NỘI DUNG CHI TIẾT
DƯỚI CHÂN NÚI CŨ
5/20/2015

   Truyện ngắn của Hoàng Hữu

LTS: Thi sĩ - họa sĩ Hoàng Hữu (1945 - 1981) để lại tác phẩm Hai nửa vầng trăng bất hủ (giải Nhì cuộc thi Thơ 1981 - 1982 của Tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam) cùng những điều để sau này, một số cây bút thân - sơ với ông lấy cớ viết ra khá nhiều giai thoại nửa hư nửa thực.

Nhưng ít ai ngờ nhà thơ - họa sĩ còn để lại thiên truyện ngắn duy nhất, buồn và đẹp, hệt như nửa trăng hao khuyết và mờ tỏ, hệt như chính cuộc đời ông. Họa sĩ Hoàng Hữu tên đầy đủ là Hoàng Hữu Dũng. Ông công tác ở Hội VHNT Vĩnh Phú (nay là Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ). Ông mất vì bệnh tim, phần mộ ông được xây cất tại nghĩa trang thành phố Việt Trì.

Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ trân trọng giới thiệu thiên truyện ngắn hiếm hoi đó cùng bạn đọc.

       Lần này ra Bắc, tôi cho cả con gái đi cùng. Đó là đứa con gái duy nhất của tôi, cháu đã lên sáu tuổi.

Chuyến nghỉ phép trước, tôi không thể mang cháu đi, đành gửi nội cháu trông nom giúp. Giờ thì Mai Chi đã lớn. Tôi hi vọng chuyến về quê này, bà ngoại sẽ bù đắp được cho nó phần nào nỗi mất mát lớn lao, mà ở tuổi lên 6, trẻ thơ chưa thể nào biết hết.

Phần nữa, may chăng khi ra Bắc, tôi tìm lại được anh, người họa sỹ, từ ngày gặp, chẳng lúc nào tôi nguôi quên. Không hiểu vì sao tôi mãi tin: anh chẳng bao giờ quên tôi! Như ngày nào mỗi lần gặp, mắt anh thường nheo cười “này Hà, có khi nào em không thấy núi Mỏ Quạ đẹp không? Riêng anh, dãy Mỏ Quạ lúc nào cũng mờ sương, thật thú vị.”

Không trả lời anh, tôi ngước nhìn bức tranh phong cảnh “Nhà đồi”, anh vẽ ở quê tôi. Tôi hiểu anh định nói gì. Nhưng cho đến giờ tôi mới thấm thía điều anh nói cùng tôi trong căn phòng nhỏ bảy năm về trước…

Mai Chi đã sang tuổi thứ sáu. Với gương mặt nhỏ, đường sống mũi thanh tú gập xuống nhẹ nhàng gặp nét môi khẽ mím, trông cháu thật đoan trang. Thoảng mới thấy mắt nó cười. Đôi mắt tựa hai giọt nước hồ thu xanh, thẫm đậm tận đáy, ánh lên mỗi khi gặp gió.

Ai cũng bảo hai mẹ con tôi giống nhau như hai giọt nước, mỗi lần nghĩ đến lời bàn ấy, tôi không khỏi ngậm ngùi. Chả lẽ đứa con gái - cái gạch nối của chúng tôi - lại không hề mang dáng nét gì của người bố trên gương mặt, trong cử chỉ, tính cách nó hay sao?

Bất giác tôi cảm thấy thương cảm anh, người chồng tôi sớm gặp nhưng cũng sớm chia tay.

Học xong chương trình ba năm, tôi ra trường với tấm bằng trung học thư viện. Nhờ có người quen thu xếp giùm, tôi nhận quyết định về công tác ở một thư viện tỉnh phía Nam. Xa xôi, phải nhưng với tôi, tuổi trẻ, thì những miền đất lạ trong trí tưởng, trong những trang sách có sức hấp dẫn lạ lùng.

Quả thật nắng gió phương Nam, hoa trái cây vườn, kênh rạch và lối sống phóng túng của người Nam Bộ đã không làm tôi thất vọng.

