NỘI DUNG CHI TIẾT
Quan niệm về văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng nhìn từ việc đổi mới tư duy lý luận văn học hôm nay (TS. CAO THỊ HỒNG)
6/27/2016
Ngoài tác phẩm Văn hóa và đổi mới (Nxb. Chính trị Quốc gia, 1994) như một dấu ấn đặc biệt của ông về lĩnh vực văn hóa và đổi mới với những tư tưởng độc đáo đúc kết về mặt khoa học và thực tiễn của một nhà lãnh đạo đã có một quá trình dấn thân cho sự nghiệp cách mạng nhằm phục vụ tối thượng cho lợi ích của nhân dân, thì phần lớn các bài viết thể hiện quan điểm văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng đều được tập hợp trong tác phẩm nổi tiếng một thời trong đời sống văn nghệ của nước ta là tác phẩm Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ (Nxb. Văn học,1973). Những bài viết trong tác phẩm này đều thể hiện quan điểm chỉ đạo, định hướng về công tác văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, dấu ấn tư duy lý luận văn học của thời kỳ chưa đổi mới, khi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có văn học nghệ thuật đều phải tập trung cho công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do và thống nhất nước nhà nên việc coi văn học nghệ thuật đơn thuần chỉ là “vũ khí” đấu tranh giai cấp, “phục vụ” chính trị, phục vụ cách mạng là điều tất yếu, phù hợp với giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ mà quan điểm của Phạm Văn Đồng thể hiện trong tác phẩm này cũng không là ngoại lệ.
Song, điều đặc biệt ở đây, quan niệm về văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng thể hiện ở thời kỳ này không chỉ bó hẹp trong những phạm trù nói trên mà với tư cách vừa là nhà lý luận chính trị lại vừa là một nhà văn hóa kiệt xuất, ông đã mở rộng tầm nhìn của mình sang nhiều phạm trù khác nhau của lý luận văn học mà với cái nhìn đổi mới tư duy lý luận văn học hôm nay, trên tinh thần gạn đục khơi trong, chúng ta vẫn thấy còn nhiều giá trị cả về mặt khoa học và thực tiễn. Đó là các vấn đề như: chức năng của văn học, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học nghệ thuật, nhà văn và quá trình sáng tạo, vấn đề tự do sáng tác của nghệ sĩ, vấn đề tiếp nhận tinh hoa văn học nghệ thuật thế giới... Và có thể nói, đó là những thông điệp sâu sắc mang tầm tư tưởng lớn. Những thông điệp này không chỉ đã góp phần khẳng định giá trị khoa học về mặt lý luận trong việc chỉ đạo nhiệm vụ của văn học nghệ thuật lúc bấy giờ mà còn thức nhận cho các nhà nghiên cứu lý luận văn học, các nhà quản lý văn học nghệ thuật hôm nay nhiều vấn đề lý thuyết để không ngừng suy ngẫm, khám phá, tìm tòi, bổ sung ý nghĩa mới phù hợp với việc đổi mới tư duy lý luận văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
2. Có thể nói, quan niệm về chức năng của văn học là một vấn đề cốt lõi của văn học mà nền lý luận văn học của mọi dân tộc trong mọi thời kỳ đều phải quan tâm. Xuất phát từ ý nghĩa này, trong tư duy lý luận của Phạm Văn Đồng, vấn đề chức năng của văn học được ông đặc biệt lưu ý và có những ý kiến khá sâu sắc có tính phổ quát và thực tiễn cao. Trước hết, có thể thấy, Phạm Văn Đồng đánh giá cao chức năng nhận thức của văn học. Ông quan niệm: “Văn học nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội”(1). Quả đúng như vậy, lý luận văn học hiện đại thừa nhận văn học nghệ thuật là cuốn “bách khoa toàn thư” về cuộc