NỘI DUNG CHI TIẾT
THƠ CA VÀ LỊCH SỬ (1)
5/22/2017


                                                  GS.TS. HỒ SĨ VỊNH

 

Vài ý niệm tổng quát

Thơ ca thời đại nào, dân tộc nào cũng đều là minh chứng của lịch sử, đáng để cho nhân loại, dù có nền văn hóa khác nhau, vẫn là niềm hạnh phúc, sự chia sẻ.

Bản thân thơ ca không có niên biểu lịch sử rạch ròi, nhưng thơ ca triết luận hơn lịch sử. Nhà viết sử miêu tả sự thật một lần cái đã xảy ra (đơn nhất), còn nhà thơ săn đuổi cái phổ biến, cái khái quát, cái có thể xảy ra (đa tuyến). Trên văn đàn thế giới đã có mấy ai lấy niên biểu thơ ca làm cột mốc để phân kỳ lịch sử văn hóa. Khi chúng ta chia lịch sử văn học Việt Nam từ dân gian cho đến hiện đại theo các cột mốc chính sử dân tộc là mặc nhiên thừa nhận phương thức phân kỳ văn học sử theo lối “ăn theo” lịch sử. Trên thực tế không hoàn toàn như vậy.

Viết về lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, tác giả các sách giáo khoa thường chia văn học thời kỳ 1930 - 1945; văn học kháng chiến chống Pháp; văn học thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, v.v... Phân kỳ như vậy là phân kỳ thơ ca theo tri thức, biên niên diễn ra theo sự kiện chính trị. Tính hợp lý ở đây nằm trong logic: lịch sử thơ ca là một bộ phận của lịch sử dân tộc, thơ ca nằm trong chính trị, phục vụ những nhiệm vụ chính trị của dân tộc. Nhưng mặt khác, cũng có một chân lý có thể chiêm nghiệm được. Xin nêu hai hiện tượng: Một là, Đề cương văn hóa 1943 cũng có thể xem là một niên biểu của thơ ca tiền Cách mạng tháng Tám, khi nó coi văn hóa bao gồm: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật (trong đó có thơ ca). Nhưng Đề cương văn hóa 1943 chưa có tiền đề lịch sử để bàn đến vai trò chủ thể sáng tạo trong thơ ca và nhiều tố chất bản thể văn chương, về sau, trong cuốn Chủ nghĩa Marx và văn hóa Việt Nam (1948), Trường Chinh khẳng định: “Văn hóa Cách mạng đã đi trước thực trạng kinh tế và ảnh hưởng lại xã hội một cách mạnh mẽ”. Hai là, Thơ mới xuất hiện trong thời kỳ văn hóa Việt Nam tiếp biến văn hóa phương Tây, nhất là văn hóa Pháp, bắt đầu từ những năm 1932 - 1933, khi đã xuất hiện một đội ngũ nhà thơ tài năng, nhu cầu sáng tác đòi hỏi những tuyên ngôn mới, những triết lý mới, những thể thơ phá cách, đặc biệt nhu cầu, thị hiếu của người đọc mới: tri thức bình dân, thị dân, sinh viên, học sinh, v.v... Thơ mới để lại những bài thơ bất hủ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Phạm Huy Thông, Trần Huyền Trân, Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Tế Hanh, v.v... là bắt nguồn từ cảm hứng mới, tư duy mới trong chính sử và lịch sử văn học nước ta từ đầu thế kỷ XX cho đến Cách mạng tháng Tám. Nhưng, niên biểu 1932 - 1933 không được coi là cột mốc lịch sử thơ ca là bởi hai lẽ: phần lớn những triết thuyết Âu - Á vẫn còn là những ngụy thuyết sống dai trong nhiều văn nghệ sĩ, trí thức đầu thế kỷ. Chủ nghĩa hiện thực và phép biện chứng còn là tư duy mơ hồ chỉ được thay thế bằng chủ nghĩa dân tộc, lòng yêu quốc văn, quốc ngữ; xu hướng tả thực xã hội chưa phải là ý thức triết học, công cụ nhận thức, cải tạo cuộc sống của nhà văn, v.v... Những nguyên tắc: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng trong Đề cương văn hóa 1943 cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được bắt đầu phổ cập rộng rãi trong học giới tạo nên cột mốc lịch sử thơ ca năm 1945 trùng khít với chính sử dân tộc là hợp logic cuộc sống và nghệ thuật.

Đằng sau những nền thơ lớn là những hằng số trí tuệ nuôi dưỡng tài năng

Văn nghệ dân gian (folklore) là người khai sinh văn học thành văn, là bầu sữa mẹ của thơ ca dân tộc.