Ngôi nhà dành riêng cho Thư viện tỉnh nép dưới vườn dừa trông ra dòng kênh đầy gió. Ngày làm việc đầu tiên trong đời tôi thật khó quên. Khi mở cửa phòng đọc, tôi mất đà, tay víu vào cánh cửa lạng ra thềm. Trước mặt tôi, một người trai tầm thước, mái tóc đậm in trên nền trời mùa hạ ngút xanh. Tôi sững sờ giây lát trước người lạ.

Cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi không thể cắt nghĩa được cảm giác về màu xanh lạ lùng của bầu trời thuở ấy.

- Chào chị!

- Vâng xin lỗi, mời anh vào.

- Có lẽ chị mới nhận công tác? Xin tự giới thiệu: Tôi là Chánh, bạn đọc quen thuộc của thư viện - anh lướt nhìn tôi, tay phác một cử chỉ - Nay muốn mượn chị ít cuốn sách.

Tôi nhìn anh thay cho lời đáp. Một người đàn ông, gương mặt hơi đanh, da ngăm ngăm màu nắng gió bưng biền. Tôi mẫn cảm nhận ra cách ngắt câu rành rọt trong ngữ điệu cùng cử chỉ kia, sự đàng hoàng của một người có bản lĩnh. Lần ấy anh mượn tôi cuốn “Mạch tích hợp và ứng dụng”.

Sau đó anh đến thư viện đổi sách luôn, lâu dần nên quen.

Thế rồi những lúc còn lại một mình, tôi hay nghĩ đến khoảng trời trưa bưng biền ngút xanh với mái tóc rậm. Mỗi khi nghĩ đến thật dễ chịu. Đến nỗi, lâu lâu anh không đến thư viện, tôi thấy nhớ. Tôi không lý giải được trạng thái tình cảm ấy. Chỉ biết, những ngày mưa, nhìn nền trời sũng nước, tôi thấy mình trống trải và hình như vắng thiếu một cái gì trong tâm hồn.

Không hiểu bao đôi lứa họ yêu nhau như thế nào, riêng tôi, tôi đã thầm yêu anh bắt đầu từ những khoảng khắc bất chợt, lạ lùng ấy.

Ít lâu sau chúng tôi yêu nhau thực sự và báo cáo cơ quan tổ chức lễ cưới. Xa xôi quá, thầy mẹ và các anh chị tôi không vào được, chỉ gửi điện mừng.

Hôm cưới, tôi không đòi anh trang hoàng gì ngoài chiếc phông xa-tanh màu da trời, treo ngang tường. Bạn bè anh, ai cũng mừng cho chúng tôi. Tôi mới vào, ít bạn. Nói thế, nhưng các bạn gái trong cơ quan, ai cũng thầm mừng cho tôi may mắn gặp được người chồng xứng đáng.

Chúng tôi ở tại căn phòng xép cạnh thư viện. Phải nói rằng, hồi đầu chúng tôi sống bên nhau thật êm ả.

Chồng tôi là kỹ sư vô tuyến, có nghề nghiệp vững vàng. Sau này, có dịp tìm hiểu kỹ tôi mới biết gia đình anh di cư vào Nam trước Hiệp định Giơ-ne-vơ. Thỉnh thoảng anh nhắc về quê cũ Sơn Tây. Có một lần nghe anh kể chuyện làng, tôi lây niềm vinh dự, mình cũng là người con của vùng đất từng in dấu thơm trong sách cổ. Không khỏi cao hứng, tôi ngân lên khe khẽ: “Nước biếc sông Đà, con cá nhảy/ Mây trùm non Tản cánh diều bay”… Nhưng kìa, anh chẳng hề có phản xạ gì trước sự xúc động của tôi. Gương mặt anh như tạc bằng đá, kín bưng.

