sinh đó chép lại thành giai thoại trong Thi thoại loại biên.

Tư liệu đồ sộ là lợi thế; một số tác phẩm lớn thường do nhiều người chép, nhiều đời chép, có khi từ khởi thảo cho đến khi hoàn thành kéo dài mấy trăm năm. Ví dụ: Đại Việt sử ký toàn thư là bộ quốc sử do Ngô Sĩ Liên biên soạn, về sau được viết tiếp, hoàn thành năm 1677, gồm 24 cuốn ghi lại lịch sử từ đời Hồng Bàng đến khi Lê Thái Tổ lên ngôi. Những phần bổ sung về sau do nhiều nhà sử học biên soạn. Ngoài ra, sự trùng lặp, vay mượn giữa lịch sử và dã sử, giữa văn chương hữu danh và truyện nôm khuyết danh, giữa văn nôm của bậc hiền nhân và văn học dân gian. Lịch sử cũng chép lại ba câu châm ngôn về hiền tài gần giống nhau:

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là do đại khoa Thân Nhân Trung, viết ký bia Tiến sĩ năm Nhâm Tuất (1442);

Hiền tài là khí dụng của quốc gia là của Nguyễn Kiều, tác giả bài ký bia Chính Hòa 4 (1683);

Hiền tài là nền tảng của quốc gia, tác giả là Nguyễn Quí Đức, bia Vĩnh Thịnh (1715). Đủ biết sự phong phú thường kèm theo tính phức hợp v.v... Nhưng người đương đại thường sử dụng câu đầu. Vì sao?

Đó là chưa nói sự chuẩn xác tối đa của nhiều áng văn lịch sử mang tính tuyên ngôn, cần được các thế hệ sau với tư duy hiện đại, với phương pháp luận khoa học, trả lại giá trị đích thực, chính danh, nếu không muốn biến mình thành “người sao chép”, chỉ biết kể lể. Trường hợp bản hùng văn Bình Ngô đại cáo là của Nguyễn Trãi hay Lê Lợi? Hiện còn bỏ ngỏ, có thiên hướng quy cho người trước, nhiều nhất là trong các sách giáo khoa. Bình Ngô đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập thời Lê Thái Tổ với những tuyên cáo hừng hực khí thế của một quốc gia Đại Việt đại thắng, được công bố trước toàn dân năm 1428: Ta đây, núi Lam Sơn dấy nghĩa/ Chốn hoang dã nương mình/ Ngẫm thù lớn, há đội trời chung/ Căm giặc nước, thề không cùng sống... Ta đây là Lê Lợi, mười năm nếm mật, nằm gai, với chí lớn, được nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới, tướng sĩ một lòng làm nên đại thắng, để Đại Việt trở thành văn hiến, nước non bờ cõi đã chia. Tư tưởng chiến lược đó không có ở Nguyễn Trãi, bởi ông tự nhận: Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần. Nguyễn Trãi thời điểm lịch sử đó không thể tự xưng “Ta” trước ba quân và thiên hạ. Tài năng văn chương của Lê Lợi, người đã lập ra vương triều đại chính, đã từng giao cho Nguyễn Trãi làm sách Nam Sơn thực lục, tự viết lời Tựa ký tên Lam Sơn Động Chủ. Trong Hoàng Việt thi tuyển (1788), Bùi Huy Bích cho biết là đã chọn ba bài thơ của Lê Lợi vào thi tuyển của ông. Xem vậy, đủ khẳng định: Kể cả Tài, Đức, Công thì Lê Lợi là tác giả chính của Bình Ngô đại cáo, còn Nguyễn Trãi là thư ký bậc cao của vua Lê Lợi. Còn về sau, Nguyễn Trãi trở thành đại thi hào, danh nhân văn hóa quốc tế lại là chuyện khác. Chính nhờ sự hình thành thế giới quan tiên tiến của ông, đặc biệt là tư tưởng Nhân nghĩa - một giá trị siêu đạo đức, góp phần vào cuộc kháng chiến chống bình ngô, v.v... thì khó có ai băn khoăn.

