NỘI DUNG CHI TIẾT
SỐ CÔ THÙY
4/14/2017


                                         Truyện ngắn dự thi của TRIỆU HỒNG

 

Khi tôi lên mười thì cô Thùy mười tám, ra đường mọi người vẫn lầm tưởng đó là hai chị em, chứ không phải là cô cháu. Cô có vóc người nhỏ nhắn, chắc khỏe, khuôn mặt trái xoan và nụ cười tươi xinh. So với cô Mận, cô Thắm, cô Lương xóm Đồi thì cô Thùy đẹp, duyên dáng hơn. Vì thế ông Mười có con trai tên là Bảo đi bộ đội, cứ đến chơi nhà ý muốn xin cô Thùy về làm dâu con. Khi ông tôi nghe ông Mười ngỏ lời thì nói:

- Bây giờ thời mới rồi, cứ để các cháu nó tìm hiểu nhau, yêu nhau, đồng ý kết hôn với nhau thì hai anh em ta mời cả làng lên trụ sở xã, dự đám cưới đời sống mới, làm một chén rượu nhạt là xong. Tôi với ông chẳng phải lo gì, ngồi vỗ tay mừng hạnh phúc của hai con. Hai đứa nên vợ nên chồng là vui sướng nhất đời rồi, phải không ông?

    Ông Mười nghe nói thì phấn khởi vô cùng, đứng lên vái ông tôi ba vái. Nhưng anh Bảo đi chiến trường miền Nam mãi chẳng thấy về, nên lời ông Mười cũng thành phôi phai, chẳng ai đả động gì nữa, lại có tin đồn là anh Bảo đã hy sinh ngoài chiến trường.

Thời đó thanh niên nông thôn có phong trào ba sẵn sàng, chỉ cần ghi tên là xã đội, huyện đội có thể gọi đi thanh niên xung phong, hay nhập ngũ vào bộ đội bất kỳ lúc nào, đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần. Cô Thùy hăng hái viết đơn đi thanh niên xung phong, xã đội đã ghi tên, chờ có đợt là cô lên đường. Nhưng ông tôi, từ chỗ đồng ý cho cô đi, bỗng không cho cô đi nữa. Chú Sang là xã đội trưởng, là cháu họ của ông nội, nên chiều ý ông tôi cho cô Thùy ở nhà, bảo rằng gia đình đã có ba con đi bộ đội rồi thì cô Thùy phải ở nhà giúp đỡ gia đình. Xóm Đồi chỉ có hai người là cô Mận và cô Lương được đi đợt ấy.

Cô Thùy không được đi cùng rất buồn, nhưng nghĩ đến hoàn cảnh gia đình mình neo đơn nên cô yên tâm ở nhà làm hợp tác và giúp đỡ bố mẹ, anh chị và các cháu nhỏ.

Bố tôi là con trưởng đi bộ đội ở xa nhà, hàng năm mới về phép một lần, nên mẹ và ba con ở nhà chung với ông bà nội. Ông bà đã ngoài sáu mươi rồi, không được khỏe thường ốm đau, nên mẹ tôi phải nai lưng ra làm công việc nhà với công việc hợp tác. Tôi thương ông bà nội và rất thương mẹ, thương cô. Tuy nhỏ tuổi nhưng tôi cũng ý thức làm việc giúp gia đình như chăn trâu, cắt cỏ, trông em, quét nhà. Cô Thùy thường khen tôi chăm ngoan, cô nói:

- Sau này, cô sẽ được thằng cháu thương yêu, chăm sóc như cha mẹ mình!

Tôi còn nhỏ nhưng đã biết trả lời:

- Cô đi lấy chồng, có con thì nhờ gì đến cháu. Chồng cô, con cô sẽ lo cho cô nhiều.

Lúc ấy cô Thùy có vẻ nghĩ ngợi, nói:

- Biết đâu ông trời chẳng cho được thế, thì cháu phải lo cho cô chứ sao!

Khi ấy tôi nhớ tới cụ Tâm trong xóm, cụ cũng có chồng con nhưng chồng con chết cả, về sau ở với người em trai. Khi em trai mất thì ở với ông Lân gọi cụ Tâm bằng cô. Đến khi cải táng, ông Lân xây cho cụ ngôi mộ thật to. Tôi nghĩ đến hoàn cảnh cô đơn của cụ Tâm thì nói cho cô yên lòng:

- Nếu trời chẳng cho cô cái số giầu sang mà phải chịu cảnh  như cụ Tâm xóm ta thì cháu sẽ lo cho cô như ông Lân, cô thấy có được không nào?

Cô Thùy ôm tôi vào lòng âu yếm vuốt mái tóc tôi. Hình như lúc ấy cô khóc, vì thấy nước mắt cô nhỏ trên má tôi nóng hổi. Tôi âm thầm thương cô bằng sự chăm lo và thăm hỏi thường xuyên khi cô đi lấy chồng tận bên chợ Mè.

Cơ duyên cô Thùy đi lấy chồng xa là do vào một buổi chiều giông bão, có hai bố con người lái trâu đi mua trâu trong rừng, đánh trâu qua xóm Đồi. Trời mưa to, đường ngập lênh láng, nước sông Thao chảy ầm ầm. Về chiều tối, trâu không chịu đi, đành vào nhà dân xóm Đồi ngủ tạm, chờ cho trời sáng, tạnh mưa thì lùa trâu về. Không biết tại sao hai con trâu đi đường lại nhằm vào nhà tôi. Cô Thùy thấy trâu lạ, vội đội nón ra lùa giúp hai con trâu vào chuồng. Nhà ông tôi vốn có cái chuồng trâu ba gian, trước lúc vào hợp tác xã có ba con trâu; mấy năm vào hợp tác, trâu nhà phải phân cho người khác chăm nom, cầy bừa. Sau trâu bị bệnh sưng chân chết mất hai con, còn lại một con trâu cái già. Mấy hôm nay, ông Sinh người cùng đội sản xuất đánh trâu bừa chằm. Cả trâu, cả người ngủ lại trong rừng, chuồng trống vắng, vì thế hai con trâu lạ gặp ngay sự yên bình.

Ông tôi thấy người lạ, biết là lái trâu nhưng vẫn coi như là khách quý đến nhà. Sai cô Thùy nấu cơm, đích thân ra chuồng bắt gà mổ để đãi khách. Bà nội tôi hôm đó bị ốm phải nằm trên giường, mẹ tôi thì bận việc trông thằng cu Tý nên chẳng giúp việc gì. Ông Khung, tên người bố và chú Thiều tên người con, cả nhà nghe ông bố giới thiệu thì nhớ ngay. Ông Khung còn mở giấy tờ cho ông tôi xem, biết là người của Hợp tác xã mua bán chợ Mè, vào Thanh Sơn mua trâu về thịt. Hai người ra giếng khơi tắm rửa rồi vào nhà ngồi uống nước. Thấy hai cô cháu tất bật lo cơm nước, chú Thiều liền đứng dậy xuống bếp giúp hai cô cháu giết gà. Con gà mái nặng hơn hai cân mà chú Thiều nấu nước, cắt tiết, vặt lông, mổ, chặt thịt, làm lòng chỉ một loáng là xong. Cô Thùy và tôi trầm trồ khen cách làm thịt gà điêu nghệ của người con trai làng Mè.

