NỘI DUNG CHI TIẾT
Dọc đường chiến dịch Xuân 1975
5/18/2017

 

Ngày 29/4/1974, tôi lên đường nhập ngũ. Trước khi nhập ngũ, tôi đang học lớp 10 Trường phổ thông cấp III Long Châu Sa (Lâm Thao), mặc dù chuẩn bị thi tốt nghiệp, người gầy nhom, nhưng vẫn làm đơn xin bằng được nhập ngũ. Tiếng là con nhà nông lại sinh ra và lớn lên ở làng Sơn Vi, làm nghề nông thuần túy, nhưng tôi chưa biết cày, bừa, cấy hái, lại chỉ quanh quẩn bên lũy tre làng nên hiểu biết chưa vượt quá ngọn cây lúa, lưng con trâu. Chả thế mà, lúc chia tay cô bạn gái học cùng lớp, miệng tôi cứ cứng đờ, chẳng nói được lời nào, hai đứa chỉ biết nhìn nhau, rơm rớm nước mắt… Cứ nghĩ vào bộ đội chỉ là cầm súng chiến đấu, không ngờ đó là một trường “đào tạo tổng hợp” từ đầu đến chân. Huấn luyện ngoài thao trường đã vất vả lắm, nhưng không thấm đâu so với hành quân dã ngoại. Có lẽ từ bé chưa bao giờ tôi phải gánh tới 30kg trên vai, vậy mà giờ đây, hàng ngày phải đeo ba lô với hòn đất nặng 18 - 20 kg cộng với tư trang, súng ống,… Tất cả phải làm quen để sẵn sàng hành quân đi B khi có lệnh. Vai phồng, sống lưng lợt chảy máu, mồ hôi thấm vào xót như sát muối, khổ ơi là khổ…

Sau bảy tháng huấn luyện và mười ngày nghỉ phép. Ngày 01 tháng 12 năm 1974, chúng tôi rời Hà Bắc để lên đường đi B bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đoàn tàu hỏa chở đơn vị chúng tôi khởi hành từ ga Lương Sơn -Thái Nguyên chạy một lèo vào ga Vinh. Từ Vinh đi Vĩnh Linh- Quảng Trị bằng xe khách. Nghỉ ở Vĩnh Linh 3 ngày chúng tôi được quán triệt một lần nữa tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam từ sau khi ký Hiệp định Pari. Hành quân bằng xe tải Din 157 và Gát 51 qua vùng giải phóng Quảng Trị - đường 9 - Tây Trường Sơn (thuộc nước bạn Lào) đến binh trạm T90, chúng tôi được nghỉ lại ở đây một thời gian để chờ các đơn vị chiến đấu về nhận quân bổ sung. Được “ăn chơi” gần một tháng, các chàng lính trẻ vẫn rất lạc quan và vô tư, hàng ngày rủ nhau đi rừng, lội suối, tìm các món về cải thiện bữa ăn, buổi trưa đánh tiến lên, có vài anh hí húi viết nhật ký hoặc viết sẵn thư để chuẩn bị gửi ra Bắc. Mặc dù đã vào đến chiến trường, nhưng ở đó khá yên tĩnh nên chưa có cảm giác bom đạn, dấu vết của chiến tranh cũng đã được xói mòn từ lâu.