Tôi thầm nhủ, những người làm khoa học thường ít có thì giờ quan tâm tới văn học. Suốt ngày, chồng tôi vùi đầu vào các bản sơ đồ chằng chịt mạch điện. Được ngày nghỉ hay chủ nhật, anh khuân về đủ thứ: máy nghe băng, đài điện, vô tuyến. Tôi  biết, anh lo chữa chạy cái đống máy móc này để gia đình có thêm một khoản tiền trang trải. Nhất là, sang xuân, tôi sinh cháu đầu lòng. Tôi tự an ủi để quen với cách sống của anh. Chẳng qua, cũng bởi thương vợ và quá lo lắng cho cuộc sống sắp tới nên anh chẳng có thì giờ để quan tâm tới việc vặt trong nhà.

Tôi rất muốn cùng anh đi xem phim vào tối thứ bảy, mỗi khi có phim hay. Nhưng hễ nhìn thấy anh vừa buông bát đũa đã cầm tuốc-nơ-vít chọc chọc vào máy, tôi đành thôi.

Tôi sinh cháu. Mọi sự đều vuông tròn. Hôm đón mẹ con tôi từ bệnh viện về, anh có vẻ không vui. Mãi sau này tôi mới hiểu: giá Mai Chi là một cậu con trai và giống anh thì hơn! Còn tên con, tôi tự đặt, có lẽ chẳng bao giờ anh hiểu…

Cuộc sống cứ thế trôi qua. Giữa tôi và anh đã ngầm có một khoảng cách. Cả hai không ai nói với nhau, nhưng đều mơ hồ cảm thấy điều ấy tuy vô hình nhưng có thực.

Nếu như chỉ có thế, tôi sẵn lòng chấp nhận tất cả để bù lấp vào đó bằng tình thương lặng lẽ vốn có của người vợ. Tôi tự an ủi mình rằng, người yêu lý tưởng và cuộc sống thực của một gia đình là hai vấn đề khác nhau, dễ mấy ai đã hòa nhập và may mắn đạt được.

Đôi lần, anh đèo sau xe máy về nhà, khi dăm thanh gỗ li-tô, khi thì vài chục thước dây điện đã cũ. Lại khi, gần hết chương trình “tiếng thơ” anh lôi về một cánh cửa rộng đã long sơn nhưng còn tốt.

Lần ấy, từ bếp ùa lên, tôi thấy anh vừa lôi trong ca-táp ra một bọc giấy báo nhỏ. Ở chỗ báo rách, tôi nhìn thấy mươi chiếc bóng bán dẫn màu xanh mới nguyên. Anh giật mình, nhưng nhìn thấy tôi, anh yên tâm ngay.

- Mình ạ, có gì đâu. Vài thứ phụ tùng để thay thế cho khách hàng đấy mà.

Tôi lẳng lặng nhìn vào mắt anh, nhưng anh đã nhìn đi chỗ khác. Từ hôm ấy, ở bên anh, tôi chẳng còn thấy mái tóc xõa trên vầng trán sáng nữa. Hình như trên vầng trán anh cứ chập chờn một khoảng mờ tối, rồi đột nhiên tan đi sau phút giật mình. Cái khoảng mờ tối cứ ám ảnh, bám chặt vào ý nghĩ thường nhật của tôi.

Có thật thế không? Câu hỏi tựa mũi khoan xoáy vào óc tôi. Chẳng lẽ, anh - người mà lần đầu với sự nhạy cảm của phụ nữ, tôi nhận ra tư cách đàng hoàng, thoáng đạt - lại thế ư? Không, có thể anh đã biết nén mình, chỉ vì tôi và con mà phải cắm cúi, xoay xở để giữ lấy sự êm đềm của tổ ấm. Chao! Chẳng lẽ chồng tôi lại có thể dễ dàng đổi cả tư chất tốt đẹp nhất của tâm hồn để lấy lại vài thứ vặt vãnh mau hỏng sao? Thêm một cánh cửa này, gia đình tôi ấm êm thêm, nhưng biết đâu căn phòng bị khuyết cửa kia đã chẳng lạnh gió mưa sau đêm bão?

