NỘI DUNG CHI TIẾT
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA “THẾ HỆ NHÀ VĂN SAU 1975”
5/6/2016

Đến dự có đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, UV BCH TƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện Văn học; PGS.TS, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Văn Cương – Hiệu trưởng trường đại học VH Hà Nội. Các vị đại biểu, lãnh đạo, đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ và đông đảo các vị khách quý.

Hội thảo “Thế hệ nhà văn sau 1975” hướng đến việc nhìn nhận, đánh giá kĩ càng hơn các lớp sóng văn chương trong giai đoạn đất nước tiến hành đổi mới toàn diện từ 1986 đến nay. Mặc dù công cuộc đổi mới văn học được làm nên bởi nhiều nhà văn thuộc cả thế hệ trước và sau 1975, nhưng theo quan điểm của Hội thảo, lực lượng chính, đông đảo nhất và trực tiếp kiến tạo những giá trị mới, đặc biệt là hệ mỹ học mới, lại chủ yếu thuộc về những người xuất hiện, khẳng định tên tuổi sau 1975. Sẽ không thể khách quan, hệ thống như lẽ ra cần thiết phải vậy nếu không để tâm nhìn lại diện mạo, tiếng nói của thế hệ nhà văn sau 1975, dù đây đó, trong khi bàn về văn học Đổi mới, những nét sơ lược chân dung của họ cũng đã được phác thảo.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, UV BCH TƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL nhận định: Thế hệ này cần được đánh giá khách quan và khoa học.

PGS. TS Nguyễn Văn Cương: “Mặc dù công cuộc đổi mới văn học được làm nên bởi nhiều nhà văn thuộc cả thế hệ trước và sau 1975, nhưng lực lượng chính, đông đảo nhất và trực tiếp kiến tạo những giá trị mới, đặc biệt là hệ mỹ học mới, lại thuộc về những người xuất hiện, khẳng định tên tuổi sau 1975. Nếu xét về độ tuổi, phần lớn họ sinh vào những năm 1950, 1960. Nếu xét về thời điểm đăng đàn, họ có mặt ngay từ lúc tinh thần Đổi mới đang khởi dựng cho đến khi thành cao trào.”

Tiến sĩ Chu Văn Sơn, trong tham luận “Thế hệ nhà văn sau 1975 – Họ là ai?” đã nêu rõ: “Trên nét lớn, thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai? Họ là chủ thể cốt lõi của hệ thẩm mỹ hậu chiến. Với sự xuất hiện của họ, mẫu nhà văn chiến sĩ/cán bộ thời chiến đã nhường chỗ hoàn toàn cho mẫu nhà văn kẻ sĩ/trí giả hiện đại thời bình. Với sự xuất hiện của họ, một cách ứng xử mới với hiện thực lên ngôi: Tinh thần ca ngợi hiện thực lu mờ bởi tinh thần tra vấn hiện thực, một cách ứng xử mới với ngòi bút được nhấn mạnh: ngòi bút không phải vũ khí cổ vũ tuyên truyền của cán bộ mà là công cụ đối thoại, thức tỉnh của trí giả, một quan hệ mới với người đọc được xác lập: không tuyên giáo, ru vỗ mà tương tác, tri nhận. Với sự xuất hiện của họ, một tư duy thẩm mỹ khác thắng thế: tìm cái bất thường trong cái bình thường, một nhãn quan nhân sinh mới trỗi dậy: chủ nghĩa nhân bản, một chiều sâu mới của thực tại nhân sinh được đào bới: con người bản thể, một điệu cảm xúc mới được khơi nguồn : nỗi bất an thời bình, và một xu thế mở trong lối viết: tự do hóa thi pháp. Họ mới thực là chính chủ của chặng đường văn học sau 1975. Bằng những tên tuổi nổi bật nhất, họ đã góp vào sơn hệ văn học nước nhà không ít những đỉnh cao. Dù rằng, vẫn còn những ngọn mà hôm nay chưa dễ nhìn ra đỉnh. Bó đuốc trên tay họ đến nay vẫn không ngừng tỏa sáng. Dù rằng, trên đường chạy trường kì của lịch sử văn học nước nhà đã rậm rịch bước chân của lớp người sau. 