sống. Chức năng nhận thức của văn học thể hiện ở khả năng văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết, giúp con người khám phá thế giới hiện thực. Nhưng văn học không như các môn khoa học khác nhận thức hiện thực theo kiểu phân môn, mà văn học phản ánh cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó. Văn học nghệ thuật là cái bể chứa những tri thức về hiện thực đời sống. Văn học có thể tái hiện quá khứ với những sự kiện lịch sử phong phú, cung cấp những tri thức về kinh tế, văn hóa, quân sự, chính trị, xã hội, tôn giáo v.v... Văn học còn giúp ta tìm hiểu thân phận của con người với những chiều sâu tâm cảm và tâm thức, khám phá các tính cách xã hội, nhận diện chân dung của một giai đoạn xã hội, một tầng lớp, một giai cấp... Tuy nhiên có một điều đáng lưu ý trong tư duy lý luận của Phạm Văn Đồng về chức năng nhận thức của văn học là ông không những chỉ rõ vai trò của văn học nghệ thuật trong việc nhận thức hiện thực xã hội mà còn quan tâm đến vấn đề “sáng tạo thực tại xã hội”.  Phải chăng, ông muốn đề cao vai trò sáng tạo của văn nghệ sĩ trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống mà ông gọi là “sáng tạo thực tại”. Bởi thực tại đời sống bao giờ cũng phong phú, da dạng và biến đổi không ngừng. Vì vậy, nếu văn nghệ sĩ không có một cái nhìn thấu thị trước “thực tại” cuộc sống nhân sinh, không ngừng đào sâu nghiền ngẫm về những chiều kích khác nhau của hiện thực để từ đó “hiểu biết khám phá và sáng tạo” (từ dùng của Phạm Văn Đồng - CTH) mà chỉ phản ánh một cách cứng nhắc, công thức, giản đơn cuộc sống thì sẽ không thấy hết được vai trò chức năng nhận thức của văn học. Có thể nói vấn đề quan niệm về việc nhận thức hiện thực cuộc sống trong tư duy lý luận của Phạm Văn Đồng cho thấy ông là người có tầm nhìn xa trông rộng, và những vấn đề này nhìn từ tư duy lý luận văn học hiện đại ta thấy nó vẫn còn phù hợp và bổ ích. Bởi lẽ, trong tư duy lý luận văn học hiện đại hôm nay, hiện thực cuộc sống được nhận thức từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Văn học không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống “bên ngoài” mà còn phản ánh cuộc sống “bên trong” như quan niệm của G. Lukacs. Đó là hiện thực của chiều sâu vô thức trong thế giới tâm linh của con người mà để làm được điều này người nghệ sĩ không có con đường nào khác là phải khám phá, sáng tạo “thực tại xã hội”, từ sự dấn thân vào cuộc sống để biến quá trình nhận thức thế giới khách quan thành quá trình tự nhận thức về bản thân, từ đó sáng tạo tiếp những giá trị thuộc về đời sống tinh thần cho cộng đồng xã hội.
Bên cạnh chức năng nhân thức, chức năng giáo dục cũng là một vấn đề được Phạm Văn Đồng quan tâm luận bàn. Trước đây, trong hoàn cảnh chiến tranh, khi bàn về chức năng giáo dục của văn học, vấn đề giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng lập trường giai cấp, thường được các nhà lý luận văn học đề cao khi cho rằng: “Chức năng cải tạo cũng là chức năng đấu tranh, chức năng chiến đấu và chức năng tạo dựng của văn học. Tính chất “công cụ”, “vũ khí” của văn học biểu hiện ở chỗ này (...). Nói đến chức năng cải tạo của văn học là nói đến việc nhà văn dùng tác phẩm để truyền đạt lý tưởng sống của bản thân mình, mà cũng là lý tưởng sống của một giai cấp, một lực lượng, một thời đại mà mình là tay, chân, tai, mắt”(2).
