NỘI DUNG CHI TIẾT
DI SẢN LÝ LUẬN VĂN NGHỆ TRƯỜNG CHINH
4/14/2017

                                    PHƯƠNG LỰU

 

     Văn hóa, nghệ thuật là một lĩnh vực cực kỳ phong phú và phức tạp. Lại là người cực kỳ thận trọng, đến cuối đời, đồng chí Trường Chinh mới cho sưu tập rồi trực tiếp tuyển chọn và biên tập những bài viết về văn hóa, nghệ thuật trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Và Nhà xuất bản Văn học công bố hai tập về văn hóa, nghệ thuật liên tiếp trong hai năm 1985, 1986, dường như vừa để kỷ niệm 60 năm tròn ngày bước vào hoạt động cách mạng, vừa chuẩn bị chúc mừng lễ thượng thọ lần thứ 80 của đồng chí. Mấy thập kỷ nữa trôi qua, nay nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí, đọc lại ngay bài mở đầu tập sách này - Vài nét về phong tục và giáo dục dưới chế độ cũ - cũng đã thấy “tuổi thọ” của nó đã tròn 80 năm. Gần 40 bài viết trong công trình lớn này tuy quán xuyến một cách nhìn văn hóa, mà then chốt là những vấn đề nghệ thuật, nhưng lan tỏa ra ở hầu khắp các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạo đức, giáo dục, khoa học, ngôn ngữ, phong tục, báo chí, xuất bản... Và trong mỗi lĩnh vực như vậy, đồng chí lại bàn đến tận những địa hạt cụ thể, như trong khoa học, đồng chí đã có ý kiến về lịch sử, địa lý, khảo cổ... Đặc biệt, về mặt nghệ thuật, đồng chí đã phát biểu về hội họa, âm nhạc, điện ảnh, báo ảnh, viết văn, làm thơ, thậm chí cả đến việc ngâm thơ và đọc thơ... Nhưng xuyên thấm qua tất cả là những ý kiến mang tính chất quan điểm cơ bản, làm cho đồng chí trở thành một trong những tác giả chủ chốt về đường lối văn nghệ của Đảng ta. Quả vậy, dù với cương vị Tổng Bí thư hay không, đồng chí Trường Chinh luôn luôn thay mặt cho Trung ương phát biểu liên tiếp trong tất cả bốn kỳ Đại hội Văn nghệ trong suốt 30 năm chiến tranh. Và nếu kể từ Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) mà đồng chí là người trực tiếp khởi thảo, qua Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948), Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ yêu nước và chủ nghĩa xã hội (1957), Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa (1962), Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến tới thống nhất nước nhà (1968) đến bài về Cách mạng tư tưởng và văn hóa (1983), trong suốt 40 năm tròn, đồng chí Trường Chinh là người góp phần xác định đường lối văn nghệ của Đảng sớm nhất, thường xuyên, liên tục nhất và với một hệ thống phong phú nhất. Hệ thống đó, trong bài phát biểu tại Đại hội Văn nghệ lần thứ IV vào năm 1968 nói trên, đồng chí đã trực tiếp trình bày như sau:

“1) Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong công cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng ta đề ra... 2) Văn nghệ ta phải thật sự là nền văn nghệ nhân dân... 3) Văn nghệ ta phải có tính dân tộc, văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta... 4) Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực đó theo một lí tưởng nhất định... 5) Mục đích của văn nghệ ta là giáo dục con người mới... 6) Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay... 7) Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình... 8) Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người” (1). Tất nhiên, không nên đồng nhất phát biểu của các nhà lãnh đạo với đường lối chung của Đảng. Chỉ nên xem thuộc đường lối văn nghệ của Đảng, những văn kiện chính thức của Trung ương và Bộ Chính trị, những phần bàn về văn nghệ trong các Báo cáo chính trị và Nghị quyết ở các kỳ Đại hội Đảng, những bức thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi các kỳ Đại hội Văn nghệ... Lẽ đương nhiên, phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng là thống nhất với đường lối của Đảng. Là những nhà lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí đã căn cứ trên những Nghị quyết của Đảng để triển khai vấn đề sâu rộng thêm. Là những nhà văn hóa, có khi còn là những nhà thơ, nhà văn, các đồng chí đến với giới văn nghệ sĩ như những người bạn, đã thân tình trao đổi đến cả những vấn đề bếp núc trong sáng tác.

