NỘI DUNG CHI TIẾT
CÂU THƠ ĐƯỜNG GIỮA NGÀY SƯƠNG GIÁ
4/17/2017

                                                    Truyện ngắn của Vũ Quốc Khánh

 

Thầy giáo Tư con cụ đồ Phùng Công Tự vốn nổi tiếng là văn hay chữ tốt ở bản Mường Seo Sơn này từ những ngày thầy còn trẻ tuổi.

Không biết có phải vì cụ đồ chỉ có mỗi mình thầy là con trai nên cụ dồn hết tình yêu thương, chăm chút cho đứa con bé bỏng vốn mồ côi mẹ từ lúc còn đỏ hỏn mà thầy được như vậy. Hay vì trời thương, để cho thầy được thừa hưởng sự thông minh từ người ông ngoại, vốn mang hai dòng máu Kinh Mường từ vùng châu Phù Yên nổi tiếng tài hoa, đẹp người, đẹp nết, phiêu dạt sang đây sinh cơ, lập nghiệp tác thành.

Người ta chỉ biết rằng khi mới chừng vỡ tiếng, thầy đã học hết vốn chữ Nho của cụ đồ. Nét bút rồng bay phượng múa của thầy khiến các bậc phìa tạo trong vùng phải thán phục. Vì thế cụ đồ cố gửi thầy sang trấn Sơn Tây theo học thầy Cả con quan tổng trấn, người đã tốt nghiệp đíp-lôm trường An-ben-xa-rô xứ Bắc Kỳ có dễ đến năm, sáu năm trước khi về theo nghiệp cụ, mở trường dạy chữ ở Seo Sơn.

Thuở ấy xứ Mường này còn được coi là vùng đất thâm sơn cùng cốc. Được cái là đất phát tích của quan tri châu, lại có thế voi quỳ, hổ phục với đỉnh Khe Cút giống như tán lọng che trên chiếc kiệu vàng nên Seo Sơn được mọi người có chữ suốt từ mạn Đà Bắc - Lạc Sơn vòng lên vùng Châu Yên - Sông Mã biết đến với lòng ngưỡng mộ.

 

 

 

Cũng vì lẽ đó tài danh của thầy giáo Tư càng được nhiều người trong bản, ngoài mường biết đến. Ai cũng muốn được kết bạn với thầy để chứng tỏ sự quảng giao, đàm đạo văn chương với thầy để ra chiều thông tuệ trước người đời.

Thầy giáo Tư có phong thái đạo mạo của bậc túc nho và có sự uyên bác của người thông kim bác cổ. Mỗi khi thầy cất giọng đọc, giảng giải những bài thơ chữ Hán của Trương Kế, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ hay Bạch Cư Dị là đám môn sinh đều há hốc mồm nghe và trầm trồ thán phục. Lời thơ đáng bậc khuôn vàng thước ngọc được diễn đạt bởi giọng đọc trầm bổng, du dương có sức vang, sức nẩy khiến không gian như thắm lại, phảng phất hương lan rừng và ánh lên mầu ngọc bích.

Không ai biết thầy đã mê hoặc được bao nhiêu đám môn sinh kể từ con nhà quyền quý, cao sang, trên nhung dưới lụa, đến thảo dân thường dã, khát chữ ham văn suốt một vùng trùng điệp núi non này bởi sự bặt thiệp tài ba và thông tuệ ấy. Chỉ biết rằng hễ bàn đến cái hay, cái tinh túy, cái cao siêu của thơ Đường, ai người cũng đều mê muội cùng cái mê của thầy, say đắm cùng cái say của thầy, bất luận người nghe là nam hay nữ, là già hay trẻ.

Ấy thế nhưng thầy vẫn chưa có ai là người nâng khăn sửa túi, dù rằng thầy đã sắp qua hết những năm “tam thập nhi lập” chuẩn bị bước vào năm đầu của tuổi “tứ thập bất hoặc”. Cũng chẳng biết vì thầy kỹ tính trong việc chọn người “tề gia nội trợ” hay thầy chưa tìm được người hợp lòng trong việc cảm thụ văn chương. Điều ấy càng khiến cho dân chúng vùng Seo Sơn thêm phần mến trọng thầy, bởi ở xứ này những người có chí văn chương đến sao lãng việc tình duyên như thầy chẳng có mấy ai.