Luận bàn về chức năng giáo dục của văn học, mặc dù cũng luôn nhấn mạnh vai trò giáo dục chính trị, tư tưởng cho đại chúng nhưng theo Phạm Văn Đồng: “Văn học nghệ thuật có tác dụng bền bỉ, sâu xa, nó cải tạo toàn diện con người, từ tư tưởng tình cảm, phong cách con người, đến phong tục tập quán” (3). Như vậy, Phạm Văn Đồng đã không đánh đồng chức năng giáo dục của văn học với chức năng giáo dục của các ngành khoa học xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo... Ông đã chỉ rõ đặc thù chức năng giáo dục của văn học nghệ thuật, nhấn mạnh khả năng “cảm hóa”, tự giáo dục của văn học. Hiệu quả của tác phẩm văn học đến với con người một cách tự nhiên. Trong quá trình tác động để cải biến con người, tác phẩm văn học không đóng vai trò là “công cụ” giáo huấn khô khan, cứng nhắc mà như người bạn đồng hành, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng với bạn đọc. Quan niệm này của Phạm Văn Đồng đã gặp gỡ với tư duy lý luận văn học hiện đại. Bởi tư duy lý luận hiện đại cho rằng tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng nhằm khơi dậy cuộc đấu tranh, sự vật lộn bên trong ở mỗi người khi tiếp nhận nghệ thuật. “Nó là tấm gương để con người tự soi mình, tự đối chiếu và tự phán xét về người khác, cũng như về chính bản thân mình. Bằng cách đó, văn học chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục” (4). Lý luận văn học thời kỳ đổi mới cũng thừa nhận tác động của văn học đối với con người là mạnh mẽ, nhưng lâu dài, ẩn sâu vào nỗi trăn trở của nhân cách. Sự giáo dục bằng nghệ thuật không có tính chất cưỡng bức mà là một hoạt động tự giác, văn học gieo vào lòng người sự cảm nhận về cái tốt, ý thức về cái xấu, nỗi khát khao hướng thiện, tất cả nằm trong thế khả năng chứ không phải sự tác động tức thì.
Xuất phát từ việc thấu hiểu sâu sắc đặc thù về chức năng nhận thức và giáo dục của văn học nghệ thuật thông qua tác phẩm nghệ thuật, nên theo Phạm Văn Đồng: “Hai mặt chủ yếu của văn học và nghệ thuật là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Đã nói đến văn học, nghệ thuật thì phải thấy nội dung tư tưởng rất quan trọng, nhưng đồng thời giá trị nghệ thuật cũng rất quan trọng. Ta đòi hỏi hai mặt đó đều phải tốt một trăm phần trăm. Nội dung tư tưởng quan trọng vì nó là linh hồn, và tất nhiên đối với chúng ta đó là yêu cầu rất cao, cao chừng nào tốt chừng ấy. Nhưng mà đừng một chút nào vì đòi hỏi về nội dung tư tưởng cao như vậy mà tự cho phép mình hay cho phép bất cứ người nào, xem nhẹ mặt nghệ thuật, giá trị nghệ thuật, trình độ nghệ thuật, làm cho nó kém đi, hạ thấp nó. Làm như vậy thì còn gì là nghệ thuật? Nghệ thuật thì phải thực sự là nghệ thuật” (5).