Không phải ngẫu nhiên mà M.Gorki coi dân ca Nga là lịch sử nước Nga. Cũng gần như vậy, các nhà nghiên cứu thơ ca nước Anh coi tác phẩm của W. Shakespeare (1564 - 1616) (2) là lịch sử nước Anh. Biện giải những luận đề này, chúng ta hiểu đó là sự thông thái của trí tuệ, tính đa nghĩa của ngôn ngữ, khả năng trực giác, sức tưởng tượng kỳ diệu, v.v... của hàng triệu, triệu người dân lao động đã khám phá và sáng tạo trong quá trình lao động, chính họ đã sáng tạo ra những bản anh hùng ca vĩ đại, kể về những vở bi kịch hào hùng nhất trái đất. M.Gorki lấy làm tiếc, nếu các nhà thơ trẻ lãng quên mài dũa những viên ngọc bích trong sáng tác truyền miệng dân gian. Có lần, ông viết thư cho nhà văn Anutsin: “Nhà văn không biết folklore là nhà văn tồi”. Coi nghệ sĩ dân gian là người bạn đường tích cực của lịch sử, người khai sinh văn học thành văn, M.Gorki đồng thời cũng thấy được “chất độc”, “mật đắng” trong sáng tác dân gian để né tránh. Gorki là nhà văn bậc thầy vận dụng sáng tạo dân gian ở các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn sáng tác những năm 90 (TK XIX). Chắt lọc những chất liệu dân gian cổ của nhiều dân tộc, ông đã viết nên những bài ca xuất sắc như Bài ca chim ưng, Bài ca chim báo bão, Câu chuyện về cô giáo đẹp và chàng chăn cừu, Truyền thuyết về Marco, Bà cụ Izerghin, Makare Tsudra, Cô gái và thần chết, v.v... Tất cả các tác phẩm đó phản ánh một thời đại cách mạng với bút pháp lãng mạn, hình tượng những con người đi tìm lý tưởng mới.

Văn hóa bác học là biển cả của thơ ca duy lý, cảm hứng trí tuệ.

Nguyễn Trãi là “ngôi sao khuê” tỏa sáng bầu trời thơ ca nước ta đầu thế kỷ XV. Nhưng nếu ông xa rời sự kế thừa thơ ca Lý - Trần, học tập những cái hay, cái đẹp của những áng văn Nam quốc sơn hà Nam đế cư (tương truyền của Lý Thường Kiệt), Binh thư yếu lược (Trần Hưng Đạo) và tri thức của nhiều văn nhân, đại bút thời Lê, thì chắc chắn tầm tỏa sáng của ngôi sao kia sẽ bị giới hạn.

Trong thơ ca thời cận đại, nhà thơ, nhà soạn tuồng xuất sắc Đào Tấn phần lớn viết bằng chữ Hán và sử dụng nhiều điển tích, điển cố trong Bắc sử; sách học, sách tham khảo của ông là nho gia đời Tống, quốc sử là phụ: tất cả cái nghịch và cái thuận của nền giáo dục thời Nguyễn vẫn là chỗ dựa, là ngọn nguồn hầu hết văn tuồng của ông quan yêu nước, nhà nghệ sĩ lỗi lạc này, chính là nhờ sự vay mượn thông minh chuyện nước ngoài để nói chuyện chính sự nước mình. Ngoài mấy vở viết theo lệnh của vua Tự Đức như: Đẳng khấu, Bình địch, Tam bảo thái giám thủ biếu (năm 1872) còn phần lớn đều liên quan đến thời đại loạn ly, kỷ cương phép nước suy đồi trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Thơ văn bác học là chiều cao trí tuệ, là khả năng tiên cảm cơ trời vận nước của văn nhân ngang tầm kinh bang tế thế của thời đại. Ở các nghệ sĩ lớn, trí tuệ là nền tảng cho sự thăng hoa cảm hứng. Qua kinh nghiệm xử lý nghệ thuật thơ ca của họ Đào, ta thấy ông vận dụng thơ Trung Hoa bằng những vần thơ ngắn, ngắn là do ma lực của ngôn ngữ nhưng ẩn tàng nội dung sâu, tình cảm lớn, một hoài vọng có ý tưởng. Thơ là “ý tại ngôn ngoại”, “họa là bản chất của thơ” (Thi trung hữu họa), là việc tiếp cận cần thiết khi đọc thơ ca cổ, cận đại. Ngoài ra, trong thơ họ Đào, sự điêu luyện ngôn ngữ văn chương bác học đã ảnh hưởng nhiều đến việc vận dụng và nâng cao thơ ca dân gian và tác phẩm thành văn như tính giáo huấn, văn chương trau chuốt, tính biểu cảm của nghệ thuật nhảy múa, nhiều biểu tượng ước lệ thờ Phật, thờ Thánh, phản ánh triết lý “Thiên - Nhân hợp nhất” - một triết lý phổ cập ở phương Đông. Những mô típ cõi tùng, xương mai tượng trưng cho lòng trung thực; bụi vàng, nắng đỏ, nhạn chiều, mây thưa nói lên niềm cô lẻ của hiệp khách, hồn bướm, cánh hồng, thân bồ liễu, phận hồng nhan... là những số phận đã được thiên định, v.v... Tất cả đều mang dáng dấp đất nước, con người Việt Nam.

