NỘI DUNG CHI TIẾT
HÀNG DÂU DA ĐẤT
6/23/2017

 

                                       Truyện ngắn dự thi của Vũ Quốc Khánh

 

Con đường mòn nối bản Mẫn và bản Phiềng rục rịch được bê tông hóa theo chương trình xây dựng Nông thôn mới của xã. Theo quy hoạch người ta sẽ nắn thẳng và mở rộng con đường cũ để cho xe cơ giới đi lại thuận lợi. Tiếc cái, nếu thế phải phá bỏ cây dâu da đất của nhà Bùi Văn Nam ở cuối bản Mẫn, đầu bản Phiềng, nếu không con đường sẽ bị ngoằn ngoèo, rắn lượn.

Người trong bản không ai nhớ cây dâu da đất ấy có từ bao giờ. Các bủ già kháo nhau rằng từ hồi đầu còn xanh, tuổi còn trẻ, thanh niên nam nữ người Mường và người Dao hai bản chơi với nhau trên xướng mạ bên con đường mòn đã có nó. Ở cái bản heo hút này ngày ấy khi cấy xong thì xướng mạ là sân chơi tốt nhất cho mọi người. Người ta kéo ra đây cùng nhau đâm đuống, dựng cột ném còn, đánh quay, hát ví, rồi đốt lửa múa sạp, múa xinh tiền, làm Tết Roi đón mừng thần lúa và mọi trò vui dân tộc khác. Những câu hát, tích trò, những ánh mắt, điệu chơi, những âm thanh đàn sáo, tiếng đâm đuống, nhịp phách cứ quẩn vào nhau tựa hồ không bao giờ dứt. Cây dâu da đất đứng bên con đường mòn nối bản Mẫn với bản Phiềng ngấm tiếng lời, ngấm điệu bộ, ngấm tình người của dân hai bản cũng rung rinh lá, lớn lên, đâm hoa, kết trái cùng chung vui với dân bản như bạn cây, bạn rừng, bạn đất.

Cụ cố ngoại Bàn Thị Xinh của Bùi Văn Nam là lớp người già nhất trong bản. Năm nay mắt cụ đã mờ, chân đi đã phải nhờ cây gậy chống lên nước nâu bóng, hai hàm răng ăn trầu đen nhưng nhức khi xưa giờ cũng đã cái còn, cái rụng. Thế nhưng đêm đêm cụ vẫn ngồi dưới linh sàng, dựng bên gốc cây dâu da đất, rì rầm những câu chuyện không đầu, không cuối cho đến khi sương rơi nặng hạt.

Cây dâu da đất hình như biết được tình cảm của cụ và dân bản nên cũng không nỡ phụ lòng. Khi dư âm của ngày Tết nhẩy của người Dao bản Phiềng vẫn còn váng vất đâu đây, khi những cành mận hoa trắng của người Mường bản Mẫn còn đang la đà đón những hạt mưa xuân chiu chít, những cô gái áo cóm còn lưu luyến với âm thanh lanh canh của sợi xà tích khi lên bổng xuống trầm cùng các chàng trai quần chẹt trên cây đu ở đầu bản thì trên gốc, thân, cành dâu da đất bắt đầu nứt ra những vết nho nhỏ, báo hiệu một mùa đơm hoa quả mới. Từ những vết nứt đó nẩy ra những mầm cuống của chùm quả. Đầu tiên trông bé xíu, thế mà chỉ tháng trước, tháng sau, khi khắp nơi dân bản âm vang tiếng chầy giã bột nếp làm bánh trôi, bánh chay cho Tết Hàn thực mùng ba tháng ba thì cái mầm đó đã hiện rõ thành chùm hoa chi chít. Những bông năm cánh mầu trắng nhạt với nhị mầu vàng tỏa ra mùi thơm dịu ngọt. Thoáng cái, tuần trước tuần sau, hoa đã kết thành quả. Chùm quả cứ to dần, đến Tết Đoan Ngọ mùng năm tháng năm chúng đã lúc lỉu như đám ốc đá bám khắp thân, cành cây. Sau Tết Thất tịch mùng bẩy tháng bẩy, Tết Xá tội vong nhân rằm tháng bẩy những chùm quả đó đã đỏ rưng rức, trông rõ ngon mắt. Vào dịp Tết trung thu rằm tháng tám, khi lũ trẻ trong bản Phiềng, bản Mẫn thì thùm tiếng trống ếch chuẩn bị đón trăng rằm thì những chùm quả đó đã chín mọng.