Quan điểm trên cho thấy tư duy lý luận văn nghệ của Phạm Văn Đồng đã vượt thời đại, bứt khỏi những rào cản, của những quan điểm xã hội học dung tục một thời không xa, khi chỉ coi trọng nội dung tác phẩm mà ít quan tâm hoặc không hề quan tâm đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Phạm Văn Đồng đã rất chú trọng đến vấn đề mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học nghệ thuật. Đây là điều rất tinh tế của ông trong việc cảm thụ tác phẩm văn học nghệ thuật phù hợp với đặc trưng của văn học nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội nhưng là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Có thể nói quan điểm lý luận văn học coi trọng nội dung tác phẩm trong qua trình sáng tạo cũng như tiếp nhận tác phẩm văn học là hệ quả tất yếu của quan niệm hiểu không đúng về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức khi cho rằng hình thức và nội dung có quan hệ biện chứng nhưng lại luôn khẳng định nội dung quy định hình thức: “Hình thức được tạo nên bởi nội dung, giống với nội dung và đi cùng nội dung” (6), thậm chí còn cho rằng: “Hình thức nghệ thuật chỉ là một mánh khóe thủ thuật, được áp đặt bề ngoài lên cái nội dung hỗn độn của bản thân lịch sử” (7). Vì vậy, trước thời kỳ đổi mới, do ảnh hưởng của cái nhìn hạn hẹp trên về nội dung và hình thức của tác phẩm văn học nên khi nói đến vấn đề hình thức trong sáng tạo và tiếp nhận văn học thường dễ bị quy chụp là “hình thức chủ nghĩa”. Rất may, vấn đề này hiện nay đã không còn đất sống trong tư duy lý luận văn học thời kỳ đổi mới, khi chúng ta tiếp nhận nhiều trường phái lý thuyết văn học phương Tây như: Thi pháp học, phong cách học, chủ nghĩa hình thức Nga, mỹ học tiếp nhận, chủ nghĩa hiện sinh, tự sự học... thì những tư tưởng lạc hậu như trên đã trở thành những tiếng nói lạc điệu và xa lạ với tư duy lý luận văn học hiện đại hôm nay.
Sở dĩ nói lại những điều này để một lần nữa xác quyết rằng với một tư duy lý luận sắc bén và một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, Phạm Văn Đồng đã diễn giải cụ thể và mạch lạc về quan hệ giữa hình thức và nội dung. Ông thấu hiểu quan niệm mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong nghệ thuật phải mang tính chất đặc thù: “Nghệ thuật thì phải thực sự là nghệ thuật” và “nội dung tư tưởng có tốt đi nữa, nếu không có giá trị nghệ thuật thì không thành một tác phẩm nghệ thuật” (8). Đây là một chân lý giản dị mà phải sau nhiều năm tranh luận về tư tưởng học thuật, thậm chí phải trả giá bằng những thiệt thòi mất mát đáng tiếc của một số nhà văn tài năng, đến bây giờ các nhà lý luận văn học ở Việt Nam mới có thể khẳng định: “Sự thống nhất hình thức và nội dung phải được hiểu là nội dung hóa thân vào hình thức, biểu hiện vào văn bản, hình thức biểu đạt nội dung cũng mang tính nội dung. Hình thức là phương thức tồn tại và biểu hiện của nội dung. Chính vì vậy hình thức hàm chứa mọi quy tắc biểu đạt và biểu hiện tất cả sự phong phú của nội dung. Muốn hiểu được nội dung chỉ có một con đường là đi sâu khám phá về hình thức” (9).
Những tác phẩm nghệ thuật có giá trị đích thực là những tác phẩm có sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức. Hình thức kiến tạo thế giới nghệ thuật bao giờ cũng mang dấu ấn riêng, thể hiện cá tính thẩm mỹ và là thước đo tài năng sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Quan niệm đúng đắn, khoa học về mối quan hệ nội dung và hình thức nghệ thuật, đặc biệt nhấn mạnh tính nghệ thuật của tác phẩm văn học trong tư duy lý luận văn nghệ của Phạm Văn Đồng thiết nghĩ cho đến nay vẫn là những tư tưởng chỉ đạo quý giá giúp cho các nhà lý luận phê bình, các nhà quản lý văn học nghệ thuật tiếp tục suy ngẫm để không ngừng sáng tạo và hoàn thiện hệ thống lý thuyết văn học của chúng ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng hôm nay.
