NỘI DUNG CHI TIẾT
CHỊ TRẦM
5/20/2015


                               Truyện ngắn dự thi của NGUYỄN THỊ LÂM

Tháng ba. Đã tiết xuân. Mưa mềm và mỏng. Trời lạnh nhưng cao và đỡ ảm đạm hơn ở giữa những ngày đông chí. Nụ hoa gạo nhu nhú báo hiệu cái rét buốt chuẩn bị qua đi. Và đó cũng là quãng thời gian, những người buôn bán như tôi thường xuyên đi lễ. Chẳng biết thế nào, nhưng người ta vẫn thường bảo. Có thờ có thiêng. Thiêng đâu chưa biết, nhưng thấy trong tâm mình thanh thản là sướng rồi.

Sau khi dạo chơi và thắp những nén hương, thành tâm bái Tổ ở Đền Hùng. Tôi hỏi anh lái xe, rằng ở chốn này có đặc sản gì không. Anh bảo có, trên đường về anh chỉ cho.

Chiếc xe quanh co trên con đường men theo các thẻo đồi đất đỏ trung du êm ả. Nếu là nhà thơ có lẽ tôi sẽ làm được vài bài, chứ đằng này tôi chỉ cảm nhận được mà không biết nói như thế nào. Chỉ thấy có cái gì đó lâng lâng, như câu hát Xoan thoảng bay trong hương trầm ngan ngát, thấy ấm lòng người khi trở về với đất tổ tiên mình.

Xe dừng ở quán nhỏ ven đường. Trước khi xuống, anh lái xe bảo, nghề lái đưa anh đi nhiều nơi, ăn nhiều loại đặc sản, nhưng có lẽ anh nhớ nhất là món tương ở làng này. Anh còn biết rõ, ở vùng này nhiều làng cũng làm tương, nhưng tương Dục Mỹ thì chẳng lẫn vào đâu được. Vẫn là gạo nếp thơm và đỗ tương, nhưng cái bí quyết riêng dưới bàn tay khéo léo, tỉ mỉ mà đời nối đời con người ở đây truyền lại cho nhau. Tương lúc nào cũng vàng sánh như mật ong, vị đậm, ngọt và hương thơm của nó, chỉ ăn một lần cũng đủ làm người ta chẳng bao giờ quên được. Tôi bảo. Anh như một ẩm thực gia ấy. Anh cười mà bảo. Cứ thử rồi biết.

Xuống xe. Đứa trẻ lăng xăng gọi.

- Bà ơi! Bà ơi bà! Ra bán tương.

Người đàn bà dáng to đậm, bước đi chậm chạp, đội chiếc nón từ căn nhà nhỏ rìa làng bước ra. Tôi sững người lại khi người đàn bà bỏ chiếc nón ra.

- Chị Trầm.

Phải mất mươi giây, chẳng biết chị ngạc nhiên xúc động, hay lục lại trí nhớ, mà ngần ấy giây chị mới nhận ra tôi.

- Ơ! Hường. Sao em…

Tôi và chị ôm chầm lấy nhau. Những thổn thức sau hơn mười năm chung sống tha phương nơi đất khách và cũng ngần ấy thời gian để gặp lại làm cả hai chúng tôi oà khóc.

- Sao đến nỗi này hả chị Trầm?

Chị khóc nấc lên. Đứa cháu gái thấy bà khóc cũng ôm lấy chân bà, nức nở. Nước mắt chị thấm đẫm áo tôi. Những ẩn ức, đau buồn bao năm chị nén lại như để chờ đến ngày hôm nay tuôn chảy lạnh đến tê lòng.

Tôi gặp chị ở mùa đông xứ người. Mùa đông Tiệp Khắc thì dài, lạnh và luôn có tuyết rơi. Gió rin rít mang cái lạnh châm thấm vào tới xương, tê cứng.

Năm ấy tôi mười tám tuổi, còn chị thì hai mươi. Tôi ra đi vì muốn kiếm lưng vốn khi biết mình chẳng thể học hành gì được cả. Còn chị. Ngoài lưng vốn, thì đó còn là một cuộc chốn chạy. Chị chạy trốn khỏi cuộc tình không bến đỗ. Người yêu. Cái thằng khốn nạn sau khi nghiền nát thân xác thanh xuân mây mẩy của chị đã không dám thừa nhận đứa con, kết quả sau những lần ái ân vụng trộm. Ê chề, nhục nhã. Ở cái làng của chị, gái chửa hoang thì xấu xa vô cùng. Hơn nữa chị lại là con gái ông trưởng họ. Cái họ lớn nhất trong làng, trong vùng ấy nên cái tin ấy càng lan nhanh hơn. Nhưng lúc yêu chị đâu có biết người chị yêu lại là một gã sở khanh có hạng. Nhiều lần chị muốn tìm đến cái chết. Nhưng tiếng khóc của Thương, con gái chị đã kéo chị lại. Rồi đúng đợt ấy, nhà máy nơi chị làm có đợt đi xuất khẩu lao động. Thương chị, người ta cho chị đi.