Tôi bị ám ảnh bởi ngôi nhà khuyết cửa cứ sâu hoáy một khoảng tối, xiêu vẹo, trong tiếng rít của gió. Từ khoảng tối đen ngòm, run rẩy ánh nhìn hốt hoảng của lũ trẻ và người mẹ. Ngôi nhà đổ ụp xuống rồi lại đứng dậy, lại ụp xuống. Có người nào đó thoắt tới giữ ngôi nhà đứng yên. Không phải. Người ấy gỡ cánh cửa ra khỏi nhà! Tôi nhắm mắt lại. Không, người ấy không phải là anh, không phải anh Chánh! Cổ tôi nghẹn đắng, dường như có một cục gì nằng nặng chèn lấp. Tôi không nghĩ được nữa, nước mắt ứa ra…

Tôi nấc lên mỗi lúc một to, khiến anh phải bỏ dở đống máy, bước vào buồng, ngỡ ngàng. Sau rốt, anh đặt tay lên vai tôi:

- Em có điều gì phiền muộn?

- Không! - Tôi gạt tay anh tuột khỏi vai tôi ướt nước mắt. - Em may mắn, em nhàn nhã vì có anh ở trong nhà!...

Tôi nấc lên vì cay đắng. Vị ngọt của hạnh phúc là thế ư? Điều mà tôi mơ mộng suốt một thời học sinh tươi trẻ đã đến với tôi thế này đây! Bao trang sách, bao dặm đất cùng những tâm hồn cao cả, tôi nuôi dưỡng trong tâm tưởng, tôi kiếm tìm và bây giờ tôi gặp…!

Sau lần ấy, chúng tôi sống với nhau thêm một thời gian nữa. Cả hai chúng tôi cùng lặng lẽ, chỉ nói với nhau những lúc thật cần thiết. Tôi dồn hết tình cảm cho Mai Chi.

Anh vẫn thế, vẫn yêu mê mải những linh kiện, sơ đồ. Có điều anh xử sự với tôi thận trọng hơn. Còn tôi, tôi nhận thấy trên gương mặt đanh kín của anh sự cứng rắn và giận dỗi ngấm ngầm.

Nhưng rồi, cái gì đến ắt phải đến. Làm sao khác được, vợ chồng tôi không thể sống trong không khí căng thẳng và gượng gạo này mãi. Tôi thành tâm nói với anh:

- Anh Chánh! Thật căng thẳng, nếu chúng ta cứ kéo dài cảnh sống này. Sẽ chẳng có lợi gì cho mỗi người và Mai Chi. Em biết rằng sự cố gắng của mỗi người cũng không thể làm cho chúng ta xích lại gần nhau được nữa. Bởi lẽ, anh và em chẳng cùng hướng về một phía.

Nói xong, người tôi run lên, ớn lạnh. Tôi phải vịn tay vào cánh cửa cho khỏi khuỵu xuống. Im lặng. Mãi sau tôi mới đủ can đảm nhìn anh.

Anh ngồi yên bất động rồi nặng nề đứng dậy:

- Thôi, tùy em!

Không dễ dàng gì, cuối cùng chúng tôi cũng thỏa thuận được với nhau rằng, Mai Chi sẽ ở với mẹ. Tôi và anh trao nhau một tờ giấy nhỏ (thay cho giấy ly hôn) cam kết về sự chia tay đáng tiếc này.

Tôi vẫn ở lại thư viện. Hôm anh đi, tôi bồng con đứng ở thềm nhìn theo.

Mới sáng, trời đã xanh ong óng. Vâng, trời lại xanh như trưa nào, mái tóc anh in đẫm trên nền mây nhòe trong nước mắt, thoáng vỡ ra một khoảng mờ tối, chập chờn.

Ra Hà Nội, tôi ở lại nhà chị gái tôi ít ngày cho lại sức, sau đó, hai mẹ con mới thu xếp về thăm bà.