Toàn bộ Trung đội huấn luyện của tôi được bổ sung về Trung đoàn 95 Quân khu V, số còn lại về Sư đoàn 10. Giờ phút chia tay thật bùi ngùi xúc động, những ánh mắt lặng chào nhau như thầm hẹn sẽ gặp lại sau ngày toàn thắng. Nhận quân của Trung đoàn 95 là hai cán bộ xấp xỉ ba mươi tuổi, một trợ lý Chính trị, một trợ lý Tham mưu, cả hai anh đều rất vui tính nhưng cũng khá nghiêm khắc, cánh lính mới chấp hành răm rắp. Trước khi hành quân về đơn vị, chúng tôi được các anh giới thiệu khái quát về lịch sử truyền thống của Trung đoàn 95. Qua đó chúng tôi rất tự hào được biết đơn vị có truyền thống chuyên đánh cắt đường giao thông, để chặn đường tiếp tế hoặc rút lui của địch. Chúng tôi hành quân bộ mất 15 ngày, ngày đi đêm nghỉ. Những ngày đầu đi qua tỉnh Xa-va-na-khét (Lào), thỉnh thoảng gặp những người dân Lào, thấy họ rất yêu quý bộ đội Việt Nam, thường mang thực phẩm để đổi cho bộ đội, kể cả rau, gà, vịt hoặc đồ ăn chín, bộ đội thì đổi áo may ô, khăn mùi xoa tư trang mang từ Bắc vào, hoặc lương khô… Anh bạn cùng xã với tôi đổi một chiếc áo lót Đông Xuân cộc tay được con gà, thế là tối hôm đó Tiểu đội được bữa ăn tươi thật là rôm rả.

Chỉ còn hai ngày hành quân nữa là về đến vị trí đóng quân của Trung đoàn, thì tôi - người đầu tiên bị bệnh sốt rét, bắt đầu nếm trải sự khắc nghiệt của Tây Nguyên, cứ chiều tối là người lên cơn sốt, đau đầu, bỏ cơm. Anh bạn cùng xã phải lần xuống bờ suối múc nước vào ănggô đun sôi pha cho tôi cốc sữa nóng. Tuy miệng tôi đắng ngắt không muốn uống, nhưng vừa nể bạn, vừa phải cố lót dạ để uống thuốc, cố mấy lần mới hết nửa cốc. Thực ra những ngày nghỉ ở trạm T90 chúng tôi đã được hai cán bộ nhận quân của Trung đoàn cảnh báo trước về chứng bệnh sốt rét gây nguy hiểm chết người ở Tây Nguyên, nhưng không ngờ nó đến nhanh và đáng sợ đến như vậy. Chắc do thể lực tôi yếu hơn mọi người và từ bé chưa phải lao động vất vả, sức đề kháng kém hơn do đó bị quật ngã sớm hơn. Chứng bệnh sốt rét cũng đeo bám theo tôi từ đó đến hết gần chiến dịch mới chịu buông tha.

Tuy đang bị bệnh sốt rét, nhưng tôi vẫn được đồng chí Đại đội trưởng nhận  quân của C13 “chọn” cùng chục chiến sỹ có thể lực trội hơn về Đại đội hỏa lực cối 120mm. Số còn lại phân bổ về 3 Tiểu đoàn bộ binh, rất may cho tôi là anh bạn thân cùng xã cũng về cùng Đại đội.

 Chúng tôi chính thức về đơn vị chiến đấu khoảng đầu tháng 02/1975. Đơn vị đóng quân ở khu rừng thuộc huyện Ba - Gia Lai (nay là Huyện Mang Yang). Được nghỉ hai ngày để lại sức và làm quen với cánh lính cũ, sau đó vào huấn luyện ngay. Huấn luyện được ít ngày thì đơn vị nhận thông báo tổ chức cho bộ đội ăn Tết Nguyên đán trước. Thấy vậy mấy ông lính cũ liền rỉ tai cánh trẻ: “chuẩn bị đi chốt rồi đấy”. Lần đầu tiên ăn Tết xa nhà và cũng lần đầu tiên ăn Tết bộ đội theo kiểu dã chiến, ở giữa rừng Tây Nguyên, cũng khá đầy đủ các món truyền thống, tuy nhiên vẫn không làm vơi đi được nỗi nhớ nhà, nhớ người thân, bạn bè. Đêm đêm thỉnh thoảng nghe tiếng đạn pháo của địch, mấy anh lính cũ bảo nếu nghe tiếng đạn bay “chíu” thì có nghĩa là nó sẽ nổ cách xa mình, đừng sợ, nó bắn vu vơ ấy mà. Thực ra mấy hôm đầu, nghe cũng ghê ghê sau quen rồi thì bình thường “việc tao, tao làm; việc mày, mày làm”. Tuy vậy tôi cũng hiểu rằng cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt giáp mặt kẻ thù đã sắp bắt đầu.