Kể từ ngày Việt Minh làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, phong trào xóa nạn mù chữ với các lớp bình dân học vụ được mở ra, người dân Seo Sơn háo hức đến lớp, nên ai cũng biết đọc, biết viết. Trong số các thầy giáo dạy bình dân học vụ ấy có thầy giáo Tư. Thầy dạy người ta những chữ quốc ngữ o, a, c, m viết bằng than đen trên tấm gỗ sui to bản dựng ở vách nhà sàn, hoặc cái nia sẩy lúa treo trên tường nhà đảng, đôi khi cả bằng que tre, que nứa viết trên nền đất.

Bên cạnh những người cần phải xóa nạn mù chữ ấy, cũng có một lớp người từng giắt trong mình vài ba cuốn sách nằm lòng như tri phủ Hoàng Tức Mặc, phìa cái nhà Đinh Thừa, tạo viên Phùng Tri Bảo hay cán bộ Việt Minh Hà Công Minh. Họ là những người uyên bác, thông tuệ Nho học, đều là học trò của cụ đồ Tự ngày trước. Tuy đã từng say sưa trước thời huy hoàng, sôi nổi của Thơ Mới, mê mệt với những câu thơ “Nắng sang nửa bãi, chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá trầu“ nhưng họ vẫn đắm đuối với những bài thơ Đường luật khắc kỷ, thâm trầm mà cụ đồ đã dạy họ với niêm luật chặt chẽ, ý tứ cao siêu.

Không hẳn cần đông đủ cả bẩy tám người, có khi chỉ cần dăm ba vị là họ có thể tâm đầu ý hợp, đàm đạo văn chương. Và đương nhiên, vốn trọng tài thầy giáo Tư nên họ coi thầy là người bạn vong niên, tâm giao tri kỷ. 

Chi Nhã nằm trong số ít những môn sinh trường phái Thi Đường ấy. Khuôn mặt khả ái, tính tình điềm đạm pha chút hài hước dí dỏm, Chi Nhã là người con gái duy nhất được theo đòi văn chương chữ nghĩa Nho học ở xứ này. Cô tuy không phải con nhà phìa, nhà tạo nhưng cũng là con thầy mo, thầy cúng. Chữ chẳng được học nhiều nhưng cũng vọc vạch biết khối điều người khác không biết. Hơn thế nữa, những câu chữ cô đọc ra còn được ánh mắt như có lửa trong đêm xòe hân hoan tìm bạn, nụ cười phảng phất mầu sắc trinh nguyên của những đóa lan rừng trên đỉnh rừng Khe Cút, làn môi mọng chín ngọt vị quả rừng trong ngày nắng dịu bên thác Nàng Mơ và giọng nói mượt mà, trong vắt như suối Khe Moong chảy qua Bến Tình của người sơn nữ điệu đàng đằm thắm ấy khỏa lấp, làm duyên, khiến người nghe nếu thấy sai không nỡ bắt bẻ, nếu được hỏi không nỡ giấu lòng, còn nếu đúng càng tăng thêm phần mến trọng. Thành ra mỗi chiếu thơ có Chi Nhã tham dự, không khí văn chương đều bặt thiệp, tao nhã. Người đọc lẫn người nghe đều cảm thấy vừa lòng.

Sớm nay, gió bấc tràn về, lật tung những đám mây xám ngoét đè nặng trên cánh rừng Khe Cút, ném từng cọn rét đầu mùa hất vào bản Mường Seo Sơn, u u luồn qua các hõm núi, rít trên các đầu hồi nhà ra tuồng đắc chí.