Phạm Văn Đồng là một nhà chính trị có trái tim nghệ sĩ lớn, có lẽ vì vậy nên ông rất cảm thông với lao động nghệ thuật nhọc nhằn của người nghệ sĩ. Ông chia sẻ: “...Văn học, nghệ thuật là công trình khó lắm, công phu vô cùng, không  giản đơn một chút nào” và “người làm văn học, nghệ thuật phải là người hiểu biết nhiều lắm” (10). Ông cũng rất trân trọng chủ thể sáng tạo, đánh giá cao quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Và có lẽ, vì thế ông không chỉ chia sẻ cảm thông trân trọng mà còn luôn yêu cầu cao đối với loại lao động đặc biệt này. Bàn về vấn đề nguồn cảm hứng của nhà văn, Phạm Văn Đồng bày tỏ quan điểm khá rõ ràng, khi cho rằng:“Người làm văn học nghệ thuật phải sống với tất cả quả tim, khối óc, với tất cả tâm hồn và nghị lực của chúng ta. Sống một cách say mê, đồng thời rất sáng suốt. Tôi nghĩ đấy là nguồn cảm hứng quan trọng bậc nhất, và nguồn cảm hứng đó phải luôn sôi nổi, bởi vì nó là cái nguồn để tạo nên sáng tác văn học nghệ thuật, và từ đó mới có sáng tạo, sáng tạo về nội dung cũng như sáng tạo về hình thức” (11). Quan niệm trên của Phạm Văn Đồng gợi chúng ta suy nghĩ về sự “dấn thân” (từ dùng của J.P. Sartre), tận hiến và sáng tạo của người cầm bút. Nghĩa là nhà văn phải xuất phát từ “nỗi đau đớn lòng” trước “những cuộc bể dâu”, “những điều trông thấy” như đại thi hào Nguyễn Du từng trăn trở, mới mong có những tác phẩm “để đời”, thấm đượm giá trị nhân văn, nhân bản. Và lúc đó, văn chương mới thật sự là tiếng gọi thao thiết từ cuộc sống. Phạm Văn Đồng cũng quan niệm: “Nghệ thuật không phản ánh đời sống một cách thụ động như một tấm gương không hồn” (12). Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, khi cách hiểu của đa số người cho rằng hiện thực vốn là cái “dâng sẵn, đón chờ”, chỉ đợi nhà văn “phản ánh”, sao chép vào tác phẩm thì quan niệm của Phạm Văn Đồng như một bổ sung, gợi mở cho những nhà văn tâm huyết và có bản lĩnh với nghề cầm bút tiếp tục trăn trở, suy nghĩ thêm những giá trị mới về đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, về mối quan hệ giữa hiện thực đời sống và hiện thực trong tác phẩm văn học để không ngừng hoàn thiện quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình.
Nhiều lần trong các phát biểu của mình trước văn nghệ sĩ, Phạm Văn Đồng nhắc đến vấn đề tự do của người nghệ sĩ. Ông cho rằng: “Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ làm gì, phải tạo điều kiện cần thiết cho những người làm văn học, nghệ thuật sống cuộc sống của nhân dân. Còn đối với từng ngành, đối với từng người, cụ thể nên như thế nào, thì không nên máy móc, không nên gò ép, không nên miễn cưỡng”. Ông quán triệt những nhà quản lý văn nghệ: “Không những cần thừa nhận người nghệ sĩ của ta có tự do mà còn phải làm thế nào cho người nghệ sĩ của ta rất được tự do, làm sao chắp cánh cho họ bay thật cao, thấy thật xa để sáng tác cho hay, cho tốt, cho đẹp” (13) và “nếu gò bó, ép buộc thì bất cứ đối với ai đều là không tốt, đối với người nghệ sĩ tất nhiên lại càng không tốt” (14). Không chỉ nhận thấy vấn đề tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ là một trong những điều kiện tiên quyết đối với lao động nghệ thuật mà các nhà quản lý văn nghệ cần quan tâm, Phạm Văn Đồng còn yêu cầu về phía những người cầm bút cần phải nhận thức rằng: “Tự do không thể là muốn làm gì cũng được (...). Càng tự do lòng càng sáng, mắt càng sáng, càng có nhiệt tình, càng phấn khởi hăng hái làm nên những tác phẩm tốt... đem lại lợi ích cho nhân dân” (15).