Chị dứt đôi môi nhỏ xíu đang khát sữa trên bầu vú, không dám nhìn vào đôi mắt ngơ ngác và bịt tai lấp bớt tiếng khóc the thé như moi từng khúc ruột của con, chạy khỏi làng.

Điều này thì tôi biết, khi còn ở bên ấy. Và khi còn ở bên ấy, chị thường dậy từ rất sớm, kể cả mùa đông tuyết phủ đầy đường. Ngoài giờ làm ở nhà máy, chị còn nhận làm thêm nhiều việc. Từ khuôn vác thuê cho xe chuyến đến việc dọn dẹp nhà cửa, thậm chí tắm rửa cho vật nuôi… chị làm tất. Ngoài đồng tiền, chị bảo. Chỉ có thế thì tiếng khóc của con chị, những ánh nhìn của người dân làng chị sẽ nhẹ và đến thưa hơn trong lòng chị.

Một hôm chị dẫn người đàn ông về phòng. Chị bảo, người ấy thường giúp chị kiếm thêm việc làm ở ngoài. Nhìn người đàn ông mập, lùn và đôi mắt nhỏ như mắt lươn, cứ hấp ha hấp háy xoáy vào mông chị. Tôi bảo chị cẩn thận. Chị chẳng nói gì mà chỉ khóc.

Rồi mấy năm sau. Ngoài số tiền gửi về cho ông bà nuôi con. Chị cũng kiếm được chút đỉnh. Chị bảo.

- Có lẽ chị trốn ra ngoài làm thôi Hường ạ!

Tôi bảo.

- Thân cô, thế cô, ra ngoài biết thế chó nào được. Lỡ bị bắt thì làm thế nào?.

Chị thở dài thườn thượt.

- Anh Hiền hứa sẽ giúp chị. Anh chị sẽ mở cửa hàng làm chung, chứ lương ba cọc ba đồng thế này biết đến bao giờ. Chị nhớ con lắm.

Tôi gắt gỏng.

- Chị biết người ta thế nào? Lòng người khó đoán. Cái hạng mập, lùn, mắt lươn ấy em thấy khó tin lắm.

- Nhưng chị tin Hường ạ! Cùng cảnh tha phương cầu thực cả, ai nỡ. Sông có khúc, người có lúc. Chị bị lừa một lần quá đủ rồi. Chị đã quyết. Chị muốn nhanh trở về. Chị nhớ con lắm.

Sau đêm ấy. Chị bỏ ra ngoài và cũng chuyển hẳn  nơi ở khác. Đó cũng là một mùa đông dài và lạnh nhất ở Habana. Thành phố nơi tôi và chị đã sống cùng nhau.

Hai năm sau. 

Bấy giờ Habana đang ở giữa thu. Mùa thu ở xứ này trời cao và nhẹ. Công việc cứ cuốn tôi. Vả lại, với những người như chúng tôi, thì nghỉ ngơi đi chơi là một việc làm xa xỉ nhất. Nhiều khi muốn trốn đi khỏi cái ngột ngạt của thành phố để rong chơi. Để đến với ngoại ô với những cánh rừng thông, rừng Bạch Dương vi vu gió mà hít thở không khí trong lành cũng không dám.

Chủ nhật. Buồn, mệt nhọc cộng với những bực dọc và sự ghen tuông vô cớ, hết sức trẻ con với người yêu ở quê nhà. Tôi quyết định ra ngoài dạo chơi.

Chiếc xe trườn ra khỏi thành phố tới ngoại ô. Tôi thích ngắm những con đường ngoại ô nên cho xe chạy trầm chậm quanh co trên con đường hun hút rừng thông xanh ngăn ngắt, rừng Bạch Dương vàng rực xứ Hôchivát. Những đôi chim bồ câu tung tăng chạy trên đường rồi lại rủ nhau vút lên khoảng không xanh thẳm làm lòng tôi nao nao. Tôi mở kính xe cho không khí lùa vào khoang lái. Tiếng vi vu làm tôi thích thú. Tôi nhớ đến con đường bụi đỏ quê mình, nhớ cánh cò chấp chới ngược gió bay trên cánh đồng lúa non. Nhớ tiếng sáo đu đu của những cánh diều chao nghiêng trên khoảng không. Nhớ gia đình. Nhớ anh chàng hay ghen, hay giận nhưng đáng yêu ấy. Cuối cùng nỗi nhớ rơi vào những ngày đông dài đằng đẵng cùng chị.