Thầy Tư ngồi xếp bằng trên tấm nệm bông lau giữa gian khách trong ngôi nhà sàn ông nội thầy làm từ hồi còn trai trẻ, được lát và thưng bằng gỗ, nhiều tấm đã lên mầu bóng loáng. Bếp lửa rực ở gian kế bên tỏa hơi ấm, ngăn gió rét ngoài trời, khiến không gian như vừa đủ lạnh. Đâu đây thoang thoảng thơm mùi củi nghiến. Mọi người ai cũng như ai, yên vị xung quanh thầy và  râm ran trò chuyện.

Chi Nhã nhấc siêu nước đang sủi trên bếp rót ra tráng bộ ấm chén da lươn và lấy trà đựng trong ống nứa thả vào ấm rồi chế nước. Đây là loại trà Shan, tuyết trắng ngà êm nơi tôm búp, được hái trên đỉnh núi Thằn Lằn giáp dãy Lưỡi Hái vào mùa sau tết mang về sao suốt trên chảo gang mà thầy Tư chuyên để pha tiếp bạn văn chương tao nhã.

Khi trà đã đủ ngấm, Chi Nhã rót ra các chén, mỗi chén hai lượt. Một mùi thơm tỏa lan khiến không gian trong ngôi nhà sàn trở nên tinh khiết. Các môn sinh Thi Đường nhâm nhi, người chép chép thưởng vị ngọt mà ngậy, người hít hà vị hương thơm mà đượm của chén trà.

Sau tuần trà, câu chuyện về biến động thời gian, vũ trụ vần xoay, bốn mùa thay đổi, về nhân tình thế thái, đời người từng trải, cay đắng ngọt bùi được các đệ tử văn chương đê mê bàn luận. Ai cũng muốn góp phần lý giải cho những bước trầm luân mà cuộc đời đã qua và tiên tri về những điều sắp tới.

Chờ mọi người yên dầm câu chuyện, thầy Tư mới nhẹ nhàng mở chiếc cặp sách có quai đeo đã theo thầy đi học từ thủa bên trấn Sơn Tây, lấy ra một tờ giấy và chậm rãi nói:

- Thưa, nhân trời đã qua mùa thu. Thi hữu Chi Nhã có bài thơ bầy tỏ cõi lòng, xin được đọc để mọi người thưởng ngoạn.

Nói rồi thầy mở tờ ô li lấy giọng đọc chậm rãi, khoan thai và biểu cảm. Bài thơ viết theo thể luật Đường có tiêu đề “Tiếng thu”:

Thu sang, cúc đã rắc thu vàng,

Nước biếc, trời xanh, gió mịn màng.

Nhịp trắng cánh cò, đua phấp phới,

Vẩy hồng dải lụa, tỏa mênh mang.

Lưng chiều, ráng đỏ còn như hẵng...

Sẩm tối, vầng lam cứ tưởng rằng...

Mặc cái sương về buông tím lối,

Không cam, đời vẫn cứ thênh thang.

Sau khi chăm chú lắng nghe, suy tư và ngẫm nghĩ, mọi người ồ lên tán thưởng:

- Hay, quả là một bài thơ hay. Trước tiên vì là thơ Đường nhưng trong bài không dùng điển tích hoặc Hán tự mà dùng toàn từ Việt dân dã. Hai câu đề thoáng mà chặt, có gần và có xa, có cao và có thấp, có cái cụ thể đan xen với cái trìu tượng. Hai câu thực gắn kết được động và tĩnh, giữa hiện tại và hư vô như đưa người nghe vào chốn mơ tiên, huyền ảo mà gần gũi dân dã đời thường. Hai câu luận vẽ nên một hiện trạng đẹp mà không sáo, đầy những suy tư trăn trở về cuộc sống thế nhân với bao băn khoăn nhưng lại bỏ lửng đủ thấy những vất vả lo toan dành cho cuộc đời tục lụy. Câu kết khuyến khích người đọc thêm chí hướng vươn lên, phấn đấu để tìm đến một sự hoàn thiện.

- Bài thơ có phong cách mới lạ, không cam chịu chật chội tù túng của khuôn giáo Đường thi thường gặp. Nhất cú nhất sắc đấy nhưng bẩy câu đầu sắc dần tối đi, đến câu thứ tám lại hừng lên khiến người nghe không bị chìm xuống. Chi Nhã đã nói hộ nhiều người tuổi đã luống qua thu. Một bài thơ đầy chí khí của người từng trải.