Có thể nói, quan điểm tôn trọng sự tự do của người nghệ sĩ trên tinh thần lấy lợi ích chung của cộng đồng đặt lên hàng đầu cho thấy tinh thần dân chủ sâu sắc, triệt để trong tư duy quản lý văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng. Tư tưởng ấy của ông không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà còn thể hiện bằng hành động của một nhà lãnh đạo nhân hậu và luôn sâu sát với thực tiễn. Trong thời gian làm Thủ tướng Chính phủ, ông là người đã giải oan và cho phép chiếu bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy khi bộ phim này bị cấm chiếu bởi do quan điểm nhìn nhận thiển cận của một số nhà quản lý văn hóa văn nghệ lúc bấy giờ (xem: Lê Thanh Dũng, Trần Văn Thủy, Chuyện nghề của Thủy, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013).
Dám bày tỏ quan điểm của mình, cùng nghệ sĩ bảo vệ cái Đẹp đến cùng, góp phần đẩy lùi tư tưởng ấu trĩ, bảo thủ, giáo điều trong các quan niệm về văn học nghệ thuật nói riêng và các vấn xã hội khác nói chung, Phạm Văn Đồng đã chứng tỏ một bản lĩnh kiên cường và một nhân cách cao quý của nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà văn hóa lỗi lạc của dân tộc. Vì vậy, khi bàn về quan điểm văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng thiết nghĩ phải bàn đến quan điểm của ông trong việc tiếp nhận tinh hoa văn học nghệ thuật của nhân loại. Ông cho rằng, khi tiếp nhận văn học thế giới cần phải có tinh thần cầu thị học hỏi. Ông căn dặn các nhà văn: “Các đồng chí phải hiểu biết tất cả những kiến thức về văn học nghệ thuật nói chung của Việt Nam và của thế giới (...). Làm chủ kho tàng văn học nghệ thuật của thế giới thì có khó hơn, nhưng tôi nghĩ ít lâu nữa thì chúng ta làm được... có những ngành mà hiện nay trình độ ta còn thấp, ta phải học thật sự, học có hệ thống, học đến nơi đến chốn”(16). Đây là quan điểm đúng đắn. Việc mở rộng giao lưu văn hóa, văn học với thế giới để làm phong phú thêm nền văn học dân tộc hiện nay đã được thừa nhận như một quy luật trong quá trình vận động và phát triển của đời sống văn học nước nhà. Có thể khẳng định, sự hiện diện của văn học nước ngoài bao gồm cả sáng tác, lý luận văn học đã có vai trò tích cực không nhỏ đối với sự phát triển nền văn học dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống văn học như: sáng tác, lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam không chỉ trong quá khứ hiện tại mà cả trong tương lai.
3. Phạm Văn Đồng đã từng viết về Nguyễn Đình Chiểu: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng” (17). Năm tháng qua đi, giờ đây chúng ta cũng có thể mượn câu văn của Người để tưởng nhớ về chính Người. Những trang viết của Phạm Văn Đồng để lại cho hậu thế tuy không nhiều nhưng đầy ắp những thông điệp mang giá trị nhân văn mà càng ngẫm ngợi càng nhận thấy lấp lánh ánh sáng trí tuệ, tâm hồn của một bậc vĩ nhân suốt đời phấn đấu, hy sinh vì hai tiếng nhân dân giản dị. Đọc, suy nghĩ những quan niệm về văn học nghệ thuật của Phạm Văn Đồng trong thời đại cả dân tộc đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới chúng ta có thể tự  tin và tự hào khẳng định: Tổ quốc ta, Nhân dân ta và toàn thể văn nghệ sĩ Việt Nam mãi mãi có một ngôi sao sáng dẫn đường - ngôi sao mang tên Phạm Văn Đồng.
                                                                                                                                                          C.T.H
NT

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.