Bữa cơm tối hôm đó rất vui, hai mâm cơm được cô tôi bưng ra bày trên hai cái phản kê giữa gian bên. Đèn hoa kỳ thắp sáng, cả nhà và hai người khách cùng ngồi ăn cơm. Tôi được ưu tiên ngồi mâm trên cùng với ông nội, ông Khung, chú Thiều, mâm bên có mẹ tôi, cô Thùy và hai thằng em tôi. Bà nội tôi bị ốm, cô tôi phải mang cơm vào buồng cho bà ăn trước rồi.

Ông tôi mang hũ rượu ngâm củ sâm nam mời ông Khung và chú Thiều cùng uống. Mâm cơm bày thêm đĩa thịt gà, đĩa cá diếc nướng, đĩa rau măng luộc chấm tương có thể đã là sang hơn mọi ngày. Cô Thùy khéo tay làm thêm món đu đủ xào lòng gà, món canh khoai sá nấu xương ăn với cơm trắng càng thêm đậm đà. Ông tôi và ông Khung hợp nhau vừa ăn vừa nói chuyện vang nhà. Ông nội tôi khoe có ba con tòng quân đánh Mỹ, ông Khung khoe từng chỉ huy một khẩu đội phòng không bắn bị thương một chiếc  “thần sấm”, khi chúng tới ném bom thị xã Phú Thọ. Ông nói là sẽ cho chú Thiều đi bộ đội, chú đã học xong cấp 3 bổ túc rồi. Hợp tác xã mua bán đang cử làm kế toán trưởng nên còn được giữ ở nhà làm sổ sách, không có kế toán thì hợp tác xã mua bán không hoạt động được. Bao giờ có người thay làm kế toán thì cấp trên sẽ gọi chú Thiều tòng quân.

Bữa hôm đó, cô tôi ngồi đầu nồi, luôn tay xới cơm và xơi cơm cho mọi người ở hai mâm. Chú Thiều chỉ quen đơm cơm bằng muôi không quen đơm cơm bằng đũa cái, nên phải nhờ cô Thùy xơi cơm vào bát cho ông Khung và ông nội và cả bát của tôi nữa. Thấy cô Thùy nhanh nhẹn, ông Khung khen:

- Nhà nào mà được cháu về làm dâu con thì còn hơn bắt được vàng!

Ông nội tôi thì cười:

- Không khéo thì ế! Trong làng, trong xóm, những chàng trai khỏe mạnh đi bộ đội, đi thanh niên xung phong chống Mỹ hết cả rồi. Con gái có thì, hết thời thì làm bà cô thôi!

Trong lúc thấm hơi men, ông tôi nhìn chú Thiều nói oang oang:

- Anh Thiều thích em Thùy thì tôi cho không đấy! Sớm mai, tôi cho em nó theo anh cùng đánh trâu về nhà, khỏi phải cưới cheo gì phiền phức. Ông Khung nghe ý kiến của tôi thế nào? Nếu ông đồng ý thì duyệt đi cho tôi mừng!

Ông Khung chỉ cười không nói gì, tôi nhìn chú Thiều và cô Thùy nghe ông nội nói đều xấu hổ má đỏ như quả hồng chín cây.

Thằng Biên nghe ông nội nói cũng reo lên:

- Cô Thùy đi lấy chồng thì anh em cháu ngủ với nhau. Anh Bình sẽ dắt em đi đái đêm, chẳng có cô ngủ cùng thì đã có anh Bình, cháu chẳng sợ con ma nào nữa đâu.

Cả nhà nghe thằng Biên nói thì cùng cười vang, không khí tươi vui hẳn lên, chẳng ai nhớ là ngoài trời đang mưa to.

Ông nội tôi tuy say rượu nhưng vẫn nhớ dặn cô Thùy:

- Lát nữa, dọn dẹp xong nhớ xuống chuồng trâu đóng văng vào, ra cây rơm moi cho hai con trâu vài bó rơm cho chúng nhai đỡ phá chuồng!

Ăn cơm xong, tôi đưa thằng Biên vào nhà, thắp đèn học bài, mẹ tôi đưa thằng Ban còn gọi là cu Tý đi nằm. Ông nội và ông Khung thì còn ngồi uống nước và nói chuyện. Cô Thùy thì rửa bát, sắp xếp nồi niêu, củi đuốc, bếp núc. Mọi việc có chú Thiều giúp đỡ nên làm rất nhanh. Cô còn nhớ lời ông nội, đội nón ra chuồng trâu, đóng văng và moi rơm cho hai con trâu ăn. Xong mới đi tắm táp; giếng đồi rất sâu, nên chú Thiều phải kéo nước hộ. Đêm đó, chú Thiều và cô Thùy xoắn xuýt bên nhau như là đôi nhân tình yêu nhau từ lâu. Nửa đêm, tôi thức giấc nghe thấy tiếng chú Thiều:

- Em lấy anh thì anh sẽ lo cho em trọn đời. Trước mắt thì lo em làm ở Hợp tác xã mua bán chợ Mè, nơi bố mẹ và anh đều là xã viên.

- Nhưng em chỉ quen làm ruộng không biết buôn bán.

- Rồi em sẽ làm quen, chẳng khó khăn gì! Em biết tính toán là được, em mà tinh thông thì có thể thay anh làm kế toán cho hợp tác xã.

- Nhưng chức danh đó phải được xã viên bầu và ban quản trị thông qua!...

Đó là câu chuyện của cô chú Thùy Thiều nói với nhau trong đêm đầu tiên khi họ mới gặp nhau. Thế mà sau đó họ nên vợ nên chồng. Ông Khung thấy con trai yêu cô Thùy thì đồng ý ngay. Khi ông nói chuyện với bà Khung ở nhà thì bà cho rằng là duyên số của con trai. Trời bỗng nhiên đổ cơn mưa to, trâu lồng lên đi vào chuồng ở nhà ông Tính cho con bà gặp người con gái đẹp mà nên vợ nên chồng.

Một tuần sau, chú Thiều lại sang gặp cô Thùy và hai người thưa chuyện với ông bà nội tôi là đã thương yêu nhau, mong bố mẹ hai bên gia đình và hai họ tác thành cho. Ông tôi hỏi tuổi của chú Thiều, chú thưa năm nay vừa tròn 22 tuổi. Cô Thùy 21 tuồi, ông tính số và nói là rất tốt, sinh con trai đầu lòng. Nên ông tôi đồng ý cho làm lễ dạm hỏi và tổ chức cưới ngay trong tháng tám, giữa mùa thu.