Tôi tìm cách hỏi tin anh Chi qua một vài người quen. Thật khó. Anh làm việc ở một tỉnh nhỏ, thảng hoặc mới về Hà Nội, nên ít người biết. Chỉ còn một người có thể hỏi được tin anh, nhưng tôi lần lữa chưa đến.

Hồi mới quen, có lần tiện đường, anh Chi rủ tôi đến chơi nhà người thân, người mà anh thường nhắc tới với lòng trìu mến và kính trọng. Tôi đã không chiều ý anh. Tôi ngại, vì biết anh Vũ Thư, một nhà thơ trẻ đã nổi tiếng, tôi biết ăn nói ra sao khi gặp người ta lần đầu. Phần nữa, chính là sự tránh né bản năng vốn có của bất kỳ người con gái nào trước những người đàn ông có “ý định” với mình mà mình không để tâm đến.

Giờ thì tôi đang ngồi đối diện anh Vũ Thư. Bao nhiêu sự lúng túng, tôi dồn cả vào đứa con nhỏ để được bình tĩnh trước anh. Khó khăn lắm, tôi mới tự giới thiệu được về mình. Ngỡ như, đấy là giọng của người lạ được phát qua băng cassette.

- Thưa anh! Em muốn được biết tin anh Chi, em biết chỉ có anh mới thông cảm và có thể giúp được chăng?

Tôi mạnh dạn nhìn thẳng vào anh và cảm thấy nhẹ nhõm như vừa đặt được gánh nặng xuống chặng nghỉ đường dài.

- Vâng, khi cô đến, tôi thoáng nghĩ, đây là người mà Chi thường nhắc tới - anh Thư nhìn tôi cởi mở kể tiếp. - Tôi coi Chi như em ruột. Đó là một chàng trai đôn hậu, tinh tế và rất có bản lĩnh. Thuộc loại người ít nói, nhưng cậu ấy dễ cởi mở với những ai đã tin cậy. Thỉnh thoảng Chi về Hà Nội làm việc với các nhà xuất bản, anh em chúng tôi lại gặp nhau. Có một dạo, Chi buồn nhiều. Nhìn gương mặt vốn dĩ tư lự của cậu ấy, tôi đọc được nỗi buồn thảng thốt tựa khói mỏng chờn vờn trên mái rạ sau mưa. Tôi không hỏi, nhưng thừa biết, tuổi trẻ thường có những mối tình như thế. Yêu một mình, đau khổ một mình rồi chờ đợi vô căn cứ.

Cậu ấy đợi mãi thư của cô. Nhưng cuộc đời đâu suôn sẻ thế. Khi con người đến tuổi trưởng thành, có biết bao mối tình ràng buộc, biết bao công việc vây quanh mình, mà với khả năng có hạn, người ta chỉ đủ sức để giải quyết được những việc thật cần thiết cho bản thân mình.

Hai năm sau, Chi cưới một cô giáo dạy ngoại ngữ ở trường huyện. Gần ngày cưới, Chi băn khoăn lắm, muốn gửi thư cho cô mà không được vì không có địa chỉ. Bây giờ cô chú ấy đã có con, cháu gái vừa ba tuổi. Mới đây thôi, thư gửi cho tôi từ Đồng Văn, đề ngày bốn tháng tám, cậu ta kể chuyện đi vẽ “chốt”. Cuối tháng chín này Chi mới về, chắc gì cô đã gặp được Chi?

Vâng, tôi chẳng đủ thời gian để gặp anh. Khi anh về tôi đã phải có mặt ở An Giang để làm việc. Mẹ con tôi xin phép anh Vũ Thư ra về. Anh Thư bế Mai Chi ra cửa, vuốt tóc cháu rồi đặt vào tay nó một quả cam, lặng lẽ gật đầu chào mẹ con tôi.

