NỘI DUNG CHI TIẾT
THƠ VỀ BẾN HẠC
5/22/2017


                                                                                           Kim Dũng

 

Bạch Hạc mênh mang một vùng mây xanh, nước biếc nằm ngã ba sông thành phố Việt Trì. Bạch Hạc, tên làng được khai sinh từ trong truyền thuyết: “Có một đàn Hạc trắng, từ đâu đó bay về làm tổ trên cây Chiên Đàn tỏa mát cả một vùng quê”, “Đất lành chim đậu”, “Sơn chầu thủy tụ”, khí thiêng sông núi kết thành. Từ đó, Bạch Hạc thành một địa danh trên vùng đất Cố đô của các Vua Hùng trong buổi bình minh lịch sử. Tên Bạch Hạc là niềm tự hào trong tâm linh của người dân quê hương xứ sở. Mảnh đất này cũng là nguồn cảm hứng thi ca của các danh nhân, nho sĩ và các thế hệ nhà thơ khi đặt chân lui tới đến vùng ngã ba sông đầy thơ mộng, hữu tình...

Có nhà văn nói: “Núi sông có hồn nhờ vào lịch sử”. Nhưng vẻ đẹp hào phóng của thiên nhiên lại càng làm cho lịch sử có hồn. Tạo hóa đã ưu ái cho Bạch Hạc có một vẻ đẹp hài hòa trọn vẹn cả hai.

Tiến sĩ, Thượng thư tước hầu Nguyễn Bá Lân (1701 - 1785) đã để lại bài: “Ngã ba Hạc phú” nổi tiếng, vịnh cảnh non nước nơi đây, lưu bút cho hậu thế một tác phẩm vô giá, đã trên 200 năm tuổi mà âm hưởng bài phú vẫn vang vọng lung linh trong cõi trời Việt với một vẻ đẹp lạ lùng:

“Xinh thay Ngã ba Hạc

Lạ thay Ngã ba Hạc

Dưới họp một dòng

Trên chia ba ngác

Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào

Lênh lang dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc...

Ba góc bờ tre vắng vắng, huyệt kim quy chênh hẻm đá đầu ghềnh

Một chòm bãi cỏ phơi phơi, hang Anh Vũ thấu lòng sông huyếch hoác

Thuyền ngư phủ trôi dòng, dang nách, khom lưng chèo dếch ngược...”

Thì ra, Ngã ba Hạc như một mỹ nhân, kiêu sa mà đằm thắm, duyên dáng đã làm cho vị Tiến sĩ, Thượng thư Nguyễn Bá Lân nghiêng ngả đắm say để cảm tác về cảnh đẹp nơi đây như bầu trời lung linh để bóng mình trong giọt nước nhiệm màu...

Bây giờ, khách thập phương đến viếng thăm đền Tam Giang, chùa Đại Bi ở Bạch Hạc, được xếp hạng cấp Quốc gia và chiêm ngưỡng Tượng đài Chiêu Văn Vương, Trần Nhật Duật đứng trên chiếc thuyền, khoác áo bào, lưng đeo gươm, nhìn ra ngã ba sông  làm ta gợi nhớ chiến công oanh liệt của quân dân Đại Việt đời Trần làm cho quân giặc kinh hoàng. Tôi cứ nghĩ, ước gì bên cạnh Tượng đài tướng quân Trần Nhật Duật oai phong, lẫm liệt, lại có tấm bia khắc bài: “Ngã ba Hạc phú” của Nguyễn Bá Lân để khách tham quan, du lịch đến đây được đọc, suy ngẫm, rồi chèo thuyền thưởng ngoạn, ngắm cảnh sắc trên ngã ba sông xanh bóng núi Ba Vì thơ mộng sóng nước trời mây và nghe tiếng thuyền chài gõ cá thì thú vị biết chừng nào, sao chúng ta không làm được, có tốn kém nhiều đâu? Thiên nhiên ưu ái cho ta, sao làm du lịch không khai thác?...