Mỗi lần nhớ đến chị là tôi lại thích nghe bài hát ấy. “Tình riêng bỏ chợ - tình người đa đoan”, sao mà giống chị quá. Miên man trong suy nghĩ, xe tới Tờrúpnốp lúc nào cũng không hay. Đúng là Tây có khác. Đường làng mà còn to và rộng hơn đường phố của nước mình. Trên cánh đồng, chẳng thấy bóng dáng người nông dân nào. Trên những cánh đồng lúa mỳ lượn sóng, chỉ có thấp thoáng những chiếc máy nhả khói xanh xám, chúng đang lầm lũi làm thay công việc của con người.

Xe tôi phải dừng lại vì phía trước có rất nhiều người tụ tập. Không bận bịu, cộng với trí tò mò. Tôi xuống xe bước về phía có nhiều người đang nhớn nhác tụ tập. Ở vòng ngoài tôi chỉ loáng thoáng là có ai đó bị tai nạn. Tiếng Tiệp tôi không thạo lắm, nhưng khi nghe đến hai tiếng Việt Nam, tôi vội len vào. Người đàn bà lưng hướng về phía tôi đang được những người dân giúp đỡ. Trí tò mò tăng cao hơn nữa. Tôi tiến thẳng lại hướng đối diện.

- Chị Trầm. Trời ơi! Sao đến nông nỗi này chị ơi?

Chị nằm trong phòng cấp cứu. Hướng lên trần nhà. Khuôn mặt gầy xọp, xạm đen. Đôi mắt thâm sâu hoăm hoắm. Mái tóc dài và dày ngày nào giờ lưa thưa, cạu rối. Từ lúc vào viện, trên đôi má ấy chưa khi nào khô dòng nước mắt. Người ta bảo tim chị có vấn đề, cộng với bệnh cao huyết áp và suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể khá trầm trọng. Chị phải nằm viện điều trị.

- Nhục lắm em ơi! Chị chết mất.

- Nghỉ đi chị. Từ từ rồi ta tính tiếp.

Thì ra, cái gã mập lùn, mắt lươn ấy, sau khi thoả mãn, hả hê thân xác chị ngần ấy thời gian. Hắn cuỗm tất cả số tiền hai người tích cóp, bán cả cửa hàng rồi chuồn mất. Thế là trắng tay. Thương nhớ con, chị cố gượng dậy làm tất cả những gì có thể để mong có đủ tiền trở về. Nhưng những cơn đau liên tục hành hạ chị. Hôm nay và đã rất nhiều lần chị đã từng bị đau như thế này rồi. Càng thế, chị lại càng cố. Càng cố, càng thấy đường về hun hút, mù sương.

Thương chị, nên sau khi chị bình phục, tôi cho chị vay chút vốn. Tôi bảo.

- Ở đời, chẳng biết thế nào mà lần. Giẻ rút còn chẳng tin cạp quần nữa là. Chị phải cẩn thận đấy.

Chị ôm tôi oà khóc.

Từ thành phố Habana đến Tờrúpnốp cũng khá xa. Đã lâu lắm tôi chưa gặp chị. Chỉ nghe dạo này chị làm cũng được. Số tiền chị gửi trả lại cho tôi hôm lên thăm tôi khiến tôi tin. Rồi cũng chính trong thời gian đó. Bố người yêu của tôi bị bệnh nặng, có thể sẽ không qua nổi. Gia đình nhà anh muốn cưới. Thế là tôi về nước. Về hẳn. Rồi cuộc sống gia đình cuốn tôi. Thi thoảng nhớ chị nhưng thú thật tôi chẳng có cách nào liên lạc được với chị và chị cũng thế. Nói ra chuyện này thì chẳng ai tin. Ai mà tin được khi ngần ấy thời gian chung sống và gắn bó như thế, chưa một  lần chúng tôi hỏi về địa chỉ quê quán của nhau. Và trong danh bạ điện thoại của tôi chưa từng có tên chị bởi chị có bao giờ dùng điện thoại di động đâu. Để đến bây giờ…

Tôi quyết định ở lại với chị một đêm.