Nhìn sang phương Tây, người đọc cũng có cảm thức tương tự. H. Balzac vĩ đại không chỉ là phương pháp hiện thực tài hoa, mà ông còn biết vận dụng những chỗ mạnh và lãng quên chỗ yếu của các bậc tiền nhân. Trong hàng chục nghìn trang viết, người đọc tìm thấy những yếu tố trào lộng vừa yêu người vừa đậm chất trần trụi của Rable, cái trang trọng trong kịch cổ điển Corneille và Rassine, chất keo gắn kết với thực trạng xã hội của Molière và La Fontaina được viết dưới ánh sáng của hai chân lý: Tôn giáo và tư tưởng quân chủ, Balzac vẫn đưa được hàng nghìn nhân vật, sự kiện, chính khách, thợ đóng giày, gái giang hồ, các vị linh mục, tu sĩ, vị quan tòa, người gác cổng, bác công nhân, các chiêu thức kinh doanh lừa đảo, cách bầu cử gian lận, v.v... là nhờ sức khái quát cao, độ chín của trí tuệ và sự từng trải của thực tiễn. Mấy ai có vinh dự như ông, nếu ta không nhắc đến tên tuổi của W.Shakespeare, ở đó triết học mỹ học tiên tiến của thời đại, đã vượt ra khỏi xiềng xích thế giới quan và nhân sinh quan giai cấp mình của hai bậc thầy thơ ca thế giới.

Học tập thơ ca dân gian, dân tộc và xu hướng cách tân là kỳ vọng của các thế hệ nhà văn

Bàn về cội nguồn sức mạnh sáng tạo văn hóa của nhân dân, M.Gorki viết: “Nhân dân không chỉ là sức mạnh sáng tạo ra mọi giá trị vật chất mà còn là cội nguồn duy nhất và vô tận của giá trị tinh thần. Nhân dân vừa là nhà triết học và là nhà thơ đầu tiên kể về thời gian, về vẻ đẹp, về thiên tài đã sáng tạo ra tất cả những thiên trường ca vĩ đại, tất cả những vở bi kịch trên trái đất, mà vĩ đại nhất giữa những vở bi kịch đó là lịch sử văn hóa nhân loại” (3).

Theo dõi thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ và thời hậu chiến, chúng ta dễ dàng thừa nhận: bên cạnh những thành tựu đạt được như sự trưởng thành một đội ngũ nhà thơ tài năng và hàng mấy trăm tác phẩm thơ ca “đứng được” trong lòng người đọc, chúng tôi muốn rút ra hai bài học vừa là hai xu hướng thơ đương đại. Đó là sự trở về với chất liệu dân gian - dân tộc và xu hướng cách tân trong quá trình hội nhập với thế giới. Trong văn chương, thơ ca thế giới có một định đề làm xương sống cho cảm hứng sáng tạo: đó là triết học, nghệ thuậttôn giáo thường tạo nên những hình tượng thơ ca để đời. Trong hàng trăm truyện cổ ở nước ta, tôi coi truyện Trầu Cau, truyện Hòn vọng phu (người vợ chờ chồng ở biên ải đến nỗi hóa đá) là những “bài thơ triết lý” hay nhất cho đến thời đại chúng ta. Ở nước Nga, Gorki viết truyện Ba người nhưng kết thúc bi thảm quá, con người bé nhỏ(4) hơn tình cảm riêng tư của con người. Có người nói thơ là tôn giáo. Đúng! Vì ở đó có niềm tin, cái đẹpý nghĩa triết học.