Lễ dạm hỏi và lễ cưới diễn ra rất trọng thể, được hợp tác và chính quyền cả hai nơi nhiệt tình giúp đỡ nên mọi việc diễn ra suôn sẻ. Ngày đưa cô tôi về nhà chồng, hợp tác xã xóm Đồi và hợp tác xã mua bán làng Mè tổ chức đón đưa rất rầm rộ, rất đông vui. Tôi cũng đi đưa dâu sang tận làng Mè, thuyền đậu kín cả bến Đoan. Đám cưới được tổ chức theo đời sống mới, nhưng ông bà Khung vẫn tổ chức ăn uống linh đình, cốt để được lòng nhà gái và cho thỏa  lòng hai con.

Hôm đó, cô tôi mặc áo trắng, quần láng đen với mái tóc dài, khuôn mặt trái xoan và dáng người chắc khỏe, đội nón trắng quai lụa hồng, trông xinh đẹp hơn các cô gái chợ Mè. Chú Thiều mặc bộ đồ âu, quần ka ki, áo sơ mi trắng, trông rất rắn giỏi. Hai người đi bên nhau, trông rất đẹp đôi. Ông Ngọc Cầm nghệ sỹ nhiếp ảnh, chụp cho hai người một kiểu ảnh đen trắng. Hình ảnh chú rể, cô dâu hiện lên trên nền phông vải trắng thêu tranh thủy mặc về làng quê. Ảnh được phóng to cho vào khung ảnh lớn, chú Thiều mang sang treo ở tường nhà, đến bây giờ trông hai người vẫn xinh tươi. Ông bà tôi nhìn bức ảnh vợ chồng con gái rất mừng cho hạnh phúc của hai con mình mà tưởng tượng như trời đất tác thành nên.

Đêm đầu tiên khi cô tôi đi lấy chồng xa, tôi ngủ với ông nội. Ông tôi có kể cho tôi nghe về một giấc mơ diễn ra không lâu. Có lẽ vào cái ngày cô tôi đăng ký đi thanh nhiên xung phong, ông nội mơ thấy cô tôi chết cháy ở nơi xa được mọi người đưa về nhà làm ma. Không nhìn thấy máy bay và bom địch thả mà cô tôi cháy hết thân người. Toàn thân bị cháy xám như cái cây bị thiêu đốt với nhiều mảng thân thể vàng như thịt nướng. Dạo ấy người ta hay nói đến các loại bom lân tinh, bom na pan, bom xăng của Mỹ sử dụng trên chiến trường mà những người bộ đội về quê kể lại, nó là thứ vũ khí giã man đã làm chết nhiều người của dân ta. Vì giấc mơ đó mà ông tôi thay đổi ý kiến không cho cô Thùy đi thanh niên xung phong nữa, lấy cái lý do gia đình đã có ba con đi bộ đội, nên đứa con út phải được ở nhà theo chính sách nhà nước mới ban hành. Ông nội nói:

- Âu cũng là cái duyên số trời se mà cái Thùy mới có hạnh phúc như thế! Từ bây giờ, ông không phải lo con gái chết cháy nơi chiến trường đầy bom đạn.

Tôi thấy ông tôi mừng lắm thể hiện qua giọng nói, làm tôi cũng cảm thấy vui lây. Tưởng như cô Thùy vừa thoát nạn, mới được trở về cuộc sống hạnh phúc trong một thế giới yên bình, không có chết chóc tang thương.

Từ chợ Mè về xóm Đồi với đoạn đường không xa, sang đò Ngọc Tháp về xóm Đồi chỉ khoảng hơn 5 km. Nên cô Thùy hàng tháng vẫn xin phép ông bà Khung về thăm nhà, có lần hai vợ chồng cùng về, nhưng nhiều lần cô về một mình. Lần nào về cô cũng mang cho xếp bánh tai đặc sản và những mảng da trâu bọc trong móm cọ. Cô tôi bảo:

- Đó là quà của ông bà Khung gửi cho bố mẹ và con cháu nhà ta. Da trâu không phải là những thứ bỏ đi, nếu biết chế biến thì thành món ăn tuyệt hạng.

Ông tôi là người biết làm, lấy rơm rạ đốt lên thui những mảng da trâu to dày rồi lấy dao sắc cạo hết lông, thái nhỏ, ngâm dấm chua, nấu với tỏi, hoặc luộc chín, thái mỏng trộn thính gạo thành những món ăn rất ngon. Dạo đó thực phẩm thịt cá khan hiếm, được vài miếng da trâu mà nhai cũng có thể nuốt được hàng bát cơm trộn sắn khoai. Lâu lâu mà không thấy cô Thùy thăm nhà, tôi lại ngồi mong cô xách móm da trâu từ chợ Mè về.

Một năm sau, cô tôi sinh được đứa con trai đúng như số tử vi mà ông tôi đã bấm tính. Hết tuần ở cữ, cô Thùy và chú Thiều xin phép ông bà Khung cho sang nhà ông bà ngoại chơi. Cả nhà tôi ai cũng mừng vui, thấy đứa bé trai đỏ hỏn, gói trong tã và chăn đơn màu hồng. Cô chú đặt tên nó là Thắng, họ và tên khai sinh là Trần Đức Thắng. Vào tháng một chạp, trời rất rét, ông tôi phải lên đồi đẵn củi và tôi đã biết đi theo gánh củi về xếp vào bếp để đốt lên cả nhà cùng ngồi sưởi ấm.

Em Thắng sẽ lớn lên trong tình thương yêu của bố mẹ, của ông bà nội ngoại và sự đùm bọc, chở che của những người anh em thân thích xóm Đồi. Nếu không có những biến động về thời cuộc với những đổi thay thế thái nhân tình, cô Thùy và cháu Thắng sẽ có cuộc đời hạnh phúc ấm êm. Nhìn cô Thùy ôm con trai nằm ngủ trên giường bà, mọi người trong nhà tôi có cùng suy nghĩ như thế.

Cô Thùy là người phụ nữ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tháo vát và thông minh. Khi quen việc ở hợp tác xã mua bán, ban quản trị cử cô Thùy thay chú Thiều làm kế toán trưởng, chú Thiều lên làm phó ban quản trị. Khi ấy cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ vào giai đoạn quyết liệt nhất, miền Bắc phải dồn sức người, sức của cho tiền tuyến. Chú Thiều được động viên vào bộ đội, trước khi lên đường chú dùng xe đạp đưa em Thắng sang chơi chào ông bà ngoại. Thằng bé đã biết chạy nhảy quanh nhà, gọi rõ tên ông bà Tính, bá Lợi, anh Bình, anh Biên, anh Ban.

Trưa hôm đó, hàng đàn máy bay Mỹ kéo đến ném bom thị xã Phú Thọ. Tiếng bom nổ ùng oàng, tiếng những chiếc máy bay “con ma” hạ thấp độ cao gấm rú xé trời, bọn trẻ chúng tôi  phải xuống hầm trú ẩn. Tôi ôm em Thắng xuống một căn hầm, ngay sau nhà. Lúc đầu thì nó sợ, khóc thét lên, sau thấy chúng tôi cười, nó cười theo, không sợ máy bay giặc Mỹ nữa.