Nhưng đường lối văn nghệ của Đảng ta nói chung, tư tưởng văn nghệ của đồng chí Trường Chinh nói riêng, trước hết là những vấn đề quan điểm. Song, nếu kiến thức có giá trị quan điểm, thì quan điểm cũng có giá trị kiến thức. Tất nhiên, sự chuyển hóa qua lại này chỉ thuộc về những quan điểm thật sự đúng đắn với những kiến thức thật sự sâu sắc. Chúng ta có thể nhìn thấy ở tư tưởng văn nghệ của đồng chí Trường Chinh vừa có tính chất quan điểm sâu sắc, vừa có tính chất học thuật phong phú như vậy. Xét ở góc độ lịch sử, quả có một số vấn đề, đồng chí đã đề xuất sớm hơn so với một số thành tựu hiện đại của lý luận văn học mác xít nước ngoài.

Theo dõi tiến trình của lý luận văn học mác xít hiện đại ở nước ngoài vào cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ XX, thấy dần dần người ta đi đến chỗ xem tính đảng là một phạm trù tư tưởng - thẩm mĩ. Nhưng ngay năm 1962, đồng chí Trường Chinh đã viết:

“Một tác phẩm văn nghệ có tính đảng là một tác phẩm thể hiện chân thật cuộc sống muôn màu muôn vẻ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và dưới ánh sáng đường lối của Đảng... Tác phẩm có tính đảng còn phải là một tác phẩm có tính nghệ thuật cao” (2).

Có thể thấy tính đảng được quan niệm như là sự tổng hòa - mặc dù không đánh đồng - giữa tính tư tưởng, tính chân thật và tính nghệ thuật. Tính đảng không thể là sự chuyển dịch thẳng phạm trù tư tưởng chính vào trong văn nghệ, mà phải nhuần nhuyễn thành một phạm trù tư tưởng - thẩm mĩ. Ở đây, tuyệt nhiên không hề có chuyện yêu cầu tính nghệ thuật phải bao hàm tính đảng, mà hoàn toàn ngược lại, chỉ đặt vấn đề tính đảng không thể tách rời, mà phải bao hàm tính nghệ thuật mà thôi. Cách nhìn trên của đồng chí Trường Chinh giúp chúng ta đoạn tuyệt với lối lý giải tính đảng trong văn học, nghệ thuật sặc mùi “Văn dĩ tải đạo” của Tống Nho, chỉ chuyên đi minh họa đường lối chính sách, bất chấp phẩm chất chân thật và thẩm mĩ của nó.

Về đặc điểm dân tộc trong văn học, nghệ thuật, Đảng ta có lúc sử dụng công thức của Xtalin được nêu ra từ năm 1925: “Nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc”. Nhưng từ nửa sau thế kỷ này, nhất là giữa những năm 70 trở đi, giới báo chí Xô Viết mới bộc lộ rõ những ý kiến khác. Thí dụ trong bài Tính dân tộc và tính quốc tế trong mỹ học hiện thực xã hội chủ nghĩa, sách Những vấn đề văn học, nghệ thuật (M.1974), Vư-khốt-xép đã có thể viết: “Trong nghệ thuật, nội dung là sự thống nhất các yếu tố tư tưởng và thẩm mĩ. Nếu cơ sở thực tế của nội dung có tính dân tộc (mà điều này thì ai cũng thừa nhận) tức là các tính cách, phong tục, tập quán... thì tính dân tộc tham gia ngay vào bản thân khái niệm nội dung của nghệ thuật” (3). Nhưng từ rất sớm, đồng chí Trường Chinh nhìn nhận phẩm chất dân tộc trong văn học, nghệ thuật không phải chỉ trên bình diện hình thức. Ngay khi khởi thảo Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) đồng chí viết: “Văn hóa mới Việt Nam là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc và tân dân chủ về nội dung”. Trong bài Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này (1944), đồng chí lại viết: “Dân tộc hóa... phàm cái gì chống lại tinh thần dân tộc, độc lập và thống nhất, phải thẳng cánh đập tan”. Trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947) lại viết: “Cả về hình thức và nội dung văn hóa, cái gì trái với dân tộc, khoa học và đại chúng, thì gột bỏ đi”. Trong báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948), đồng chí cũng nói: “Để phát triển tính chất dân tộc trong văn hóa, chúng ta tích cực tuyên truyền kháng chiến chống thực dân Pháp, đem cuộc công kích bằng bút và lời phối hợp với cuộc công kích bằng vũ khí”... Có thể thấy, đến năm 1960, trong Nghị quyết Đại hội III của Đảng ta, đã đổi lại thành công thức: “Nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc”, không phải là ngẫu nhiên, mà có chuẩn bị từ trước và cách nhìn của đồng chí Trường Chinh là một cơ sở.