Khách tham quan du lịch còn có các Nhà văn, Nhà thơ, các Giáo sư, sinh viên, học sinh muốn tìm hiểu, khám phá những áng văn chương tuyệt tác, những văn bia của một vùng đất, đó là nét đặc trưng, bản sắc văn hóa trong đời sống tâm hồn của mỗi vùng quê trên đất Việt thân yêu, như nhiều địa phương ở các tỉnh bạn họ đã làm. Vì văn chương nghệ thuật là sản phẩm tinh hoa của Văn hóa, cần được bảo tồn, lưu giữ muôn đời.

Đã thành thông lệ, năm nào cũng thế đến dịp giỗ Tổ mồng Mười, tháng Ba, phường Bạch Hạc lại tổ chức đêm: “Thơ về bến Hạc” - Trên tấm phông trắng, nổi bật dòng chữ: “Thơ về Bến Hạc”, phơ phất cành tre la đà. Vầng trăng non lấp ló. Một con thuyền nằm mơ mộng, dưới mái chùa cổ kính tỏa bóng xuống đêm thơ ấm áp, trữ tình. Diễn viên là những người không chuyên ở các khu phố, thôn xóm - họ là những người yêu thơ, yêu văn nghệ, là những “món ăn” tinh thần không thể thiếu được trong đời sống con người khao khát cái đẹp tự trong hồn.

Nhiều cảnh được dàn dựng khá công phu minh họa cho thơ như bơi chải và hát múa trên nền nhạc: “Trường ca sông Lô”, “Du kích sông Thao” - tái hiện hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, những người du kích áo nâu, mũ nan, dép lốp, đầu súng nhấp nhô, gợi lại những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, diễn ra trên mảnh đất Hạc Trì để giữ làng, giữ Nước, đã đi vào trang sử hào hùng của dân tộc.

Nhớ mãi đêm thơ “Về bến Hạc” tổ chức ở sân đình - bỗng nổi gió bão. Trời mưa tầm tã. Nhưng bà con vẫn đứng khoác áo che mưa, lặng nghe tiếng thơ ngâm và xem múa hát cho thỏa lòng khát khao ngày đợi, đêm chờ. Nhà thơ Nguyễn Đình Phúc xúc động, cảm kích, lên đọc mấy câu thơ ngẫu hứng ngợi ca:

“Câu thơ tôi bên bến Hạc đêm nay

Đất cố đô nghe nảy mầm hoa trái

Dưới mái Tam Giang, người xem mê mải

Em say sưa hát múa dưới mưa sa”...

“Thơ về bến Hạc” không thể không điểm đến các cây bút thơ là những người con của quê hương, sinh ra và trưởng thành từ mảnh đất này. Đó là Đại tá Nguyễn Bá Dậu, tác giả bài thơ nổi tiếng: “Cháu là em Thiếu sinh quân” (Viết từ năm 1948 ở Việt Bắc). Có một thời đã đưa vào sách giáo khoa Tiểu học - nhiều thế hệ học sinh còn nhớ mãi. Nhà văn Nguyễn Lê, Nhà thơ Kim Dũng, cũng sinh ra trên mảnh đất này, được tắm gội trước Ngã ba sông chan hòa nắng gió, bão bùng nhưng cũng đầy ân nghĩa của cuộc đời để có được những tác phẩm văn chương đóng góp cho đất Tổ và dòng chảy thơ ca Việt Nam đương đại thêm giàu hương sắc. Tác giả thơ Nguyễn Hữu Điền, người con của quê hương (nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh), ông là hội viên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh, có nhiều bài thơ được công chúng tâm đắc như: “Tháng năm có Bác”, “Cha và con”, “Đêm giao thừa thế kỷ” và “Chim đậu đất lành” (nhạc sỹ Đào Đăng Hoàn phổ nhạc) là một nhạc phẩm có ca từ đẹp với giai điệu dịu dàng, sâu lắng, tha thiết, được công chúng cổ vũ, hoan nghênh...