Quả dâu da đất chín mát và ngọt. Ăn ngày trước đến ngày sau vị ngọt mát đó vẫn còn như đọng lại trong xúc giác. Theo lời cụ cố, Bùi Văn Nam bắc thang hái xuống, lựa những chùm to mọng dâng lên thắp hương trước linh sàng ở miếu thờ mà cụ dựng bên gốc cây, còn lại đem chia cho mọi nhà trong bản, gọi là lấy lộc. Nam cũng không quên phần cho bạn gái là Xuân, cô giáo Tổng phụ trách Đội, Bí thư chi đoàn trường Trung học cơ sở xã.

Năm nay, dâu da được mùa, sai quả. Mới qua Tết Thất tịch mà khắp thân cành từ gốc đến ngọn từng chùm quả đã mòng mọng, trông rõ thích mắt. Thấy bảo phải chặt bỏ cây dâu da để làm đường, mọi người trong bản ai cũng xuýt xoa, tiếc rẻ. Người ta tiếc vì nó là cây lộc của cả bản. Những chùm quả kia vừa ngon miệng cả người già, lẫn người trẻ, lại còn ấm áp tình làng, nghĩa bản. Mang tiếng là cây của nhà Bùi Văn Nam nhưng khi hái quả cả bản đều được hưởng. Nó còn là gốc cổ thụ, báo cho dân bản biết từng cái Tết trong năm để mọi người nhớ về phong tục tập quán tổ tiên để lại.

Nghe tin dữ chuẩn bị chặt cây làm đường, cụ cố Bùi Văn Nam buồn lắm. Từ hốc mắt thẳm sâu của cụ, thư thoảng những giọt nước mắt nhểu ra, lăn trên gò má nhăn nheo. Ánh mắt thất thần của cụ trông thật tội. Cụ biếng ăn, biếng ngủ, thơ thẩn bên miếu thờ từ sáng đến tối, từ tối đến đêm, lại từ đêm đến sáng. Con cháu cụ, đứa là chủ tịch xã, đứa công tác ở Mặt trận Tổ quốc huyện, đứa là nhà văn, nhà báo, đứa giáo viên, kỹ sư, bác sỹ về thăm cụ, khuyên cụ đừng buồn nữa, mất một cây dâu da đất nhưng được bản làng Nông thôn mới, đem lại ấm no cho mọi người, khang trang cho con cháu. Những tưởng cụ nghe ra, thế nhưng cụ càng buồn. Nỗi buồn của người già trông thật tái tê, thiểu não.

Bùi Văn Nam là Bí thư chi đoàn bản Mẫn và bản Phiềng. Nam ở với cụ từ khi bắt đầu đi học chữ. Bố mẹ Nam không nỡ để cụ thui thủi một mình nên nhiều lần khuyên cụ ra nông trường với con, với cháu, nhưng cụ bảo còn phải ở nhà hương khói cho tổ tiên. Thế là Nam ở nhà với cụ, thấm thoắt đến nay đã hơn chục mùa hoa mận nở.

Thấy cụ cố buồn Nam thương cụ lắm. Nhìn cụ tha thẩn bên miếu thờ Nam xót hết cả ruột. Đêm nào cụ cũng ngồi rầu rĩ dưới linh sàng. Ngọn đèn dầu heo hắt chỉ đủ soi bóng cụ nhỏ nhoi và cô độc đổ lờ mờ trên nền miếu. Không nỡ để cụ một mình, Nam vác cái chõng tre ra kê ở góc miếu thờ để hai cụ cháu nằm đỡ lạnh

Khuya. Sương rơi lộp bộp. Nam thiu thiu ngủ. Bỗng có tiếng động trên linh sàng. Một chú bộ đội người tầm thước, khuôn mặt chữ điền, áo trấn thủ đã sờn, mũ ca-nô có gắn ngôi sao vàng đến bên Nam xoa đầu bảo “Cháu đừng chặt cây dâu da kỷ niệm của cụ nhé.” Nói xong hình bóng chú nhạt nhòa, rồi biến mất.