Trong thơ ca kháng chiến ở hai giai đoạn nhiều bài thơ viết về đề tài mất mát, bi thương, mặc dù kỹ thuật có chỗ chưa thật hoàn hảo, nhưng vẫn đọng lại sâu thẳm trong lòng người đọc, những hình tượng thơ “đi cùng năm tháng” là nhờ các tác giả đã vận dụng thành công chất liệu văn nghệ dân gian. Viết về đề tài đất nước, lãnh tụ, người phụ nữ Việt Nam, các nhà thơ đã để lại những trang thơ vừa đạt tầm khái quát, vừa mang cảm xúc dạt dào của nhiều thế hệ. Trong số đó cần tôn vinh thể loại trường ca: Sáng tháng năm, Nước non nghìn dặm, Mặt đường khát vọng, Trường ca Sư đoàn, Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Bài ca chim Ch’rao, v.v... Việc vận dụng chất liệu dân gian đã thành công ở những mức độ khác nhau, nhưng phải thừa nhận thủ pháp trau dồi ngôn ngữ thi ca chỉ có thể bằng tuyệt bút. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu phong phú và độc đáo, hào sảng và trữ tình, nét duyên truyền thống và không khí thời đại, v.v... từ những sự kiện trang trọng cho đến lời ăn tiếng nói của dân. Tuổi trẻ thời chiến tranh giữ nước, ai mà chẳng thuộc câu: Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai... luận về triết lý sống, lúc thành công cũng như khi vấp ngã: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại/ Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần (Dậy mà đi); sự lựa chọn cuộc đời lập thân, lập nghiệp: Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi (Dậy lên thanh niên), v.v...

Nhiều bài thơ viết về người mẹ, người chị Việt Nam với cảm hứng chân thật và giọng điệu là lạ. Không thể kể hết những chiến công của những người vợ thời hậu chiến, mà tượng đài vinh danh lớn nhất là sự quên mình. Tôi được đọc bài thơ CHỊ đăng trên trang thơ dự thi cách đây mấy năm, mà không sao chia sẻ hết tấm lòng và tài hoa của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm, khi ông tạc tượng người vợ chiến binh trong nỗi cô đơn tột cùng bằng những câu nói cửa miệng dân gian: Chưa ai tạc tượng chị trong những ngày anh đi đánh giặc/ Một mình nuôi con, sóng cả, đò đầy, thân lươn, mình vạc/ Góc đường quê nhìn vẹt một phương trời.../ Chị quên vầng trăng, chị quên giếng nước, quên mình là đàn bà.../ Chưa ai tạc tượng chị những năm tháng cuối cùng, da nhăn vỏ đỗ/ Suốt ngày khói hương/ Chiếc xe lăn xếp cạnh bàn thờ/ Huân chương của anh gắn đầy tay vịn/ Cùng nỗi đau ấy... cũng ngôn ngữ âm điệu dân gian tương tự, Hữu Thỉnh trong chương 4 (Tờ lịch cuối cùng, Trường ca Đường tới thành phố), chỉ mấy khổ thơ đã dựng được nỗi cô đơn tột cùng của người thiếu phụ chờ chồng vô vọng: Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra/ Trong giỗ Tết họ hàng nội ngoại/ Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình/ Những đêm trở trời trái gió.../ Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền.

Xu hướng cách tân hôm nay thường đi liền với vấn đề “dân chủ hóa” trong tiếp nhận của người đọc. Có hàng trăm, hàng nghìn thi pháp cách tân thơ hiện đại, miễn là nhà thơ có tài năng, càng hiểu biết quá khứ lịch sử đầy đủ, chính xác bao nhiêu thì càng dễ dàng, sâu sắc viết được ý nghĩa của sự cách tân hiện đại bấy nhiêu. Tôi chỉ xin dừng lại một hiện tượng, rộng hơn là một xu hướng thơ hiện đại được tạm gọi là thơ định đề triết luận. Cố nhiên, cái độc đáo, cái có ích của xu hướng này chưa bao giờ là duy nhất. Định đề là thuật ngữ toán học, là tiền đề của một lý thuyết khoa học. Trong logic học, nó là nguyên lý xuất phát của một lập luận. Trong thơ định đề, cách nhìn thế giới và con người thường dưới góc nhìn xã hội học. Thơ định đề - triết luận không xa lạ với các nhà thơ lớn. Nó có ít nhất hai tố chất: Tư duy trí tuệ cảm thức duy lý có phần ưu trội. Có hàng trăm con đường đi tới đại lộ triết lý. Paul Bourgée khuyên: Nhà thơ cần phải biết các triết thuyết, tri thức xã hội học, tâm lý học đã đọc được và cần theo đuổi với niềm say mê của trí tuệ. Apuskin là nhà thơ trữ tình, vừa là nhà thơ trí tuệ; ông tôn thờ trí tuệ như một vật linh của cảm hứng: “Trí tuệ muôn năm!”. Con đường đến với thơ định đề triết luận chưa bao giờ bằng phẳng. G.Apollinaire (1880 - 1918) bắt đầu làm thơ siêu thực, có quan hệ với các họa sĩ lập thể bên hội họa; nhưng càng đi, ông càng say mê sáng tạo, cách tân bút pháp, nội dung lịch sử hiện thực nên thơ ông dễ đến với bạn đọc. Thơ triết luận của Robert Browning (1819-1892) lúc đầu không tránh khỏi hiện tượng tối nghĩa, lời thơ răn dạy, nhưng cuối cùng ông đã thành công ở nhiều bài thơ có hình thức đối thoại triết lý về tình yêu, về khoa học.