Đêm ấy mưa nặng hạt và gió. Gió thun thút thốc vào ngôi nhà làm những tấm bờ lô rung lên bần bật.

Căn nhà chưa đến hai chục mét vuông, nền đất, tài sản quý giá nhất có lẽ là chiếc Tivi Samsung cũ kĩ. Tôi chưa hỏi thì chị đã khóc rồi.

Thì ra, sau đận ấy. Khi kiếm được chút vốn kha khá. Chị chuyển lên Habana thuê được góc nhỏ ở chợ người Việt bán hàng tạp hoá cũng kiếm được.

Thương con, thương gia đình nên làm được bao nhiêu chị gửi về hết. Nhưng… giá chị nghe em. Đằng này chị cứ nghĩ, người ngoài người ta lừa mình, chứ máu mủ ruột già, ai nỡ. Tội lắm em ơi!

Bố mẹ chị già không biết đã đành. Nhưng đến thằng anh cả bà chị dâu khốn nạn của chị cũng lừa chị thì chị còn biết tin ai?

Biết bệnh của mình ngày một nặng thêm, nên bao nhiêu vốn liếng, tiền của chị gom hết để mua đất làm nhà. Thằng anh khốn nạn của chị bảo. Gần hai chục năm trời tha phương chẳng kiếm được nhiều thì cũng cố làm lấy ngôi nhà để hai mẹ con có chỗ chui ra chui vào cho nó đàng hoàng. Hắn và bà chị dâu hăm hở giúp chị việc ấy. Nhưng ngờ đâu.

Căn nhà ba tầng khang trang được xây nên bằng máu và nước mắt của chị, giờ không còn là của chị nữa.

- Thế chị chịu mất không như thế à?.

 - Làm gì được hả em. Sau khi xây xong, đất cát nhà cửa đều đứng tên bà chị dâu cả. Khi gửi tiền về chị đâu có thông báo đến pháp luật. Còn giờ đây họ cứ theo luật mà làm. Thế là còn những đồng tiền cuối cùng. Chị đưa con ra đây, mua mảnh vườn nhỏ này.

- Khốn nạn đến thế là cùng. Thế bố mẹ chị và dân làng chị họ cũng để yên như thế à?

Tôi gắt lên mà vô tình không để ý đến đứa trẻ. Nó khóc toáng lên, gọi mẹ. Nhìn nó tôi cũng oà khóc theo khi nghĩ đến con chị trong những tháng ngày không có chị. Ôm nó vào lòng, chị thút thít.

- Tiền nó khổ thế đấy em ạ. Họ sợ lỡ mai này chị... rồi bố cháu nữa, nên nổi lòng tham. Còn dân làng? Chị còn mặt mũi nào mà kêu đây? Cũng may trời thương mình em ạ. Tuy thế nhưng con Thương nó ngoan ngoãn, hiền lành. Rồi cũng có người thương nó và lấy nó làm vợ. Chồng nó làm trong quân đội, còn nó giờ cũng làm cho một công ty tư nhân dưới đó. Thi thoảng nó cho cháu về chơi với chị cho đỡ buồn. Nó còn bảo, khi nào chúng nó có nhà cửa đất cát ổn định, chúng sẽ đón chị xuống Hà Nội ở cho có mẹ, có con.

 - Thế chị?...

- Thôi em ạ! Đã lâu chị không còn nghĩ đến chuyện đó nữa rồi. Có lẽ kiếp trước chị ăn ở chẳng ra gì, nên kiếp này trời phạt mà đày chị. Chị muốn yên bình. Em có tin rằng, sẽ có kiếp sau không? Còn chị. Chị tin là có. Nó đẹp lắm. Thi thoảng chị vẫn mơ thấy nó đấy.

 Tôi ôm chặt lấy bờ vai đang rung lên bần bật của chị. Tôi chẳng biết kiếp sau của con người sẽ là cái gì? Chị sẽ như thế nào? Nhưng chị Trầm ơi! Chị bảo sông có khúc, người có lúc. Còn chị đã có khúc nào, có lúc nào chưa?

Nhắm mắt lại. Tôi chỉ thấy tuyết trải trắng trời ở Habana, những cánh rừng Bạch Dương mùa thu trải vàng lá ở xứ  Hôchivát, những cánh diều chao đảo, những cánh cò ngược gió bay chấp chới trên cánh đồng lúa non và cái lạnh tê lòng đặc sánh như nước tương làng chị.

Đến bao giờ trời nín gió, chị Trầm ơi?

                                                                                                                                          N.T.L

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.