Nam Quốc sơn hà được coi là áng thơ Thần, tương truyền là của Lý Thường Kiệt. Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt tự chủ, khẳng định nước Nam là của người Nam, quyền thiêng liêng đã ghi trong sách. Bài thơ được cất lên hào sảng từ ngôi đền ở cửa sông Như Nguyệt, được coi là lời sấm của hai vị thần Trương Hống và Trương Hát truyền cho tướng sĩ sức mạnh đánh tan quân Tống năm 1077. Nhưng gần đây, để tái xác định văn bản học, một số nhà khoa học cho rằng, bài thơ đó là của tướng sĩ sáng tác, Lý Thường Kiệt chỉ là người phát ngôn. Điều này không làm hạ thấp vị thế tướng quân họ Lý, mà chỉ là sự nghi vấn khoa học. Thời đại Quang Trung cũng có hiện tượng tương tự. Tất cả các áng văn lịch sử: Hịch, Chiếu, Biểu của vua đều do Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp chấp bút thay vua, sau khi vua đưa ra ý tưởng, nội dung, phương châm chiến lược. Người thừa ủy quyền thường là bậc đại nho toàn tài toàn đức, có tri thức triết học, ngoại giao, cận thần trung thành của nhà vua.

Về hệ thống mỹ học dân tộc cũng cần được tranh luận để tìm ra/ tìm đúng di sản, dù là ít ỏi. Trước đây, vào nhiều thập kỷ, trong sách giáo khoa nhiều nhà viết sách thường vận dụng các phạm trù mỹ học phương Tây: Cái Đẹp, cái Xấu, cái Bi kịch, cái Trác tuyệt, v.v... hoặc của phương Đông: Đạo, Tâm, Chí, Mỹ. Khi cắt nghĩa những phạm trù này, ở hai bán cầu, các nhà khoa học đều có sự biện giải khác biệt, nhưng cũng có chỗ hòa đồng. Khác nhau là do điều kiện địa lý, lịch sử, nền móng kinh tế, bản sắc văn hóa, nhưng cũng có mẫu số chung là tính nhân loại: Chân - Thiện - Mỹ. Người ta thường nói: Mỹ học phương Tây hướng ngoại. Ví dụ: Cái Đẹp xét từ góc độ khách quan của thế giới tự nhiên, của xã hội, con người đều có cái Đẹp và cái không đẹp. Vậy cái gì quyết định ý tưởng ngược nhau đó? Cái trước là tính cân đối, tỷ lệ hài hòa, nhịp điệu tương ứng của kích thước, số lượng, màu sắc, âm thanh, ánh sáng, v.v... còn cái sau là ngược lại. Mỹ học phương Đông thiên hướng nội, gắn với đạo đức học, chính trị học. Ví dụ phạm trù Đạo là trông không thấy, nắm không được, cảm không biết, chỉ thấy qua Đức - bản thể của sự vật. Đạo đức nhập thế thường được ứng dụng vào các thể loại nghệ thuật với quy luật vận động, biến hóa, chuyển dịch thành vật đối lập. Tôi nghĩ, cả hai hệ thống mỹ học đều bổ ích cho ta, vấn đề còn lại là sự lựa chọn thông thái, tránh dẫm chân tại chỗ. Bản tính thượng võ không nên coi là phạm trù cái hùng mà chỉ là một tố chất, một năng lực, v.v...

Phương pháp luận khảo sát khả biến - Cái định thái (synchronique) và cái biến thái (diachronique).