Thế là hết. Tôi không còn hi vọng gặp lại anh. Tôi đã để tuột khỏi tay mình một thứ vô cùng quý giá. Tôi phải gánh chịu lấy mọi đau khổ một mình, không người san sẻ. Khi anh cần tới thì tôi im lặng, khi tôi đau buồn, tôi lại muốn được anh sẻ chia!

Vẫn biết, tôi quý trọng anh. Lẽ ra, tôi phải cư xử với anh ưu ái hơn, phải có thư về thăm anh dù chỉ đôi dòng thông báo khô khan. Tôi giận mình quá ích kỷ và đã xử tệ với anh. Tôi xấu hổ với chính mình, máu nóng dồn lên mặt, ngỡ bất cứ người qua đường nào cũng nhận ra tôi. Tôi ôm chặt Mai Chi vào ngực, mặt nép sau vai nó, tránh vào bóng tối vỉa hè. Gió từ lòng đường lướt lên quẩn vào tôi lạnh giá. Đêm Hà Nội chẳng yên tĩnh chút nào. Bầu trời lẫn vào ánh sáng vàng ệch của dãy đèn đường, nhưng tôi vẫn nhận ra, từ tận cùng cao thẳm, ánh sáng một ngôi sao chiếu ra lóng lánh như vô vàn mảnh kính vỡ.

Tôi sẽ về quê trước một ngày. Ở lại Hà Nội nữa mà chi.

Trong đầu tôi, ý nghĩ không đầu, không cuối miên man, chằng chịt, chồng chéo lên nhau. Chiều hôm sau, có việc, tôi qua bưu điện Bờ Hồ, vui chân rẽ vào cửa hàng sách ngoại văn Tràng Tiền rồi tạt qua Ngô Quyền sang vườn hoa Diên Hồng. Khi bước chân lên vỉa hè, một tấm quảng cáo rực rỡ đập vào mắt tôi: “Triển lãm tranh của các họa sỹ trẻ”. Tôi do dự rồi tiếp tục đi, nào tôi có am hiểu gì về hội họa. Ngẫm nghĩ thế nào tôi quay lại. Biết đâu trong đấy có tranh của anh?

Tôi bước vào phòng triển lãm với tâm trạng bồi hồi. Chẳng còn lòng dạ nào để thưởng thức. Tôi chỉ đọc và đọc khá kỹ các phụ đề. Đúng hơn tôi tìm tên anh.

Qua hàng cột vào góc phòng trong, tự nhiên tôi có linh cảm rằng, nơi khoảng sáng kia sẽ có điều tôi mong đợi. Tim tôi đập mạnh mẽ, tôi nghe rõ tiếng nhịp tim đổ hồi như một quả chuông con. Phải, tôi không lầm. Ở trên cao, bức tranh được lồng trong khung kính giản dị. Điều bất ngờ hơn lại là bức tranh anh vẽ phong cảnh quê tôi. Bức tranh duy nhất được anh treo trong phòng làm việc bảy năm về trước.

Buổi chiều thu núi giăng khói sương. Con dốc mảnh dẻ như sợi chỉ, men mén lên đồi. Đôi ba ngôi nhà đất díu vào nhau bên lùm cây xanh thẫm. Hoàng hôn buông thả chút nắng sót, cong hờ trên lườn núi xa rồi nhập vào nền mây tím… Chỉ có thế!

Tôi chập chờn trong sương khói vùng đồi. Dãy núi như bọc lấy tôi, rồi lại mở ra. Bức tranh không vẽ người, nhưng kìa, sao tôi thấy mình đang dắt Mai Chi ngược lối mòn lên đồi, phía những ngôi nhà đất rồi ngập vào trong bóng cây ca du…

…Mùa thu đến sớm với vùng đồi hơn bất kỳ nơi đâu. Dưới chân núi Mỏ Quạ, heo may đã thả đầy đồng. Gió len lỏi trong những vệt lau thưa rồi bất chợt thổi tung lên màu hoa lau trắng xốp. Nếu không có đất giữ lại, hẳn màu hoa kia sẽ bay lên lẫn vào mây núi.