Nam ngơ ngác, giật mình choàng dậy. Thì ra anh mơ ngủ. Cụ cố vẫn đang thì thầm như nói chuyện với ai. Nam vội vàng thuật lại cho cụ nghe giấc mơ của mình. Cụ ôm Nam vào lòng bảo:

- Chắc là cụ ông cháu nghe thấy lời thỉnh cầu hiện về đấy!

- Cụ ông cháu về? Thế là sao ạ?

*

*   *

Theo lời cụ cố kể Nam mới biết, câu chuyện bắt đầu từ ngày bộ đội ta chuẩn bị mở chiến dịch Hòa Bình.

Đó là một ngày cuối năm. Mưa Xuân rây nhẹ khiến đất trời như bâng khuâng, thao thiết. Hoa mận đã nở trắng ven đồi đưa mùi hương dìu dịu, len lỏi khắp bản. Thế nhưng Xinh chẳng còn bụng dạ nào để ý đến nữa. Anh Đông, người yêu của Xinh, theo bạn ra Tu Vũ đã mấy ngày nay chưa về. Nghe đâu anh muốn xin vào bộ đội chủ lực thì phải.

Dân bản ai cũng biết Xinh và Đông yêu nhau. Xinh vốn là người sơn nữ xinh đẹp của bản Phiềng, còn anh Đông là người con trai hay lam, hay làm của bản Mẫn. Hai người quấn quýt bên nhau như đôi chim cu trên cánh đồng lúa chín vàng mùa tháng mười sắp gặt. Bây giờ anh Đông đi vắng, bảo sao Xinh không mong ngóng?

Nửa đêm ngày thứ năm. Sương la đà khắp nơi, khắp chốn. Đám trâu con đứng, con nằm dưới sàn nhà đã im, thôi không rung mõ. Đông về. Anh khẽ khàng đến dưới buồng ngủ của Xinh, định chọc vào tấm lát sàn báo hiệu thì cửa buồng đã rung nhẹ, Xinh lách ra, ôm chầm lấy Đông thổn thức. Thì ra Xinh không ngủ, đang đợi Đông về. Hai người dìu nhau ra ổ rơm, thường ngày vẫn ngồi, bên gốc cây dâu da đất ở góc vườn. Cây dâu da đất này là cây Đông đã bứng ở thung lũng Mường Hoa, bên nền nhà cũ, nơi chôn rau, cắt rốn của anh, mang về. Họ cùng nhau trồng và hẹn bao giờ cây ra bói sẽ thưa với bố bầm hai nhà để nên duyên chồng vợ.

Bây giờ không kịp nữa. Đông bảo với Xinh đã xin với bộ đội Trung cho vào đơn vị để tham gia chiến dịch Hòa Bình đánh thằng giặc Pháp. Hôm nay Đông về báo tin cho Xinh, sớm mai anh phải đi sớm. Chiến dịch sắp vào lúc gay go, ác liệt rồi.

Nghe Đông nói Xinh hốt hoảng, thì thầm:

- Sao mà gấp gáp đến vậy?

- Ừ. Việc quân mà!

Xinh bối rối, không cầm được nước mắt. Cô gục vào lòng Đông, rưng rức. Cây dâu da đất trồng ngày ngày nào đã cao bằng con sào, sắp đến ngày ra hoa, kết trái. Theo lời hẹn ước, Đông và Xinh sắp thành vợ, thành chồng. Thế mà bây giờ Đông đi đánh giặc, biết lúc nào về. Mai anh đi, thăm thẳm núi cao, rừng rộng, Xinh ở nhà một mình một bóng. Mới vắng anh mấy ngày mà ruột gan Xinh đã như có ai châm lửa đốt. Nếu anh đi đằng đẵng Xinh biết sống thế nào đây?