Hội thảo đã nhận được 85 tham luận đến từ các trường đại học, cơ quan, viện nghiên cứu trong và ngoài nước.

Tại tiểu ban thơ, PGS. TS Trương Đăng Dung mở đầu bằng ý kiến: Phẩm chất của sáng tạo là không lặp lại, là luôn phải tạo ra cái mới. Nói đến văn chương nghệ thuật là nói về sự đổi mới. Đổi mới, khám phá cái mới chính là bản chất của nghệ sĩ. Nhưng nếu cấp cho văn học quá nhiều chức năng thì lập tức sẽ bị biến thành thứ khác xa với nghệ thuật. Mỗi người làm công việc sáng tạo cần viết khác so với cái đã có của mình, giữa những người làm văn chương cần viết khác nhau đồng thời phải cổ vũ cho các xu hướng sáng tác khác mình. Người viết thay đổi tích cực sẽ kéo theo sự thay đổi thị hiếu của độc giả. Một nhà thơ chỉ cần một nhóm độc giả của mình và giữ được đám độc giả đó để mở rộng thêm chứ không thể làm vừa ý tất cả công chúng. Điều cần thiết đối với người đọc, người viết ở mọi thời đại là cần mở rộng cách nhìn về văn chương nghệ thuật, mở rộng nhãn quan về văn học thế giới để từ đó hiểu được chúng ta đang ở đâu, chúng ta là ai, chúng ta đang sáng tạo như thế nào…

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tổng kết thơ Việt Nam hiện đại (tính từ 1930) để chia các giai đoạn thơ bằng con số cụ thể: cứ 15 năm các nhà thơ lại tạo nên một dấu mốc của thế hệ. Như vậy, sau 1975, tính đến nay đã có thêm gần ba thế hệ thơ (1975 – 1990; 1990 – 2005; 2005 đến nay), mỗi chặng đường sáng tác, các nhà thơ đều làm nên dấu ấn của chính mình. Tiếp đó nhà thơ đánh giá về sự đổi mới của thơ sau 1975: hoàn cảnh xã hội mới tạo điều kiện cho nhiều điều mới bộc lộ (về ngôn ngữ, hình tượng, cách thức thể hiện…), nhưng điều quan trọng nhất vẫn là sự đổi mới từ trong chính tâm hồn, trí tuệ, nhãn quan của người sáng tác. Nếu trong tâm can không có gì thì đừng bao giờ nói đến sự cách tân, bởi không có điều gì ẩn chứa bên trong mỗi câu chữ thì các câu thơ chỉ còn lại xác chữ mà thôi. Người làm thơ khi dùng nghệ thuật ngôn từ để thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình trước hết phải biết thổi hồn vào chữ để bài thơ trở thành một sinh thể sống động mới có thể lay động được lòng người.

Nhà thơ Trần Quang Quý bày tỏ suy nghĩ về sự đổi mới trong thơ: Hãy soi chiếu sự rung động trong tâm hồn mình vào những vật dụng xung quanh cuộc sống để tìm thấy ở đó những vẻ đẹp, những sự vận động, những niềm vui và cả nỗi đau. Hãy “nuôi chữ” cho đến khi đủ lớn và làm chủ được chữ thì mới có thể làm nên sự mới mẻ, nếu không sẽ chỉ còn lại đống vỏ ngôn từ rỗng tuếch.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ: Tôi đã đi xa “Sự mất ngủ của lửa” (tập thơ được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992) rất lâu rồi. Có thể sự rời xa đó đưa tôi về phía ánh sáng hay đẩy sâu vào bóng tối, nhưng từ đó tôi được là chính tôi, biết vượt qua những nỗi sợ hãi mơ hồ để nói tiếng nói của chính mình. Và sự đổi mới là tự thân của mỗi người sáng tác. Với tôi, đổi mới là hơi thở.