Đầu tháng 3 năm 1975, Đại đội được lệnh hành quân lên chốt. Nhiệm vụ của Trung đoàn trong trận này là đánh sập cầu Nhân Thọ trên Quốc lộ 19 nối Bình Định với Pleiku, nhằm cắt đứt giao thông, phục vụ chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Vị trí trận địa cối 120 mm của Đại đội tôi trên điểm cao M1, cách doanh trại của Tiểu đoàn quân chủ lực Sài Gòn bảo vệ cầu Nhân Thọ khoảng gần một cây số theo đường chim bay. Linh kiện súng cối 120mm được tháo rời để di chuyển từ hậu cứ lên chốt, nòng súng do hai người khiêng, còn bàn đế vì nặng hơn nên phải bốn người khiêng. Tôi vẫn bị bệnh sốt rét nhẹ, nên được ưu tiên không phải khiêng súng cối, mà gùi 02 quả đạn súng cối, mỗi quả đạn này nặng 18 kg, cộng với quân tư trang, súng tiểu liênAK,  tổng cộng khoảng trên dưới 40 kg. Như vậy với tôi là quá sức. Đêm trước hôm nổ súng, tôi cùng một nhóm gùi đạn lên trận địa, vì mệt quá nên tôi bị tụt lại sau khoảng vài chục mét, đang đi bỗng vấp cái dây rừng bò ngang dưới mặt đường, bị ngã, hai quả đạn đè lên người đau điếng, không dám kêu cũng chẳng dám gọi tốp đi trước, vì đã rất gần địch. Tôi lóp ngóp bò dậy lần tìm lối mòn, nhưng chẳng hiểu sao lần mãi vẫn không thấy đường ra. Đoán là mình đã lạc mất phương hướng, tôi đành ngồi lại chờ. Lúc lâu sau nghe thấy có tiếng bước chân của nhiều người, lại có cả ánh đèn pin soi xuống đất, đoán chắc là người đơn vị, tôi lấy tay khua cây rừng để tạo tiếng động đánh tín hiệu, thì nghe thấy tiếng quát nhẹ và rất nhỏ “ai đấy”, nhận được giọng đồng chí Chính trị viên Đại đội, tôi trả lời rất khẽ:

- Dạ! Em đây ạ!

- Em là ai?

- Em là Hỹ đây ạ.

- Sao lại ở đây?

- Dạ! Em bị lạc ạ!

Thế là tôi được Thủ trưởng đưa lên chốt an toàn, thật hú vía. Câu chuyện lạc đường ngày ấy, đến tận bây giờ mỗi khi tôi kể lại cho hai thằng cháu nội nghe chúng rất thích thú, đôi lần chúng còn nhái lại đoạn đối thoại giữa tôi với Thủ trưởng rồi cười khúc khích, những lúc như vậy tôi lại thấy vui vui và bùi ngùi trong hồi ức. Đúng giờ G ngày 4 tháng 3 năm 1975 đơn vị được lệnh nổ súng, hai khẩu cối 120 của Đại đội tôi cùng các đơn vị hỏa lực khác của Trung đoàn đánh phủ đầu khoảng ba, bốn mươi phút thì bộ binh xung phong, chưa đầy hai giờ đồng hồ quân ta đã làm chủ trận địa. Cũng thời điểm đó nghe thấy một tiếng nổ rung chuyển trời đất: Cầu Nhân Thọ đã bị đánh sập. Trận đánh mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên của Trung đoàn đã thắng lợi giòn giã và nhanh chóng như một trận đánh diễn tập. Tâm lý hồi hộp pha chút lo sợ của cánh lính trẻ được giải tỏa, tự tin chuẩn bị bước vào những trận đánh mới.

Chúng tôi tiếp tục hành quân đánh hai căn cứ nữa của địch dọc theo Quốc lộ 19, hướng về phía Pleiku, cũng kết thúc nhanh và gọn như trận Nhân Thọ. Ngày 17/3, thị xã Pleiku được giải phóng. Ngày 18/3, Trung đoàn tiếp quản và làm nhiệm vụ bảo vệ Thị xã khoảng một tuần thì được lệnh hành quân tiếp. Tây Nguyên đã giải phòng hoàn toàn do đó chúng tôi ung dung đi trên quốc lộ 19 để tiến về đồng bằng. Trung đội tôi được phân công áp giải tù binh là viên Đại tá Hùng - Nguyên Tỉnh trưởng tỉnh Gia Lai vừa bị ta bắt.