Không kìm được nỗi lòng nhớ thương, trăn trở, Xinh ôm lấy Đông. Vòng tay cùng bầu ngực ấm nóng của người con gái Dao như có ma lực, khiến Đông không sao cưỡng lại được lửa lòng. Hơi ấm ổ rơm như tiếp thêm sức mạnh cho Đông. Họ mê mải trong niềm si mê của những kẻ đang yêu. Cây dâu da đất như muốn bầy tỏ tình thương cảm, vươn rộng cành lá che chắn sương khuya cho đôi tình nhân đang ở lúc say sưa, không biết giời, biết đất là gì nữa.

Sáng hôm sau Đông đi sớm. Suốt những đêm sau, Xinh ngẩn ngơ, thu mình trong ổ rơm mà Đông để lại, như không muốn làm nhạt đi hơi ấm của người mình yêu thương da diết.

*

*   *

Thấm thoắt đã chín tháng mười ngày. Xinh đến ngày sinh nở. Trước đó cô đã cơi cái ổ rơm tình nghĩa của mình thành cái chòi nho nhỏ để đón con. Cô không muốn vào nhà. Ổ rơm và cây dâu da là hơi ấm của Đông để lại, cô không muốn xa nó. Xinh đặt tên con là Bắc. Bố Đông, con Bắc. Đúng là ý chí nam nhi thời loạn lạc. Cô muốn đứa con trai bụ bẫm của cô luôn được bố nó chở che, bao bọc.

Khi Bắc bắt đầu bập bẹ thì Đông trên đường hành quân lên Tây Bắc được ghé qua nhà. Anh ôm con vào lòng và hít hà mùi mồ hôi quen thuộc của vợ với biết bao tình cảm nồng thắm. Cây dâu da đất giờ đã cao to, quả sai lúc lỉu khắp thân cành. Tán lá xum xuê che mát cái chòi rơm quen thuộc. Xinh lựa hái một chùm mọng nhất cho Đông. Quả dâu da đất chưa đủ độ chín, còn chua, nhưng đã rõ vị. Nó đậm đà, khiến cho Đông cảm thấy ấm lòng. Sáng sớm Đông trao con cho Xinh, rồi hối hả quay về đơn vị. Chiến trường đang giục giã gọi anh đi. Gần năm sau, bài hát “Giải phóng Điện Biên” vang lên khắp các bản làng báo tin quân ta đã hoàn toàn chiến thắng.

Một buổi chiều tháng bẩy, mưa ngâu giăng mờ lối vào bản Phiềng. Có anh bộ đội dáng người khắc khổ hỏi thăm nhà Xinh. Linh tính mách có chuyện chẳng lành. Xinh đứng như trời trồng khi anh bộ đội giới thiệu là Trung, mang kỷ vật của Đông về trao lại cho cô. Lòng Xinh tan nát. Cây dâu da đất hiểu đã vĩnh viễn mất đi người bứng nó từ thung lũng Mường Hoa về đây. Quả nó vụ ấy nhạt thếch, chua như mẻ. Còn thằng Bắc cứ ngằn ngặt khóc, dỗ thế nào cũng không nín. Xinh phải lấy bộ quần áo của Đông mà anh Trung mang về hơ qua lửa, ủ cho nó, nó mới chịu nín.

Mười lăm năm sau, Bắc đã trở thành một thanh niên cường tráng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta cũng bước vào giai đoạn quyết liệt. Với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.” Bắc từ biệt người mẹ thân yêu, người mang nặng đẻ đau ra anh, lên đường vào Nam đánh giặc. Trước khi đi, Bắc đã đưa về giới thiệu với mẹ người bạn gái của mình. Bà Xinh tóc đã lâm thâm, nhanh chóng làm mâm cơm trình báo tổ tiên, rồi đón cô gái đó về làm dâu con trong nhà.

Thấm thoắt Bắc vào chiến trường đã được hai năm. Anh đã chiến đấu trên mặt trận Đường Chín Nam Lào, mặt trận Khe Sanh rồi Thành Cổ Quảng Trị. Những bằng Dũng sỹ diệt Mỹ, Dũng sỹ diệt xe cơ giới, Huân chương Quân công tới tấp gửi về làm rạng danh bà Xinh ở bản Phiềng. Con Đoài, cháu nội của bà Xinh cũng đã qua thời kỳ tập lẫy, tập bò rồi lẫm chẫm biết đi.