Quê tôi toàn đồi trọc, cây cối cằn nên hiếm củi. Sim, mua, dành dành, cỏ tế bị chặt sát tận gốc. Cho dù có đang là mùa mưa, chúng cũng không thể nào nảy lên được. Lũ trẻ xóm tôi bòn mót mãi. Những hôm nào núi xa, về tới nhà đã tối đặc. Cuối cùng chúng tôi bàn nhau đi quét lá ca du. Hàng cây ca du đầu xóm đang mùa đổi lá. Lá ca du nỏ khô, phào phồng phủ kín đất. Chúng tôi chia nhau mỗi đứa vài gốc quét lá gom lại, lèn đầy bao tải. Riêng tôi thường cầm cái que nhọn xiên từng chiếc lá thành một xiên như xiên chả dài rồi tuốt lá ấn vào bao. Những chiều kiếm lá, chẳng đứa nào trong bọn chúng tôi lại không có một chiếc ống bơ đầy than lửa. Lúc lúc vung tay quay tít chiếc ống sắt, khiến than uống gió đỏ hực, khói lên nghi ngút, ấm lạ lùng.

Thường khi, lê được bao tải lá về tới nhà, trời đã xâm xẩm tối. Từ trong bếp, bà tôi đã nhảng ra đỡ tải lá trên vai tôi: “Khổ thân cháu gái bà!” Vốn dĩ mảnh người, hay ốm vặt, tôi được bà thương nhất nhà. Biết thế tôi cố kiếm thật nhiều lá để bà khỏi phải còm cọi quét lá tre sau vườn.

Tuy còn bé, tôi cũng kiếm được đủ lá cho bà đun. Mỗi lần về đến đầu ngõ, thấy khói bếp lên xanh là tôi mừng. Hôm nào vắng khói lên, y rằng bà lại ốm hoặc đau mình vì trời trở gió.

Những sợi khói bếp ấm áp suốt tuổi thơ tôi giờ đang tỏa trong tranh của anh chăng?

Không biết người ta định nghĩa nghệ thuật là gì, tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, chính anh bằng khả năng sáng tạo của mình đã giúp tôi nhớ lại được những gì đã qua và thấm thía với những gì mình đã có.

Tôi như mơ, như tỉnh, ngỡ anh đang lặng nhìn tôi. Đôi mắt sáng ánh lên, thoáng u trầm:

- Hà ạ. Em biết không, anh vẽ bức tranh này hồi mới ra trường. Mười ba năm qua đi. Nghĩa là, khi anh vẽ núi Mỏ Quạ quê Hà, em mới là một cô bé lên mười. Giờ thì…

Tôi thầm đoán được tình cảm kín đáo của anh. Thường chủ nhật, tôi ra thăm anh. Vẫn chỉ có anh với bức tranh phong cảnh treo trên tường. Dăm ống thuốc vẽ bẹp dí, lăn lóc bên những chiếc panh-xô cạnh giá vẽ. Mùi dầu lanh quyện với mùi dầu sơn vẽ quánh trên mặt vải tỏa ra hương vị đặc biệt lạ lùng, ngất ngây dễ chịu. Anh vẫn điềm tĩnh ngồi vẽ nhìn tôi với đôi mắt buồn nhưng sáng. Tự nhiên, tôi thấy thương anh thực sự và vô cùng cảm mến.

Tôi chăm sóc anh như một người em gái. Còn tại sao không yêu anh, cho đến giờ tôi chẳng hiểu nổi mình. Có điều chắc chắn, chẳng bao giờ tôi quên và luôn biết ơn anh với ý nghĩ thành thật.

Tôi đã bước vào ngưỡng cửa cuộc đời đầy mơ ước của tuổi trẻ hực sáng. Bức tranh anh có ý dành riêng cho tôi như một thứ quà tặng đặc biệt. Từ ấy, tâm hồn tôi giàu có hơn. Sự trầm tĩnh, từng trải của anh sớm cho tôi ý thức được phía trước cuộc đời mình phải đâu chỉ là những điều tốt đẹp. Cái chính là con người tự biết vượt mình.