Hơn một nghìn năm Hán hóa, văn hóa nước ta bị kẹt vào cái vỏ bọc phong kiến Trung Hoa, dập khuôn, mô phỏng, chỉ biết theo khuôn mẫu của người, óc sáng tạo của nho sĩ bị hạn chế. Một khối lượng tư liệu, văn bản học của Bắc sử và sử nước Nam, của chính sử và huyền thoại, của văn học bác học và bình dân, v.v... nói lên tính phức tạp, tính đa nghĩa của một nền văn hóa từ Đại Việt cho đến Việt Nam. Thực trạng đó đòi hỏi phải có một công cụ khảo cứu có hệ thống, một phương pháp luận tư duy dựa trên ý niệm duy lý và “dấu chân thực tiễn”, một phương pháp luận đã ảnh hưởng rộng lớn ở châu Âu từ thế kỷ XVII trở đi. Ý niệm duy lý là kiểu tư duy biện chứng, là “bà đỡ” của một nền văn hóa đích thực, có cái định thái và cái biến thái, cái vay mượn và cái sáng tạo, cái tuyệt đối và cái tương đối luận. Dưới đây là những phương pháp cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu quan sát: Phương pháp này đòi hỏi phải khắc phục tư duy trực giác - sản phẩm của một nền nông nghiệp cá thể kéo dài nhiều thế kỷ, muốn làm nhanh, ăn nhanh, tâm lý thu hoạch tức thì (apprehension immédiate), chạy theo cái trực giác, cái hư không, cái chỉ thấy, chỉ gợi, chứ không biết cái hữu hạn, cái thực tại, cái mâu thuẫn của đối tượng khảo sát. Ngay cả Lão Tử trong Đạo đức kinh - một tác phẩm triết học đầu tiên của Trung Quốc, mang tính duy vật sơ khai đã khuyên người sáng tạo: Muốn làm một việc gì cũng phải đi từ điểm đối lập của sự vật ấy. Quan sát còn là quá trình nghiên cứu những gì tiền nhân sáng tạo, những gì vay mượn, coi trọng cái động, chống cái độc tôn, cái tuyệt đối.

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết bổ sung cho phương pháp quan sát, đòi hỏi có cái nhìn chủ toàn (diện) và chủ biệt (điểm). Khi nghiên cứu triết học trong Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống, nhà nghiên cứu cần tiếp cận hệ thống mở: vừa tả, vừa gợi, vừa hiện thực vừa siêu thực; vừa coi trong các phạm trù: vật và tâm, tuyến tính và phi tuyến tính. Ví dụ: Nguyên tắc tứ tương trong bộ múa tuồng truyền thống (nội - ngoại tương quan; thượng - hạ tương phù; tả hữu tương ứng; phì sấu tương chế) cần được nhận biết về mặt lý thuyết tính đa chiều, tính biện chứng, tính biến dịch, chuyển hóa giữa các mặt đối lập, biến cái định thái thành cái biến thái.