Phần thảo luận, trình bày ý kiến của các nhà phê bình: Nguyễn Thanh Tâm, Trần Ngọc Hiếu, Phạm Xuân Nguyên, Đoàn Lê Giang đều tập trung vào các vấn đề: cần định danh một cách rõ ràng về thế hệ nhà văn sau 1975; ghi nhận sự đổi mới về thể loại, thi pháp, kĩ thuật của người sáng tác; cần thoát khỏi định kiến về giới trong sáng tạo; cuộc chuyển giao thế hệ, “bàn giao” văn học là tất yếu của tiến trình phát triển chung…

Cùng thời điểm đó, tại tiểu ban văn xuôi diễn ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà văn và giới phê bình. Nhà văn Y Ban thẳng thắn đưa ra nhận xét: hiện nay các nhà phê bình Việt Nam không theo kịp sáng tác và ngay cả công việc làm phê bình cũng đang rơi vào tình trạng thiếu chuyên nghiệp. Nhiều bài phê bình chỉ viết cho đủ dung lượng trang báo (phê bình báo chí) đang khá phổ biến; một dạng khác là “phê bình trong trường học” – tức là các luận văn, luận án của sinh viên chuyên ngành văn chương. Nhiều nhà văn làm nên diện mạo văn học Việt sau 1975 bị bỏ quên, không được gọi tên một cách chính danh mà chỉ được “đính kèm” trong những cuộc bàn thảo về văn học hiện đại. Bên cạnh đó, việc đầu tư mua tác phẩm cho các tủ sách văn học Việt Nam đương đại dường như không được chú ý khiến tác phẩm của các nhà văn luôn “xa lạ” với chính người làm nghiên cứu.

Phản hồi những ý kiến của nhà văn Y Ban, PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn lí giải: không có nhà phê bình nào bắt tay vào làm việc đã trở nên sâu sắc, giỏi giang ngay được, tất cả đều phải có quá trình. Các nhà phê bình hiện nay vẫn đang tiếp tục công việc của mình, chắc chắn họ không bỏ sót bất kì trường hợp nào.

Kết thúc thảo luận tại các tiểu ban, phiên toàn thể được tiến hành ngay trong cuối buổi chiều 28-4. Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đến dự và phát biểu tổng kết, ông đánh giá những đóng góp quan trọng của thế hệ nhà văn sau 1975 trên các phương diện: đổi mới về cảm quan sáng tạo (từ đơn tuyến đến phức hợp); đổi mới về chủ thể sáng tạo (cái Tôi cá nhân được bộc lộ, được đề cao, vừa là nhân vật vừa là nhân chứng); đội ngũ sáng tác sau 1975 trở thành chủ lực của nền văn học đang đổi mới… Tất cả những điều đó làm nên một nền văn học Việt Nam hiện đại trở nên thật hơn, gần hơn với đời sống. Nhà thơ Hữu Thỉnh kết thúc bằng lời phát biểu chân thành: “Đại diện thế hệ nhà văn chống Mỹ, tôi xin ngả mũ cúi chào một thế hệ mới làm đầy nền văn học của chúng ta – thế hệ nhà văn Việt Nam sau 1975”.

PGS. TS Văn Giá – Trưởng khoa Báo chí – Viết văn trường ĐH Văn hóa Hà Nội báo cáo tổng kết hội thảo: Với tinh thần gợi mở, tạo diễn đàn bàn luận đa chiều, Hội thảo Thế hệ nhà văn sau 1975 đã thực sự thu hút nhiều góc nhìn, phương pháp tiếp cận khác nhau, đồng thời, đã cung cấp nhiều thông tin, tư liệu, kết luận hữu ích cho giới nghiên cứu và bạn đọc văn chương. Một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa giải quyết thấu đáo trong Hội thảo cũng có thể thúc đẩy những khám phá, tìm biết kĩ lưỡng, chân xác hơn. Cùng với các hoạt động chuyên môn chính, Hội thảo cũng đã hoàn thành cuốn sách "Thế hệ nhà văn sau 1975: Diện mạo và Thành tựu". Cuốn sách được Hội đồng khoa học của Hội thảo tuyển chọn, biên tập từ các tham luận, do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

 

Theo vanvn.net

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.