Về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, quan niệm “hệ thống thẩm mỹ mở” của Viện sĩ Mác-côp được xem như một thành tựu hiện đại của lý luận văn học Xô Viết những năm 70 (thế kỷ XX). Nhưng ngay từ đầu những năm 60, tuy với một cách diễn đạt khác, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa thu hút và bao dung những yếu tố tích cực của những phương pháp khác, chẳng hạn như phương pháp lãng mạn, phương pháp tượng trưng. Chủ trương ấy nhằm khuyến khích văn nghệ sĩ ta sáng tạo, tìm ra những cái mới, làm cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa phát triển và phong phú thêm”. Cuối những năm 60, đồng chí lại giải thích bổ sung cho rõ hơn: “Nếu coi phương pháp là một sự áp dụng nhận thức mác-xít lê-nin-nít vào sáng tác nghệ thuật thì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác của những anh chị em văn hóa theo thế giới quan mác-xít... Nếu coi phương pháp là cách làm, cách suy nghĩ, cách phản ánh hiện thực, xây dựng điển hình, thì có thể có nhiều phương pháp”.

Lý luận văn nghệ của đồng chí Trường Chinh có những biểu hiện đi trước thời gian, nghĩa là mang tính hiện đại như vậy, nhưng lại vẫn tiếp nối được với những truyền thống dân tộc. Một số ý kiến của đồng chí có sự gặp gỡ với ông cha không những ở quan niệm, cách suy nghĩ, mà có ở phương cách và hình thức diễn đạt. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và cả Nguyễn Ái Quốc nữa, đã làm thơ nói về sứ mệnh của nhà thơ, nhà văn cùng tác phẩm của họ phải trở thành chiến sĩ, thành mặt trận, thành vũ khí cứu dân cứu nước. Bản tuyên ngôn thơ ca cách mạng Là thi sĩ của Sóng Hồng đã nối tiếp truyền thống đó:

“Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới/ Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng/ Để tâm hồn dào dạt với Chi Lăng/ Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt...”