Phương pháp nghiên cứu ứng dụng: Ngày nay, nhiều học giả cho rằng, kiến thức thông thái, tri thức uyên thâm không quan trọng bằng cách xử lý kiến thức. Điều này đòi hỏi tính mục đích cao, tính thực tiễn lớn của công trình nghiên cứu. Công bằng mà nói, giới trí thức nước ta không thua kém nhiều nước trong khu vực, nhưng tại sao ta chưa có những công trình lớn về khoa học xã hội, những phát minh nổi bật về khoa học tự nhiên? Một ý niệm mặc cảm vừa tự tôn vừa tự ti kéo dài trong nhiều năm: Cái gì cổ đều cho là của Đại Việt, cái gì mới đều cho là của thế giới. Nghiên cứu con người Việt Nam chỉ muốn dừng lại ở những đức tính tốt, còn những thói xấu thì ngập ngừng, sợ làm mất bản sắc dân tộc, v.v... Việc ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn đời sống còn một khoảng cách. Do tính mục đích của đề tài thiếu minh bạch, do kỹ năng nghề nghiệp yếu kém, tính cộng sự của đồng nghiệp bị lơi lỏng, v.v... dẫn đến thiếu đồng bộ trong hợp tác khoa học. Bàn về cái yếu của người Việt Nam, nữ giáo sư Rath Kattumusi - đồng chủ tịch Trung tâm nghiên cứu châu Á (thuộc London school of Economics), sau khi ghi nhận truyền thống hiếu học của tuổi trẻ Việt Nam, đã nêu hai khuyết tật: “Thiếu kỹ năng ngôn ngữ: Anh, Pháp, Đức và hẫng hụt tư duy ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn để có sản phẩm” (theo BBC ngày 05/11/2011). Số người biết Hán - Nôm, ở độ tuổi trung niên và thanh niên ngày càng rất ít. Không có công cụ và chữ viết, lấy gì để nghiên cứu!? Cần cởi mở để có cái lợi ích khi huy động tri thức liên ngành (in terdicipline) và tri thức xuyên ngành (transdiciphone) vào việc nghiên cứu, tránh tình trạng biệt lập, chuyên môn nào chỉ biết chuyên môn đó, làm cho khoa học bị chia cắt. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, nền văn hóa nước ta không bị đồng hóa, mà còn có cơ hội để tiếp biến văn hóa Hán, chữ Hán (thời Bắc thuộc), văn hóa phương Tây (qua văn hóa Pháp đầu thế kỷ XX và sau đó là văn hóa Nga và các nước Slavơ). Tính đa nguyên văn hóa đòi hỏi một phương pháp luận mở, động, trên cơ sở nhiều hình thái ý thức: triết học, đạo đức học, mỹ học, nghệ thuật học, tôn giáo học, v.v... mà một trong những công cụ khoa học đó là phuơng pháp luận: Duy lý - thực tiễn của R.Descartes (1596 - 1650). Ông là nhà triết học, toán học, vật lý, y học, sinh học uyên bác, nổi tiếng với câu châm ngôn: “Tôi tư duy, vậy là tôi tồn tại” (Cogito, ergosum). Tác phẩm lớn nhất của ông là: Discours de la methode (Bàn về phương pháp luận). Phương pháp luận là cơ sở của việc khám phá chân lý; ông đã đột phá vào thành trì của thế giới quan kinh viện. Tư tưởng của ông là kết quả nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên, giải phẫu học, bào thai học, quy trình vận chuyển máu, sự hô hấp, quy trình tiến hóa, v.v... Tất cả là sự hài hòa tự nhiên. Từ đó, cho đến về sau, khoa học Tây Âu thoát khỏi cảnh tù hãm của bốn bức tường Giáo hội. Cũng từ đó, Bàn về phương pháp luận đã ảnh hưởng đến các nhà triết học, các ngành khoa học xã hội, nhân văn, lịch sử, xã hội học, nghệ thuật học, tôn giáo học, v.v... trong nhiều thế kỷ. Descartes đã kế thừa xuất sắc lời Socrate, coi triết học là khoa học giúp con người biết tra vấn (questionner), biết tư duy khoa học một cách biện chứng, duy lý phải gắn với thực tiễn. Duy lý càng vững chắc thì thực tiễn càng sống động. Từ tính sống động của thực tiễn mà bổ sung cho tư duy có hệ thống và sáng tạo. Sau Descartes, Didrot (1713 - 1784) và các nhà triết học thế kỷ Ánh sáng đã chống lại chủ nghĩa duy tâm chủ quan, nêu lên những luận điểm của phép biện chứng, làm lay chuyển đầu óc mơ màng của phương Đông. Còn từ đó cho đến nay, phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx đã làm gia tăng và bồi đắp cho phương pháp duy lý - thực tiễn có sức sống và sức thuyết phục, đủ khả năng giải thích những quy luật khách quan của phát triển, coi con người là trung tâm của mọi đối tượng khoa học xã hội, khoa học tự nhiên.

Lịch sử phát triển văn hóa cho ta biết rằng, trong tiến trình từ văn minh cổ đại cho đến đương đại, sự đụng chạm giữa các nền văn minh, sự tiếp biến giữa các nền văn hóa là quy luật của định thái và biến thái. Từ văn hóa truyền thống mà tiên liệu viễn cảnh phát triển của văn hóa. Sự lựa chọn cho phát triển chưa bao giờ là độc tôn, độc quyền của một hệ hình tư tưởng, của một phương pháp luận. Sự lựa chọn phương pháp để nghiên cứu có hiệu quả, để xây dựng một hệ thống lý luận của văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thì phương pháp duy lý - thực tiễn là có lợi, có triển vọng và tiềm năng.

                                                                                                                                                                          H.S.V


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.