Bạch Hạc còn có các cây bút thơ là hội viên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh như Hà Phi Hải, Trần Hanh, Đắc Phượng, ít nhiều cũng có đóng góp với quê hương.

“Thơ về bến Hạc” còn có một dòng chảy về ưu ái - Đó là sự đóng góp của các nhà thơ trong cả nước gửi gắm những tâm tình, kỷ niệm về một miền quê nằm bên ngã ba sông với nhiều ấn tượng đẹp giữa cảnh và tình. Ấy là một chút bâng khuâng xao xuyến, nuối tiếc của Thi sỹ “Tây Tiến” nghỉ lại một đêm thời chiến ở Bạch Hạc, rồi sớm ngày tạm biệt ra đi: “Mái nhà đêm Bạch Hạc/ Có nhớ người đi không?” (Đêm Bạch Hạc, 1967). Đây còn là những phút giây dùng dằng nửa ở, nửa về của nhà thơ quân đội Phạm Ngọc Cảnh trong “Thoáng chiều Bạch Hạc” thế mà ran ríu giữa đất và người nơi đây, không dễ gì dứt ra được: “Chỗ mật thiết gắn liền trời đất/ Dấu chân ta dàn một thế thăng bằng”. Còn đây, Nhà thơ Trần Thị Thắng từ thành phố mang tên Bác, tới thăm làng Bạch Hạc lại ví như “một mũi thuyền” vươn ra dòng nước bên ngã ba sông sóng gió bão bùng: “Giữ làng nhỏ vươn ra dòng nước/ Như mũi thuyền trên ngã ba sông”. Nhà thơ Hoàng Quý, người con của quê hương đất Tổ, từ Vũng Tàu sóng vỗ, gửi thư ra trong nỗi nhớ bạn bè văn chương và tiếc nuối bận việc không ra dự với “Đêm thơ bến Hạc” như một lời tạ lỗi: “Anh mỏi hẹn. Tôi lần khất mãi/ Cải ngồng hoa thưa mấy vụ đồi/ Cá Anh Vũ ẩn mình khe hẹp/ Sóng Lô - Đà táp vỗ không nguôi”... (Thư gửi anh Kim).

“Thơ về bến Hạc” còn một dòng chảy là tấm lòng Kiều bào đau đáu với cố hương! Vũ Thị Tâm người con gái Bạch Hạc, xa quê từ tuổi tròn trăng, sau bao năm xa cách, nơi đất khách quê người, giờ trở về thăm cố hương mái đầu đã bạc bâng khuâng, xao xuyến, nơi bà đã cất tiếng khóc chào đời:

“Về quê làng những bâng khuâng/ Nhờ từ độ tuổi trăng rằm ra đi/Bao năm kháng chiến trường kỳ/ Quê người đất khách hướng về cố hương”...

Xin được trở lại: “Thơ về bến Hạc” là năm thứ X, đã thành thường lệ. Anh bạn Nhà thơ từ Hà Nội lên dự xúc động: “Hiếm thấy nơi nào tổ chức “Đêm thơ” hàng năm vào dịp giỗ Tổ mồng Mười, tháng Ba như ở phường Bạch Hạc để tri ân công đức các Vua Hùng và qua tiếng thơ, lời ca bày tỏ lòng yêu quê hương, đất nước trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã thành nền nếp rất có ý nghĩa trong đời sống tinh thần của nhân dân - “Thơ về bến Hạc” là một dòng chảy kế thừa và phát huy truyền thống yêu thơ ca của dân tộc, làm cho đời sống tâm hồn con người thêm phong phú, trong sáng, hướng tới những điều tốt đẹp. Trong mơ màng trên bến Hạc đêm nay tôi nghe: Hình như có cánh Hạc bay về làng và có tiếng thơ ngâm sóng sánh mạn thuyền trở Thơ về bến Hạc trong đêm trăng sáng trữ tình.

                        K.D


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.