Đang chuẩn bị nghỉ giải lao thì được nghe bản tin 18 giờ chiều của Đài tiếng nói Việt Nam, phát trên hệ thống loa truyền thanh thông báo thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên đã hoàn toàn giải phóng. Thế là mặc dù rất mệt, nhưng chúng tôi đã ôm nhau nhảy múa reo hò, quên cả việc đang dẫn giải tù binh và chẳng cần phải hỏi nhau, ai cũng hiểu rằng ngày toàn thắng đang đến rất gần. Sáng hôm sau có một đội xe khách và xe tải của địa phương tình nguyện đến giúp đơn vị hành quân cơ động, nhờ đó chỉ mất một ngày một đêm chúng tôi đã có mặt ở thị trấn Bình Định, Trung đoàn 95 chỉ tham gia đánh một trận ở Phú Phong thì tỉnh Bình Định cũng hoàn toàn giải phóng. Từ sau Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, khí thế tiến công của quân dân ta như vũ bão, còn quân địch thì hồn siêu phách lạc, hoàn toàn mất sức chiến đấu, phần lớn tự tháo chạy. Hầu như cứ vài ngày lại có thêm một hoặc hai tỉnh của ta được giải phóng. Cũng từ đây chúng tôi cơ động cơ bản bằng xe ô tô (Vừa là xe thu hồi của địch, vừa là xe do nhân dân tự nguyện giúp đỡ) thẳng tiến theo Quốc lộ 1 đến thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa, mà chẳng phải đánh trận nào, vì quân địch tan rã quá nhanh. Dừng chân ở Nha Trang, chúng tôi được quán triệt chủ trương của Đảng và chỉ thị của Bộ Tư lệnh Chiến dịch là quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong mùa khô này. Trung đoàn có thể được tham gia đánh vào thành phố Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Do đó một số đồng chí không đảm bảo sức khỏe (trong đó có tôi) phải quay lại hậu cứ để tăng gia sản xuất thay cho các đồng chí đang ở lại ra phía trước. Vậy là tôi không có cơ hội được góp mặt trong trận cuối cùng đại thắng. Đúng như vậy, mấy hôm sau tôi cùng một số anh em trong Trung đoàn lên xe ô tô quay lại Gia Lai, Đại đội tôi được lệnh chuyển sang huấn luyện gấp sử dụng pháo 105mm mới thu hồi của địch, để bảo vệ bờ biển khu vực Nha Trang, đồng thời sẵn sàng cho chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tôi trở lại hậu cứ mà lòng buồn rười rượi và tiếc nuối cơ hội, song một mặt vì nhiệm vụ chung, một mặt cũng thấy sức khỏe xa sút quá không biết có theo kịp đồng đội không? ở hậu cứ Đại đội chỉ để lại hai người, tôi cùng một anh nữa quê Thái Nguyên. Nhiệm vụ là tăng gia sản xuất: trồng rau, nuôi gà, lợn để tiếp tế cho đơn vị ở tiền phương. Công việc hàng ngày chỉ là tưới rau, nấu cám lợn... Nghĩ lại ngày ấy cũng lạ cho cái tính trung thực có phần máy móc của hai anh em, rau vườn thì nhiều và xanh tốt mơn mởn, trứng và gà rất nhiều vậy mà hàng ngày hai anh em vẫn bảo nhau phải ăn dè, để dành phần đơn vị khi nào có xe Trung đoàn về thì gửi đi. Thế là cứ hai ngày thì lại đổi món bằng rau tàu bay, rau rừng. Còn gà, trứng gà để nguyên, chỉ  ăn đồ hộp theo tiêu chuẩn đơn vị để lại. Duy nhất có ngày 01/5, hai anh em tổ chức liên hoan mừng ngày Quốc tế Lao động mới dám mổ một con gà. Ban ngày đã buồn, buổi tối lại càng buồn hơn, cả khu rừng mênh mông chỉ độc có hai anh em, “ông anh” thỉnh thoảng lại vào bản để nghe đài thông báo tin chiến thắng đến tận nửa đêm mới về. Buổi tối ngày 07/5 anh lại vào bản, gần nửa đêm khi tôi đang ngủ bỗng nghe thấy anh gọi thất thanh từ cửa:

- Hỹ ơi! Giải phóng miền Nam rồi! Giải phóng rồi!!! Sướng quá mày ơi!!!

Tôi bật dậy như một cái lò xo:

- Ai bảo anh thế? Giải phóng từ hôm nào?

- Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo giải phóng từ hôm 30 tháng 4 rồi, hai ngày nữa có xe Trung đoàn đến đón anh em mình về Nha Trang.

Chúng tôi ôm nhau vui sướng đến tột độ, cả đêm đó hai anh em không sao ngủ được, chuyện trò bàn tán đến gần sáng. Ngày hôm sau chúng tôi khẩn trương đi chặt nứa về để đan lồng gà. Mấy đàn gà tổng cộng hơn 40 con,  đã được lên phương án sắp xếp đâu vào đấy. Vất vả và buồn cười nhất, là việc lùa 25 con heo hành quân bộ 5 cây số đường rừng, từ hậu cứ ra ấp Nhân Thọ trên Quốc lộ 19, để hôm sau đi Nha Trang. Trọn vẹn một ngày “đánh vật” với lũ heo, gà, cuối cùng chúng tôi cũng về đến vị trí tập kết an toàn mà không mất một con heo nào. Chỉ riêng câu chuyện lùa đàn heo cùng hành quân hôm đó, cũng đủ để tôi viết thành một chuyện ngắn đầy súc tích  Chúng tôi về đến đơn vị ngày 11/05/1975, vừa kịp để dự đại lễ mừng chiến thắng. Tổng kết chiến dịch tôi vinh dự được đơn vị đề nghị Trung đoàn tặng giấy khen với thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu. Đại đội bảo toàn 100% lực lượng, không ai bị thương. Đây là điều đáng mừng nhất, hiếm có nhất trong lịch sử truyền thống của Trung đoàn.

Đơn vị bảo vệ Nha Trang được khoảng hai tháng, thì Trung đoàn được lệnh bàn giao địa bàn lại cho ủy ban quân quản Thành phố, để hành quân trở lại Tây Nguyên nhận nhiệm vụ mới.

Lời kết: Tính từ ngày nhập ngũ (29/4/1974), đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng vừa tròn một năm. Một năm là rất ngắn ngủi so với một đời người, nhưng với đời lính, nhất là lính thời chiến, thì một ngày cũng là một khoảng thời gian vô cùng quý giá và đáng ghi nhớ. Riêng với tôi, một năm đó là những chặng đường hành quân dọc theo chiều dài đất nước, dọc theo chiều dài của Chiến dịch mùa Xuân đại thắng, đầy ắp những kỷ niệm vui buồn của một người lính, xứng đáng được trân trọng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hồi tưởng và ghi lại những dòng hồi ký này, trong tôi như đang bồi hồi rạo rực, quay chậm những thước phim tư liệu về những ngày tháng quân ngũ tuy gian nan, vất vả, nhưng rất vinh dự và tự hào, vì đã được đóng góp một phần rất nhỏ vào cuộc trường chinh đại thắng của cả dân tộc, cùng đồng đội viết tiếp những trang truyền thống vẻ vang của bao lớp thanh niên quê hương Lâm Thao, đất Tổ Vua Hùng. Để giờ đây được kể lại cho con, cho cháu, cho thế hệ trẻ nghe như những câu chuyện cổ tích thời hiện đại về “Những năm tháng không thể nào quên”.

             B.V.H

        Nguyên Phó Hiệu trưởng,

       Chủ tịch Hội CCB Trường

       Cao đẳng nghề Phú Thọ


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.