Thơ là nghệ thuật cải tạo con người (refaire rhomme), dễ đi vào cõi đời và lòng người. Thơ là nghệ thuật dự báo (l’art de predi re) nên thơ cần cho trước mắt và lâu dài. Không xuất phát từ chất mặn của đời, nỗi đau của con người thì thơ ca dễ bị công chúng lạnh nhạt. Thơ trữ tình dễ chạm đến trái tim, những thơ triết lý dễ tìm đến trí tuệ, ánh sáng, chúng thường gắn với cách ngôn, thành ngữ, v.v... nên dễ nhớ. Ở đây, người ta tìm thấy sự giao cảm bằng đa cung bậc: hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục của người xưa hoặc theo cảm xúc ngũ quan. Nếu thơ là niềm tin, là bài học đạo lý thì nói như Sandor Pétofi “thơ ấy là Thánh đường, nơi mỗi người có thể tới, kể cả ai không có dép, thiếu giày”.

Khi nghiên cứu thơ văn Nguyễn Trãi, một nhà khoa học phương Tây, ông Jacque Gaucharon viết: “Đối với Nguyễn Trãi: Thơ và lịch sử chỉ có một... Hay nói cách khác đã đến lúc lịch sử trở thành động lực của thơ và thơ trở thành động lực của lịch sử”. Đó là trường hợp của những nhà thơ lớn. Lịch sử cho ta một lần sự thật, còn thơ bằng ngôn ngữ khái quát cho chúng ta, những người đọc hôm nay và các thế hệ mai sau biết được bóng dáng lịch sử để tôn vinh, tự hào, ngưỡng mộ. Thơ ca và lịch sử vừa là khác nhau, nhưng lại là hợp nhất, hợp nhất trong đa tuyến, trong cái đang xảy ra... Chính chúng là tiền đề và điều kiện đề bồi đắp cho lớp phù sa văn hóa dân tộc, làm nổi bật bản sắc văn hóa dân tộc.

                                                                                                              H.S.V

1. Trong tiểu luận này, thơ ca được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: các loại anh hùng ca, tráng ca, sử thi, trường ca các loại, thơ trữ tình, truyện thơ, các tác phẩm văn xuôi (nhóm ngôn ngữ văn xuôi tự do (ariatio solute), các tác phẩm văn vần - nhóm ngôn ngữ rào cản - ariatio vineta), v.v...

2. Trong số thơ ca, Shakespeare có 154 bài sonet, 37 vở kịch các thể loại. Các vở bi kịch lấy đề tài La Mã: Juiline Seda (1599), Antoan và Cleopat (1607), Criodaynot (1607) đặt ra những vấn đề chính trị xã hội thời đại ông. Bi kịch Hamlet, Macbet, Otenlô đặt ra nhiều mâu thuẫn gay gắt giữa thống trị và bị trị, Ác - Thiện, tình yêu và hận thù, ánh sáng và bóng tối với nhiều mảng màu dưới chế độ tư bản sơ khai.

3. Bài Sự tan rã của cá tính (1909) M.Gorki bàn về văn học, Nxb Văn học - Nghệ thuật Quốc gia Matxcơva, 1961, tr. 20.

4. Truyện xảy ra ở một bộ lạc. Vị kha hãn, tù trưởng của bộ lạc nói với con trai rằng, nếu con lập được chiến công ở vùng biên ải, ta sẽ tặng thưởng cho con phần thưởng nào mà con yêu quý nhất. Nghe lời cha, sau khi lập công, người con trai thưa với cha: Con thích nhất là người con gái mà cha đang yêu. Vì lòng danh dự, người cha buộc phải giữ lời hứa bằng hành động quẳng người con gái xuống biển và ông cũng lao theo dòng nước. Đau đớn tột cùng, người con trai cũng tự vẫn để giữ trọn lòng tin.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.