Chú Thiều phải về nhà để ngày mai tập trung lên đường nhập ngũ. Chú muốn đưa con về nhà, nhưng ông tôi bảo:

- Để cháu Thắng ở đây chơi, mình anh về thôi. Thị xã lại bắt đầu bị giặc Mỹ ném bom rồi, cuộc chiến này sẽ còn lâu mới yên. Chiều và đêm nay, chúng lại kéo đến đánh phá, đưa trẻ con về lúc này là không ổn. Anh có việc trên gọi thì về, phải nhập ngũ thì cứ an tâm mà đi, vợ con ở nhà đã có ông bà nội ngoại chăm lo. Thằng Thắng đã có các anh nó, sẽ không đòi bố, đòi mẹ đâu. Chiều nay, đêm nay, nó sẽ không khóc, sẽ quen dần thôi.

Chú Thiều ôm lấy con dặn dò:

- Con ở đây với ông bà ngoại và các anh nhé! Mai mốt mẹ sẽ sang đón con về nhà. Bố phải lên đường nhập ngũ và ra chiến trường đánh Mỹ. Ngày chiến thắng thì bố trở về với con, với mẹ con, với ông bà nội ngoại, với toàn thể gia đình và quê hương.

Chú Thiều vừa nói, vừa sụt sịt khóc, nước mắt chảy tràn. Chú đưa em Thắng cho ông tôi bế. Tôi sợ thằng bé đòi theo, tôi nhanh tay bế nó từ tay ông nội, chạy một mạch ra hầm trú ẩn. Hai đứa em chạy theo, một chiếc “con ma” của Mỹ rèn rẹt trên đầu, vung bom xuống thị xã. Tiếng bom, tiếng súng cao xạ của ta bắn trả nổ ùng oàng vọng về xóm Đồi. Khi yên tôi bế em Thắng ra khỏi hầm thì chú Thiều đã ra cổng trở về bên thị xã rồi. Ngày hôm sau, chú Thiều nhập ngũ và sau đó lên đường vào Nam đánh Mỹ.

Trong chiến tranh, trẻ con cũng quen dần với cuộc sống khó khăn. Chúng tôi sống thế nào thì em Thắng cũng phải chịu cảnh như thế. Chúng tôi thiếu quần áo, thiếu chăn đắp, ăn uống thiếu thốn cũng đành phải chịu và thành quen. Em Thắng cũng không đủ quần áo phải mặc lại cả đồ cũ của anh em chúng tôi. Không có cơm ăn phải ăn khoai, ăn sắn, ăn ngô, chuối luộc; không có thịt cá phải ăn thêm rau dưa, rau tập tàng, cốt là no bụng. Cũng may sức khỏe của em Thắng rất tốt, ít ốm đau, nên ông bà nội ngoại và cô Thùy đỡ vất vả.

Bố tôi trước ở Hà Nội nay đã nhận lệnh đi B dài, hai chú tôi nghe nói đã vào tới miền Đông Nam Bộ, nên không có tin tức gì. Chú Thiều đã lên đường vào Nam, cũng không thấy thư từ gửi về. Chiến tranh ngày càng ác liệt, chỉ thấy người đi mà ít thấy người trở về. Ông tôi nhiều lúc buồn rười rượi, chắc là ông đang lo lắng cho cả bốn đứa con đi chiến đấu. Ông nói với bà:

- Chắc là cả bốn đứa nhà mình đi “Cà Mâu” rồi!

Bà tôi không hiểu thì hỏi:

- Ông nói đi “Cà Mâu” là đi tận đâu?

Ông trả lời bà giọng như khóc:

- Đi “Cà Mâu”, là đi “Cà... Mâu...”, bà... chưa biết... à!

Nghe giọng ông, bà chợt hiểu ra, miệng mếu máo như muốn khóc to, nhưng sợ cháu con buồn bà phải nuốt nước mắt vào trong ruột gan. Ông bà tôi và mẹ tôi khi ấy, chẳng ai biết mũi Cà Mâu ở đâu. Vì ông bà nội và mẹ tôi không được học địa dư bao giờ, thậm chí còn chưa nhìn thấy tấm bản đồ đất nước Việt Nam nó như thế nào. Tôi biết vậy, nên vội đọc hai câu thơ: “Tổ quốc ta như một con tàu/ Mũi tàu ta đó mũi Cà Mâu”. Nghe tôi đọc, bà tôi bình tĩnh lại:

- Như thế là bố cháu và các chú của cháu đi rất xa, rất xa phải không?

- Vâng, thưa ông bà! Cà Mâu là một dải đất ở cực nam đất nước ta, ở đấy mênh mông đồng lúa, bạt ngàn rừng tràm rừng đước, cá tôm nhiều vô kể.

Ông nội nghe tôi nói thì phấn chấn:

- Nếu thực như vậy, thì bố cháu và các chú sẽ không phải chịu cảnh đói khát. Cháu Bình được đi học có khác, biết động viên ông bà rồi đấy. Nhưng đây là cuộc chiến ác liệt nhất, ông dự đoán là nhà mình phải có sứt mẻ, không thể trọn vẹn được đâu. Nói ra để bà cháu, mẹ cháu, cô cháu, các cháu biết phải gồng mình lên mà sống, mà chịu đựng thương vong giáng xuống nhà mình và anh em trong xóm, trong làng ta.

Chỉ sau buổi đó ít ngày, chú Hiệp có giấy báo tử của đơn vị gửi về. Ủy ban xã và xã đội đến làm lễ tại nhà và trao bằng “Tổ quốc ghi công”. Người làng, người trong xóm, anh em nội ngoại, gia đình tham gia, tới thăm viếng, chia buồn rất đông. Ông bà tôi đau đớn lắm, lặng câm như đá, chỉ biết vái tạ, chứ không nói được lời nào. Ông Bằng trưởng họ Nguyễn phải đứng ra chào, nói hộ lời cảm ơn và đưa tiễn mọi người ra về.

Ngày hôm sau, ông bà Khung, cô Thùy, thằng Thắng đi bộ sang thăm hỏi, chia buồn. Ông tôi hỏi thăm tin tức về chú Thiều. Ông bà Khung và cô Thùy nói là chưa nắm được tin tức gì. Nghe chuyện, vẻ mặt ông tôi càng buồn hơn và thở dài:

- Đau đớn lắm ông bà ơi! Thằng Hiệp nhà tôi nó bỏ bố mẹ đi rồi! Còn ba đứa nữa cũng khó mà trở về đầy đủ.

Ông Khung tỏ ra cứng rắn hơn:

- Việc đến đâu biết đến đấy ông à. Cháu Thiều đã vào cuộc chiến, hòn tên mũi đạn nó tránh được là phúc, chẳng may mà ngã xuống thì hai gia đình chúng ta phải chịu thiệt, chịu đau thương chứ kêu ai được. Dẫu sao, chúng ta phải cố gắng sống để chờ ngày toàn thắng.

Lúc đó, cô Thùy ôm con nằm khóc anh Hiệp ở trong nhà. Tôi nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, nước mắt chảy tràn ra khuôn mặt. Bà tôi phải khuyên:

- Phải cứng rắn lên con ơi! Biết đâu số phận con người, trời cho được thì được, trời bảo mất thì mất, kêu ai hả con.