Thế rồi tôi ra trường. Trước hôm đi xa, tôi đến chào anh, nhưng anh đã theo đoàn sà lan vượt sông Đà…

Tôi mang theo bao kỷ niệm về anh như mang theo hành trang quý giá nhất của mình vào đời. Sau này, khi đã có con, khi tôi chia tay với người chồng nơi đất lạ, mỗi lần nghĩ tới anh, tôi lại thấy yên lòng và yên tâm sống.

Phải, tôi sẽ làm lại tất cả. Tôi sẽ trở về cội nguồn của tình thương yêu, để từ đó lại ra đi… Những gì cần phải có cho con người, vẫn ở phía trước chờ đợi tôi.

Tôi ngập vào chuỗi ký ức khi cùng anh ngồi bên giá vẽ, khi ríu rít cùng bầy trẻ xóm, dưới bóng cây ca du thơm hăng mùi khói lá…

Nếu không có chuông báo triển lãm sắp đến giờ đóng cửa, tôi sẽ còn được sống lại những phút giây cảm động của đời thực mà anh trao gửi qua nét màu giản dị, giàu chân cảm trong tranh phong cảnh “Nhà đồi”.

Chuyến tàu nhanh dừng lại ga Phúc Yên, mẹ con tôi xuống tàu, đáp xe ngựa về Đại Lải.

Tôi và Mai Chi ở quê được vừa đúng mười ngày. Thầy tôi có việc phải về Hà Nội với anh chị tôi, thành thử ở nhà chỉ có ba bà cháu với nhau. (Bà ngoại tôi đã mất cách đây mười năm).

Tôi rào lại mảnh vườn cho mẹ. Tôi chần lại chiếc áo bông đã sờn của bà để lại cho mẹ. Tôi giặt giũ, phơi phóng chăn màn… Tôi làm đủ việc. Làm để bù lại những gì tôi chưa làm được như ý mẹ mong mỏi.

Tôi biết mẹ tôi không vui. Bà dành hết tình thương yêu cho cháu gái Mai Chi bất hạnh của bà, như ngày xưa bà ngoại dành cho tôi tất cả tình thương mến. Mai Chi hỏi bà luôn mồm: “Bà! Đây là cây gì hở bà? Sao người ta lại gọi nó là cây ca du? Bà ơi! Tại sao buổi sáng núi Mỏ Quạ màu xanh, buổi chiều núi màu tím, ư bà?”… Mẹ tôi phải trả lời hàng loạt câu hỏi của nó. Có lúc không trả lời cháu được, mẹ tôi bảo: “Thôi, cháu ngoan đừng hỏi nữa, bà mệt. Nào cầm chổi ra ngõ quét lá với bà để chiều đun cám”.

Tôi nhìn theo hai bà cháu lúi húi quét lá ca du đầu ngõ.

Đã chớm thu. Như bao mùa trước, thu về đây sớm hơn bất kỳ đâu. Núi Mỏ Quạ tím mờ hơi sương. Heo may đã thổi bùng lên những bông lau trắng xốp dọc triền đồi.

Anh ở đâu?...

Có khi nào anh không thấy núi Mỏ Quạ đẹp không? Núi vẫn tím như ngày nào anh vẽ. Nhưng chiều nay, dưới chân núi cũ, bé Mai Chi sáu tuổi của em cũng đang gom lá ca du khô cho bà nấu cám.

Đừng quên em, anh Chi nhé!

Bao giờ em cũng biết ơn anh đã dành cho em vào thuở tươi trẻ nhất, quà tặng của nghệ thuật. Mà, đến giờ, em mới thấm hiểu: có những điều chỉ lờ mờ khói sương, có những điều tưởng vô cớ không đâu lại có thể làm dịu đi vết xước đau, dìu ta qua được những tháng năm trồi sụt của đời người.

                                                                                                                                                                          H.H

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.