Có thể thấy, truyền thống lý luận thơ văn bằng chính thơ văn chảy xiết một dòng mạch dân tộc này rất da diết với Sóng Hồng. Cuối cùng, một điều không kém phần quan trọng là Đảng ta nói chung cũng như đồng chí Trường Chinh nói riêng luôn luôn nghiêm khắc nhìn lại những sai sót trong đường lối cũng như trong lý luận của mình. Trong Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957) có khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng về mặt văn nghệ đã có những thiếu sót về đường lối và chính sách” (4). Cũng vậy, với tư cách người khởi thảo Đề cương văn hóa Việt Nam, 40 năm sau nhìn lại, đồng chí Trường Chinh đã phát biểu: “Đề cương văn hóa Việt Nam không dài, có nhiều hạn chế, vì trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Trung ương chưa đủ điều kiện nghiên cứu sâu sắc các vấn đề liên quan đến cách mạng văn hóa Việt Nam”. Thái độ thực sự cầu thị này còn thấy biểu hiện trong cách nhìn lại một số luận điểm lý luận hoặc nhận định về một tác phẩm cụ thể. Trong lời Cùng bạn đọc của tập thơ Sóng Hồng (Văn hóa, H.1967) có định nghĩa: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng”, nhưng khi vào tập sách này, đồng chí đã bỏ hai chữ “bậc nhất” đi cho chính xác hơn. Đồng chí cũng không cho công bố bài phát biểu trong dịp kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du vào năm 1965, trong đó có nhận định Truyện Kiều được viết theo chủ nghĩa hiện thực phê phán... Tất cả những biểu hiện trên chứng tỏ đồng chí Trường Chinh, cũng như Mác - Ănghen trước kia, muốn khuyến cáo mọi người, nhất là những thế hệ mai sau không nên máy móc bám vào từng câu chữ trong bất cứ luận điểm cụ thể nào của mình. Quả vậy, ngày nay, miễn là thành tâm tuân thủ tư tưởng cơ bản của đồng chí Trường Chinh cũng như các lãnh tụ khác của Đảng là đem gắn bó công tác văn nghệ vào sự nghiệp của Tổ quốc và nhân dân, thì hoàn toàn có thể và nên bàn bạc lại một số ý kiến cụ thể nào đó. Thí dụ, trong Thư gửi anh chị em họa sĩ ngày 18 tháng 12 năm 1951 có viết: “... Nghệ thuật có đại chúng hóa mới có thể đồng thời là nghệ thuật tuyệt tác, và nghệ thuật càng tuyệt tác chừng nào, càng đại chúng hóa chừng nấy”. Thật ra, lịch sử nghệ thuật của nhân loại và dân tộc không phải lúc nào cũng cung cấp luận cứ cho việc xem tính đại chúng là điều kiện tiên quyết của những kiệt tác. Những họa phẩm của Lê-o-na dơ Vanh-xi, Ram-bran-tơ, những bản nhạc của Pa-ga-ni-ni, những bức tượng của Tho-van-xen... không phải mang tính đại chúng. Và đại văn hào L.Tôn-xtôi, mặc dù Lê-nin cho rằng: “Ông đã có thể đạt tới trình độ nghệ thuật khiến cho những tác phẩm của ông đã chiếm một trong những vị trí hàng đầu trong nền văn học thế giới”, nhưng theo Người thì lúc đó “L.Tôn-xtôi - nghệ sĩ, thì ngay ở Nga cũng chỉ có một số rất ít người biết đến” (5). Có thể dẫn ra thêm một số ý kiến khác như: “Tuyên truyền cao tới một mức nào đó thì tuyên truyền trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt là tuyên truyền”; đề tài, chủ đề, cách thể hiện rõ ràng, đó là biểu hiện của tính đảng, tính nhân dân trong văn nghệ”... Khoa học, nhất là khoa học về nghệ thuật là một lĩnh vực tế vi, không thể có chân lý cuối cùng. Tiếp tục bàn bạc lại những ý kiến trên một cách nghiêm túc, thành tâm, luận cứ đầy đủ, luận chứng chặt chẽ, lại với động cơ góp phần xây dựng một nền lý luận văn nghệ dân tộc - hiện đại gắn chặt với sự nghiệp vĩ đại làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, thì tin chắc rằng, chỉ riêng với tư cách là một bậc tiền bối, đồng chí Trường Chinh đã sẽ rất vui mừng cảm thấy con cháu đã khôn lớn, các thế hệ cách mạng đời sau đã trưởng thành thêm một bước.

Niềm tin ấy sẽ được củng cố thêm bội phần, nếu chúng ta không quên rằng, bình sinh, lúc cuối đời, khi trở lại cương vị Tổng Bí thư, thì chính Chủ tịch Trường Chinh là người thay mặt Đảng khởi xướng sự nghiệp đổi mới mà nhân dân đã tiến hành một cách thắng lợi trong mọi lĩnh vực trong hơn 30 năm qua.

                                                                                                                   P.L

 

1. Về văn hóa, nghệ thuật, tập II, Nxb Văn học, H. 1986 tr. 159 - 173.

2. Về văn hóa, nghệ thuật, tập II, Nxb Văn học, H. 1986 tr. 115.

3. Trích lại từ Nghiên cứu nghệ thuật số 5/79, tr.35.

4. Về Văn hóa, văn nghệ - Nxb Văn hóa, H. 1976, tr.10.

5. Bàn về văn hóa, văn học, Nxb Văn học, H.1977, tr.258.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.