Thằng Thắng ôm chầm lấy mẹ, tôi phải vào gỡ tay nó ra, bế nó đi chơi sau nhà. Nó đã quen tôi, quý tôi, nên bắt đầu chơi đùa cùng với các em tôi. Ngày ấy, không có bóng nhựa, tôi phải lấy lá chuối, dâu tơ chuối kết thành những quả bóng để chơi bóng đá trên sân nhà. Thằng Thắng cũng rất thích bóng đá, mải mê chơi, không biết, ông bà Khung về nhà lúc nào. Cô Thùy xin phép bố mẹ chồng, ban quản trị hợp tác nghỉ mấy hôm về chịu tang anh trai. Có cô Thùy ở nhà, cảnh nhà vơi đi nỗi buồn sầu. Chú Hiệp chưa lấy vợ, lại đi bộ đội từ lúc mười tám tuổi, nên mọi người cứ tưởng chú chưa chết, chỉ mới đi xa.

Rồi vào một ngày đầu năm 1973, chúng tôi đi học tại trường làng, được nghe thông báo Hội nghị Pari đã được ký kết. Mỹ cam kết rút hết quân, công nhận nước Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Chú Bảo con trai ông Mười, bị bọn Mỹ ngụy bắt đầy đi Côn Đảo được  bên ta đón về điều dưỡng và cho về thăm nhà. Khi về thì ông Mười đã chết hai năm rồi. Bình đến chơi, thấy chú Bảo ngồi khóc bố, trông cảnh ấy thật là thương.

Ngày xưa, người ta đồn chú bị hy sinh, ông Mười thương con quá suy kiệt thể xác và tinh thần mà chết. Khi sống, ông có ngỏ nhời dạm cô Thùy cho con trai. Nhưng chẳng thấy con trai về, lại có tin đồn thất thiệt, nên chuyện đó trôi nhanh vào dĩ vãng, chỉ có người trong gia đình ông nội tôi còn nhớ. Mấy ngày sau, chú Bảo đến thăm ông bà tôi, chia buồn việc chú Hiệp bị hy sinh. Chú Bảo nói lại chuyện gặp chú Hiệp tại mặt trận Tây Ninh, khi ấy chú tôi đã làm đại đội trưởng một đại đội bộ binh. Anh em còn kịp ăn với nhau một bữa cơm, ngủ với nhau một đêm, ngày hôm sau cùng vào mặt trận, chú Bảo bị địch bắt và chú Hiệp thì bị hy sinh.

 Chú Bảo hỏi thăm cô Thùy, ông tôi phô:

- Em nó đi lấy chồng ở tận bên chợ Mè, sinh được một được đứa con trai hơn ba tuổi rồi. Chồng nó cũng đi bộ đội chiến đấu ở trong Nam, chưa nhận được tin tức gì.

Chú Bảo thực thà kể:

- Ngày xưa cháu với Hiệp chơi thân với nhau, nó bảo cháu sau này lấy em Thùy làm vợ phải gọi nó bằng anh. Khi đi bộ đội, cháu cũng muốn nói với em Thùy, nhưng sợ em Thùy không chờ đợi được, nên không dám nói.

Ông tôi nghe chuyện cảm động lắm, nói như trách chú Bảo:

- Thế mà cháu không mạnh dạn nói với bác và em Thùy! Biết trước bác sẽ không cho em Thùy đi lấy chồng xa, nó phải chờ đợi cháu đến cùng chứ. Thôi bây giờ mọi sự đã rồi, cháu lại phải tìm mối khác. Con chị nó đi, con dì nó lớn, thiếu gì con gái, nhưng cốt phải tìm được người tâm đầu ý hợp lấy làm vợ thì cuộc đời mới bình yên, hạnh phúc. Bây giờ, cháu phải tính đến công việc, đến nghề nghiệp song hành với việc tìm bạn trăm năm.    

Buổi đến chơi hôm đó, chú Bảo đưa cho ông tôi một tấm ảnh của chú Hiệp chụp từ thời học sinh và dặn ông tôi:

- Cháu tìm thấy tấm ảnh này ở trong tập vở, cháu mang sang đưa cho bác, bảo em Thùy đến hiệu ảnh, làm một tấm ảnh thờ anh trai là liệt sỹ. Thợ ảnh sẽ biết mà làm cho gia đình ta, bác không phải đi sang thị xã làm gì nhé.

Mấy hôm sau, cô Thùy về vào nhà chú Bảo, có đưa cô Lương vừa đi thanh niên xung phong về phép cùng đến thăm. Cô Thùy nói với chú Bảo nên lấy cô Lương làm vợ, chú Bảo đồng ý, thế là cô chú Lương Bảo thành vợ chồng. Sau này cô chú sinh được bốn đứa con, hai trai, hai gái rất chăm ngoan và học giỏi. Lần nào, cô Thùy về nhà cũng vào chơi với vợ chồng cô chú Lương Bảo, tình cảm thực là chân thành, nồng thắm.

Năm 1975, quân dân ta thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy, quét sạch ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày ấy, bộ đội ở miền Bắc và quân giải phóng ở miền Nam đều được về thăm nhà. Những cán bộ, chiến sỹ bị hy sinh thì được báo tử. Những người bị mất tích tỉnh đội phải cử người xác minh và nếu hy sinh thì phải báo tử cho kịp thời.

Ngày đó, bố tôi, chú Hòa đều được về phép thăm nhà. Ông bà nội thấy các con trở về và cô Thùy sang nhìn các anh trai còn sống, lành lặn thì rất mừng. Nhưng chú Thiều thì chưa thấy tin. Khi biết chú Thiều nằm trong danh sách những người mất tích thì chẳng ai còn vui. Mãi đến giữa năm 1977, có người lính hải quân quê Cẩm Khê về thăm nhà qua thị xã báo tin chú Thiều đã hy sinh ngoài đảo Thổ Chu. Bị bọn lính Pônpốt tập kích bất ngờ khi quân ta mới giải phóng đảo này chưa kịp chuẩn bị phòng giữ. Đơn vị hải quân vùng IV đang làm giấy tờ, chỉ vài tuần nữa thì cán bộ của Quân chủng Hải quân về cùng với địa phương làm lễ truy điệu và báo tử tại nhà.

Năm ấy, bố tôi được chuyển ngành trở về đơn vị cũ làm việc ở Tòa án thị xã Phú Thọ. Chú Hòa được chuyển sang ngành công an làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, chú xây dựng gia đình và được phân nhà, sinh con ở hẳn trong đó, hàng năm mới xin phép về thăm bố mẹ, người thân một lần. Bình được bố đưa sang học ở Trường cấp III Hùng Vương thị xã Phú Thọ, chỉ chủ nhật mới cùng bố về thăm nhà.