Chi Nhã đỏ mặt khi được mọi người khen ngợi.

Lúc bấy giờ thầy Tư mới có nhời:

- Chi Nhã quả là đa tài khi viết bài thơ này. Xin các bậc thi huynh, thi hữu có lời họa. Phần tôi, choáng ngợp trước Tiếng thu của Chi Nhã, cũng xin có bài họa đáp lại tấm lòng của Chi Nhã và hầu các bậc túc Nho. Bài thơ có nhan đề “Giấc Thu”:             

Một trời quan tái mộng thu vàng,

Mỏng trắng hơi sương nắng mỡ màng.

Mấy ráng sương lam mờ phấp phỏng,

Dăm làn khói tím biếc đa mang.

Cam lòng chí sỹ đừng quen thói...

Vững dạ hoàng nhân chớ nghĩ rằng...

Xanh thẳm biển khơi giành lấy được,

Anh hùng chí đỏ nấc mơ thang.

Mọi người trầm trồ, tấm tắc:

- Bái phục, bái phục. Một bài thơ nhuần nhuyễn, đầy chí khí của những người quân tử. Bài thơ không cam chịu thân phận ẩn dật, quyết chí xông pha như tráng sỹ để giành lấy thắng lợi.

- Bài xướng thùy mỵ nết na, đáng trọng vọng vì mang dáng dấp công dung ngôn hạnh của người thục nữ. Bài họa cương thường hữu đạo, quả xứng tầm bởi trí tín lễ nhân, thể hiện khí phách của người quân tử. Bài nào cũng hay, bài nào cũng giỏi. Xem ra người chín lạng, người một cân, chẳng ai chịu kém ai.

- Đúng là bên trai anh hùng xứng với bên gái thuyền quyên. Quả là những bài thơ hay thật.

Chi Nhã mặt ửng đỏ như say trầu thuốc, liếc cặp mắt lung liêng nhìn thầy giáo Tư. Thầy cũng đang luống cuống nâng chén trà đã cạn từ lượt rót trước, xoay xoay trong lòng bàn tay.

Ngoài kia, gió vẫn thổi mạnh, rít u u trên trái hồi nhà, nhưng không làm lạnh lòng người. Những câu thơ Đường đã làm ấm tình họ.

Thế rồi một lục hoa giáp đã qua đi. Sáu mươi năm nhanh như bóng ngựa phi nước đại. Giờ đây, những người lớp môn sinh của thầy giáo Tư đa phần đã an nhàn nơi bồng lai tiên cảnh. Thầy giáo Tư bặt thiệp năm xưa cũng đã đến tuổi bách niên và cụ Chi Nhã đã bước vào hàng bát thập. Nhưng ơn giời để lại, hai cụ vẫn còn minh mẫn, cái minh mẫn của những người đại thọ. Hình như những câu thơ Đường ngày ấy vẫn còn mãi, tiếp sức cho tình yêu của các bậc túc Nho như cụ.

Lại một mùa sương giá nữa.

Đất trời Seo Sơn giờ đã thay da đổi thịt.

Những câu thơ Đường tưởng chừng đã theo các bậc tiền nhân về cùng tiên tổ, phần vì bởi lớp hậu sinh thường say mê cái mới, cái lạ, phần vì sự ngông cuồng của những kẻ sặc máu bành trướng, tham lam của đất nước Trung Hoa khiến dân ta ghét lây đến mọi thứ xuất xứ từ Trung Quốc. Thế nhưng không phải. Thơ Đường đã được những người yêu văn chương như thầy giáo Tư và cụ Chi Nhã cùng lớp lớp thi nhân sau này Việt hóa vẫn sống. Và chắc chắn rằng Thơ Đường dù thế nào chăng đi nữa vẫn âm ỷ sống. Không những thế nó còn trường tồn, minh chứng cho sự tài hoa của nền văn hóa Việt.

                                                     V.Q.K


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.