Khi biết đích xác chú Thiều đã hy sinh, ông bà tôi, cô Thùy lại khóc thương dữ dội hơn cả khi chú Hiệp hy sinh mấy năm trước. Bởi một lẽ cô chú Thùy Thiều đã lập gia đình và đã có con trai. Nay chú Thiều hy sinh, cô Thùy hóa chồng, em Thắng trở thành đứa trẻ mồ côi, ông bà Khung mất đi đứa con trai duy nhất của gia đình và ông bà tôi mất đi đứa con rể thảo hiền.

Hôm phường Phong Châu và đơn vị hải quân làm lễ truy điệu và cấp bằng Tổ quốc ghi công. Phía nhà tôi, ông bà tôi, bố tôi và tôi sang nhà ông bà Khung cùng dự lễ. Nhà nhỏ ven chợ Mè không đủ để mấy trăm con người đến ngồi. Tôi phải đứng ngoài sân, nghe rõ bài điếu văn, nói rõ công trạng người hy sinh. Chú Thiều là một chiến sỹ dũng cảm, chiến đấu lập được nhiều thành tích, được thưởng hai Huân chương Chiến công và được phong cấp thượng úy. Nghe đọc điếu văn ai cũng thương tiếc người cán bộ đầy tài năng bị hy sinh. Cảm thương bố mẹ đều già, vợ trẻ, con thơ, các em gái nhỏ phải chịu mất mát, thương đau.

Em Thắng khi đó mới hơn 5 tuổi, còn thơ dại quá, tôi phải cõng em sau lưng. Người nhà chít cho nó vòng khăn tang trắng, ai trông nó khóc bố cũng cảm thấy nỗi đau đứt ruột.  Trong tang lễ, tôi nhìn thấy ông bà Khung đứng lặng yên và bốn người em gái của chú Thiều gào khóc thảm thiết.

Sau buổi lễ đó, ông Khung sức yếu dần, gia đình chăm sóc được ba năm thì qua đời; bên nhà tôi ông nội  cũng mất. Ngày ấy học ở trường cấp III Hùng Vương tôi hay đến thăm cô tôi, biết hoàn cảnh gia đình và làm quen với từng người. Tôi nghe người ta nói bà Khung là xã viên hợp tác xã rất tích cực. Năm nào cũng được bầu là xã viên xuất sắc, bà có tay nghề mổ trâu, mồ bò rất giỏi. Một buổi sáng, bà có thể thịt một con trâu, không cần sự hỗ trợ của ai. Sau này hợp tác mua bán giải thể, ông Khung đã mất, bà và bốn đứa con gái vẫn duy trì lò mổ trâu, mổ bò. Nhiều con trâu nghé, bò tơ bà chọc tiết, thui vàng mang ra chợ Mè bán. Gian hàng của bà bên cạnh gian hàng bán tạp hóa của cô Thùy. Mẹ con cô Thùy vẫn ở chung nhà với bà Khung và các em gái nhưng ăn uống riêng. Bà Khung, cô Thùy và các em ăn ở với nhau rất tốt, không có điều tiếng gì.

Khi có giấy báo tử chồng cô Thùy mới ngoài ba mươi tuổi. Cô vẫn đẹp và còn đẹp hơn những cô gái mới lớn ở thân hình nở nang, tính tình cởi mở, đoan trang, gợi cảm. Nhiều người ở chợ Mè muốn hỏi cô làm vợ nhưng cô đều lắc đầu, có chú Phong bạn của chú Hòa là trung tá công an làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh về chơi thăm nhà, muốn xây dựng gia đình với cô, nói rằng sẽ đưa cô và cháu Thắng vào trong ấy, xin việc cho cô làm và cho cháu Thắng đi học. Nhưng cô Thùy không đồng ý, cô nói còn hai mẹ già, con trai đang đi học, các em gái bên chồng đang tuổi gả chồng và bận việc thờ chồng là Liệt sỹ, nên không thể nhận lời đi bước nữa ở nơi xa.

Thời gian thấm thoắt trôi nhanh, tôi đã học xong đại học, có bằng kỹ sư cầu đường đã lấy vợ và sinh hai con. Mặc dù phải bận công tác, tôi vẫn tranh thủ về thăm nhà và thăm cô Thùy, em Thắng. Rất mừng là thấy em Thắng học giỏi, chăm ngoan, thi đỗ Đại học Y khoa Hà Nội. Nhà tôi ở gần trường, tôi bảo em Thắng về nhà anh chị ở trông nhà và giao nhiệm vụ kèm cặp các cháu học văn, học toán. Thắng có trí nhớ tốt vẫn kể lại chuyện tôi cõng nó đi chơi, vào hầm tránh máy bay Mỹ hay nhiều buổi anh em cùng đá bóng kết lá chuối trên sân nhà, hay đưa nó đi học, đi thi học sinh giỏi cấp thị và cấp tỉnh. Tôi vẫn cho Thắng thêm tiền tiêu, nhưng nó lại giữ mang về cho mẹ, bảo rằng đây là tiền của anh Bình cho con. Gặp tôi lần nào cô Thùy cũng cảm ơn và nhắc đừng cho em Thắng nhiều tiền quá, sợ em nó sa vào ăn chơi, vào nghiện hút thì khổ nó, khổ cô.

Bà tôi hay ốm đau, nhưng lại sống lâu vì được con cháu chăm sóc, thuốc thang đầy đủ. Cuối năm 1999, bà nội tôi qua đời, thọ 91 tuổi. Bố mẹ tôi, cô chú tôi làm ma cho bà thật to, khi sang cát thì chuyển về nghĩa trang xóm Đồi, đặt bên cạnh mộ ông tôi và xây mộ như mẫu hình ngôi mộ của ông tôi. Bên nhà cô Thùy, bà Khung được chăm sóc tốt, nên khỏe mạnh sống gần 90 tuổi. Tết năm 2013 tôi đến thăm, bà Khung còn khỏe có thể đi ra chợ Mè thăm cửa hàng của các con. Khi gặp bà Khung, tôi chúc bà khỏe, đưa biếu bà cái lì xì mừng tuổi, bà nói:

- Anh Bình vẫn quý tôi như bà nội mình.  Năm mới chúc anh chân cứng đá mềm, làm ra nhiều tiền, quan tâm đến em Thắng giúp tôi nhé!

- Cảm ơn bà! Cháu Thắng của bà đã thành bác sỹ, lấy vợ rồi, sinh được 2 đứa con xinh lắm bà ạ. Bà muốn thăm nó, hôm nào cháu đưa bà và cô Thùy vào Thanh Hóa thăm.

Bà Khung nói như reo:

- Nó đưa vợ con về trước tết rồi! Vợ chồng, con cái khỏe mạnh! Hai đứa con gọi tôi là cụ, gọi cô Thùy là bà nội, tôi cứ tưởng là mơ anh Bình ạ.

Khi tôi lên xe đi về Hà Nội, bà Khung còn chống gậy đi ra đường tiễn tôi, giơ cả hai bàn tay lên vẫy chào.

Ngày hôm đó, cô Thùy có nói chuyện với tôi về đất đai, nhà cửa của mình. Khu đất nhà bà Khung đã ra mặt đường, bốn cô Sẻ, Chia, Chích, Chiếm đến đòi mẹ, đòi chị dâu chia đất. Cô Chích làm giáo viên tiểu học tại thị xã liền thuê thợ trèo lên nhà cưa cái nóc, chiếm giữ phần đất. Người thợ mộc không dám làm việc này, cô Chích tự bắc thang trèo lên cưa làm hỏng cả mái nhà ngói cấp 4. Cô Chích tự mình chia phần nhà, phần đất cho các chị em, không nói với bà Khung và chị dâu câu nào. Nhà cũ bị hỏng không ở được, cô Thùy phải thuê thợ xây cái nhà ống trên phần đất còn lại nhìn ra đường phường.

Đất đã chia nhưng cũng chưa yên, các cô bảo nhau khi nào mẹ chết thì phải chia lại. Bà Khung là người hiền lành, không nói được các con gái; cô Thùy có nói nhưng các em không nghe, anh em trong họ không có ai phân giải rõ ràng, nên mâu thuẫn vẫn âm ỉ. Có lần em Thắng về thăm nhà, thấy tình hình căng thẳng đến nói với các cô, nhưng các cô không nghe, nói rằng cháu chưa quyền được thừa kế đất đai của bố mẹ các cô, chỉ có quyền thừa kế phần nhà đất của cha mẹ mình.

Em Thắng thấy các cô lộng quyền, làm những việc vô luân, quá đáng, khi  bà nội và mẹ mình còn sống, rất tức giận nhưng cũng không biết giải quyết như thế nào. Từ chỗ không hài lòng, đến chỗ nổi nóng, căm tức, phẫn nộ cách nhau gang tấc, người thường chưa có thể kìm hãm, khống chế hoàn toàn. Nguy cơ tàn hại nhau, giết nhau có thể xuất phát từ đó, nhất là những người có máu nóng không làm chủ được mình.

Tôi nghe chuyện chân thành khuyên cô Thùy:

- Nếu họ làm găng quá thì cô nhường cho các cô em. Khi nào bà Khung khuất núi thì theo vợ chồng em Thắng ở và đỡ dần cho em nó được việc gì hay việc ấy. Vợ chồng em nó sẽ phụng dưỡng cô suốt đời.

- Nghĩ như cháu thì đơn giản quá! Đất đai nhà cửa chẳng đáng giá gì, nhưng phải nuôi mẹ chồng còn sống, thờ cúng tổ tiên nhà chồng, bố chồng và chồng mình nữa. Người phụ nữ như cô cũng vất vả và đau khổ lắm cháu à.

Đó là buổi trò chuyện cuối cùng của tôi với cô Thùy. Một thời gian không lâu sau buổi ấy, tôi nhận được tin dữ: cô Thùy chết cháy! Đang trên đường về Hà Nội, tôi cho xe quay về thị xã Phú Thọ. Dọc đường tôi nhận được điện thoại của chú Ban kể:

- Bà Khung mất, cô Thùy và em Thắng tổ chức làm ma rất chu đáo. Chôn cất bà Khung xong xuôi, thì cô Sẻ cho họp gia đình, chính tại gian thờ trong nhà cô Thùy. Nhưng các cô ấy không mời em Thắng dự, vì chỉ coi Thắng là hàng cháu, thậm chí các cô còn đặt điều nói xấu cô Thùy quan hệ nhăng nhít với người này người nọ, coi em Thắng như là đứa con hoang, không phải là cháu đích tôn của ông bà Khung. Cuộc họp chỉ nhằm chia lại đất đai và phong bì thăm viếng.

Thế tại sao cô Thùy lại chết cháy?

Tiếng chú Ban nói như lạc giọng:

- Em Thắng không được dự họp... ức quá... mua một can xăng hai mươi lít... ném vào gian thờ... Ở đó đèn nhang đang cháy... xăng bén lửa bùng lên. Nhà ống... thằng Thắng khóa cửa... không có đường chạy ra... nên chết hết... anh ơi!...

- Sao em Thắng lại dồ dại, điên khùng thể nhỉ?

- Em không biết anh à!

- Bây giờ xác cô Thùy để ở đâu?

- Người ta đưa tất cả thi thể ra nhà xác của bệnh viện thị xã để bên công an và pháp y khám nghiệm tử thi, sau đó mới cho người nhà nhận về làm ma.

- Nhà mình, bố đã sang chưa?

- Bố sang dự đám ma bà Khung, đưa bà ra nghĩa trang cây số 3, vừa về tới nhà thì nghe tin cô Thùy chết cháy lại sang ngay. Bố đang chờ anh về.

- Theo ý kiến bố thì thế nào?

- Bố bảo là đưa cô Thùy về nhà mình làm ma. Vì thằng Thắng phạm tội giết người, theo Luật Hình sự thì phải tử hình. Hiện nay nó đã ra tự thú, công an phải giam nó lại, phòng nó làm liều gây án nữa.

Tôi gọi điện dặn dò chú Ban:

- Chú ra phố chợ Mè mua cho cô cái quan tài, và một số thứ khác. Nhớ là ra bến Đoan, thuê một cái thuyền, có thể chở cô về bến xóm Đồi, Thanh Uyên.

- Sao lại không thuê xe?

- Vì ngày xưa cô Thùy đi thuyền về nhà chồng cập bến Đoan, nay nên đưa cô về nhà cũng từ bến Đoan!

Chú Ban là đứa em út tôi báo rằng, không thể thuê thuyền đưa cô Thùy về theo đường sông Thao nữa. Thời gian trôi, biết bao biến đổi, bến xưa cát đã bồi, không có thuyền chở,  nay chỉ đi lại bằng xe. Xe tang của thị xã phải chở những thi hài của cô Sẻ, cô Chích, cô Chia, chồng cô Chiếm, chồng cô Chích ra nghĩa trang và về quê nhà. Bệnh viện còn xe chở thương sẽ giúp đưa cô Thùy về.

Tôi hỏi chú Ban:

- Chú có thấy vợ con em Thắng ra không?

- Có ra chịu tang bà Khung nhưng khi thấy chồng làm ra sự việc ghê gớm, đã ngất xỉu phải đưa đi bệnh viện cấp cứu; còn hai đứa con còn nhỏ đang đi học thì người thân đưa nó về nhà trong Thanh Hóa rồi.

- Chú Biên nhà ta đâu?

- Anh ấy về bên nhà, báo cho nội ngoại, bà con làng xóm, láng giềng, đón đội nhạc hiếu, làm rạp trước sân để làm lễ tang, theo tục lệ cũ phải kiêng không đưa ma vào trong nhà.

Bố dặn tôi và Ban:

- Khi đưa cô Thùy về quê, nhớ đi qua nhà cô để còn dặn những người trong họ, trong khu phố trông nhà, thắp hương cho bà cụ Khung và báo cho mọi người biết thì giờ nhà ta làm lễ tang cho cô và thời gian đưa cô ra nghĩa trang.

Làm theo lời bố, tôi đưa quan tài chứa thi hài cô Thùy lên xe cứu thương, cho xe bệnh viện chạy trước. Chiếc xe con của tôi bám theo sau, khi đi qua nhà cô Thùy thì dừng lại. Tôi xuống xe muốn đi vào nhà, nhưng cửa đã khóa, chỉ thấy vết lửa cháy xám trên khung cửa sắt. Mọi người trong khu phố biết là xe chở cô Thùy về quê thì ùa ra đường rất đông. Bố tôi phải nói với ông trưởng họ Trần phường Phong Châu là đưa cô Thùy về quê Thanh Uyên làm tang lễ, nhờ ông và khu phố trông nhà, có việc gì thì giúp đỡ gia đình em tôi. Bố tôi nói to:

- Xin cảm ơn mọi người trong khu phố ra tiễn em tôi về quê nhà! Gia đình tôi xin mời mọi người đêm nay sang nhà dự tang lễ và 8 giờ sáng mai cùng đưa em gái tôi về nơi yên nghỉ!

Mọi người vây lấy xe, hai xe phải bóp còi xin đi. Đám người giãn ra, nhường đường cho xe. Xe chạy theo đường Sông Thao, qua cầu Ngọc Tháp về quê nhà Thanh Uyên trong nằng chiều tà.

Tôi nhìn lên tấm ảnh của cô Thùy treo trên bức màn phông trông rất khỏe mạnh, trẻ trung, nhân hậu. Cô đã sống trọn cuộc đời hiếu thảo với cha mẹ mình, cha mẹ chồng, thủy chung với chồng, tận tụy với con, vẹn tình với bạn bè với bà con, anh em, con cháu. Nhưng số phận đã dẫn cô đến cái chết oan khuất, đau thương, ân hận nhất trên cõi đời này.

Sáng mai trời đẹp, tôi cùng người nhà, người trong họ, người trong xóm, trong làng đưa cô Thùy về nơi an nghỉ cuối cùng. Ngôi mộ cô được đặt sau hai ngôi mộ của ông bà nội tôi. Những vòng hoa viếng được chúng tôi trịnh trọng đặt lên và tôi cắm lên mộ những nén hương thơm trước khi ra về.

Về nhà tôi lên giường bố tôi nằm nghỉ, một giấc ngủ chập chờn đến với người  vật vã việc tang ma gần 20 tiếng. Lúc thức tôi nghĩ đến câu chuyện về giấc mơ của ông tôi hơn 40 năm trước. Ông nội mơ thấy cô Thùy bị chết cháy, người ta mang về nhà như thân cây bị thiêu cháy, nhiều mảng thân thể vàng như thịt nướng y như hôm qua tôi trông thấy cô trong nhà xác bệnh viện.  Để phòng cái tai nạn khủng khiếp ấy xảy ra nên ông tôi không cho cô Thùy đi thanh niên xung phong vào chiến trường, cho cô ở nhà đi lấy chồng; sau đó chồng cô đi bộ đội chiến đấu hy sinh, cô một mình nuôi con trưởng thành. Cuối cùng cô vẫn chết cháy vì hành động tức giận làm liều của chính đứa con trai yêu dấu, ở tại ngôi nhà của mình mới xây.

Lúc bố tôi đi vào vén màn lên, làm tôi giật mình. Vì trông dáng hình bố giống hệt ông nội như vừa hiện về. Bố tôi ngồi xuống giường, nói:

- Trong tang lễ người ta nói về đám con gái nhà bà Khung ghê gớm, đáo để quá. Vì họ chỉ nghĩ đến đồng tiền, do quen với việc mua tranh bán cướp, lừa trên gạt dưới giành lấy lợi, mới dẫn đến việc làm vô đạo lý, thiếu lương tâm, đánh mất tình người, làm cho thằng Thắng phẫn nộ, căm tức muốn giết hết, nên đã gây ra vụ án động trời này.

Bố tôi ngậm ngùi nói lại một ý kiến của người khác:

- Người ta lại nói, cái chết cháy khủng khiếp của 6 người, gồm: con dâu, con gái, con rể của  ông bà Khung. Là do ông bà Khung mở lò mổ trâu, mổ bò. Sát sinh và trực tiếp thui trâu bò nhiều quá, nên con cái phải chịu luật nhân quả, phải chết thui, chết cháy.

Tôi chưa nêu lên ý kiến của riêng mình nhận xét về vụ án mạng vừa xảy ra tại  gia đình cô tôi. Nó phải có nguyên nhân từ xã hội ảnh hưởng đến từng hành vi của con người. Nếu ta không biết cách mà ngăn chặn, phòng ngừa thì mỗi gia đình và cộng đồng xã hội ta  sẽ phải chịu nhiều tang tóc như thế nữa.

Bố tôi ngồi thẫn thượi, hình như vẫn còn hoang mang về sự việc vừa xảy ra, liền hỏi:

- Hồi bố từ miền Nam trở về nhà, con có nói lại giấc mơ của ông nội về cô Thùy chết cháy người ta đưa về nhà.

- Vâng, đúng vậy, con vừa nghĩ lại chuyện đó. Thế là do số cô Thùy nhà ta chết cháy phải không bố?

- Ừ phải rồi, số cô Thùy!

Hai tháng sau, tôi nhận được điện thoại của chú Ban báo tin rằng, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xét xử tội trạng chú Thắng ném can xăng làm chết 6 người. Tòa đã tuyên án tử hình, nhưng xét chú Thắng là con Liệt sỹ, là một bác sỹ có chuyên môn giỏi, sống lương thiện nên hạ mức xuống án tù chung thân. Không phải bồi thường thiệt hại vì các gia đình bên các cô chú kia không đòi hỏi gì.

Mặc dù tôi dự đoán trước mức án của em Thắng như tòa đã tuyên, nhưng tôi vẫn cứ bàng hoàng vì hành vi điên khùng tàn bạo của em. Đứa em mà tôi yêu quý đã bồng bế, ôm ấp, chở che, đùm bọc từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, xây dựng gia đình, có nghề nghiệp, nhà cửa, vợ con đàng hoàng với một tương lai sáng sủa hơn nhiều người khác. Vì sao lại có tai họa giáng xuống đầu những đứa con của bà Khung như thế, cách giải thích là vì đồng tiền, là luật nhân quả, hay là do tiền định chỉ là một phần của cuộc sống hiện tại. Tôi cho rằng đối với từng con người phải được giáo dục toàn diện, biết đấu tranh, biết nhu biết cương, biết nhường nhịn, biết tha thứ và đương nhiên là phải biết pháp luật. Em Thắng của tôi được chiều chuộng, bao dung cho nên không biết cách xử sự, bảo thủ, định kiến nên không kìm hãm được cơn tức giận bột phát của mình, đã có hành động giết người man rợ. Nghĩ đến mức án tù chung thân, tôi vẫn nghĩ em Thắng của tôi sẽ khó khăn lắm mới sống nổi, tự cải tạo để có ngày được khoan hồng trở về.

                                                                                                      T.H

 

Chú thích: “thần sấm” là loại máy bay  F105 và “con ma” là loại máy bay F4H của Mỹ dùng trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.