Và cũng lại vào một chiều mưa ngâu đan những sợi mưa phủ kín bầu trời. Người bưu điện viên mắt đỏ hoe đưa cho bà Xinh tờ giấy báo tử của liệt sỹ Bùi Văn Bắc. Bà Xinh chết lặng người, khóc không ra tiếng. Con Đoài ngơ ngác thấy đông người đến nhà mà ai ai cũng khóc. Nó chẳng hiểu làm sao nên sợ hãi, nức nở bấu chặt lấy mẹ nó đang vật mình tức tưởi. Cây dâu da đất năm ấy chỉ đậu được vài chùm đủ để thắp hương trên linh sàng nơi miếu thờ bà Xinh dựng bên gốc cây, còn lại quả rụng hết, thành từng đống dưới gốc.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, bà Xinh chẳng mấy chốc tóc đã bạc trắng. Đoài đã thành cô gái người Mường nết na thùy mị, xinh đẹp giỏi giang. Hai mươi năm rồi còn gì. Chồng Đoài là công nhân nông trường. Anh chẳng đâu xa lạ, cũng người bản Phiềng. Thế là họ vẫn là người bản bên này, người bản bên kia, uống chung nhau một mó nước.

Vợ chồng Đoài sinh thằng Nam, bà Xinh được lên chức cụ. Cụ Xinh đã già, người Dao lại có tục ở rể, nhưng khi con rể và con gái xin phép, muốn cùng nhau ra nông trường lập nghiệp, cụ cũng đồng ý. Cây dâu da đất như cũng đồng cảm với cụ, năm ấy quả như ngọt hơn, mát hơn, nhiều nước hơn.

Việc đổ bê tông con đường nối bản Phiềng với bản Mẫn rồi cũng sắp đến ngày khởi công. Cây dâu da đất cũng chuẩn bị đến ngày phải chặt hạ. Bùi Văn Nam không biết làm thế nào, rền rĩ bảo “Cây này là kỷ vật của cụ tôi, ai chặt hạ, cụ tôi quở đấy”. Cánh thanh niên trong bản cười khẩy, chẳng ai nghe. Họ mặc kệ lời Nam, cứ mang rìu đến ướm thử vài nhát vào gốc. Thế nhưng, mới ướm thế mà lưỡi rìu cái đã quặn lại như tôi non, cái vỡ thành miếng như tôi quá nhiệt. Từ thân cây thoang thoảng phát ra tiếng kêu ai oán. Người ta nghe đâu đây có tiếng hát ví, tiếng đâm đuống, tiếng nhạc xinh-tiền, tiếng múa sạp, tiếng đu quay như những ngày Tết nhẩy, Tết roi của người Dao, người Mường. Các bủ già trong bản cả quyết đấy là âm vang từ những ngày lễ hội thủa trước ngấm vào cây vọng ra.

Đám thanh niên hoảng hốt tháo lui. Người ta cầu cứu đến mấy ông lái máy ủi, máy xúc đang làm đường trên xã xuống giúp. Nhưng lạ thật, hễ ben cứ hạ đến gần cây là y như rằng động cơ rú lên ằng ặc rồi tắt lịm. Đến nước ấy thì người có gan mấy cũng đành chịu, chẳng ai dám làm điều dại dột cả.

Các bủ già lại được mời đến để hỏi ý kiến. Mọi người đều thấy cần phải nắn con đường nối hai bản, đổ bê tông kiên cố để con cháu không phải vất vả sau này, nhưng không ai dám cả quyết chặt cây dâu da đất. Không gian lúc im ắng, lúc ầm ĩ. Hễ có ý kiến bàn tiến, lại có ý kiến bàn lui, chẳng giải quyết được gì. Trong sự ồn ào đó, người tinh mắt để ý sẽ thấy cụ Xinh lưng còng xuống, đứng khuất sau tấm dạ bên gốc cây, hốc mắt trũng sâu, phờ phạc, còn Nam hết đi ra, lại đi vào miếu thờ, dáng như muốn cầu xin một điều gì hệ trọng lắm.

Đêm xuống dần. Tiếng đôi chim tử quy gọi nhau mỗi lúc một xa về phía núi. Sau khi thay cụ cố thắp tuần nhang mới trên linh sàng, Nam đã ríu mắt gật gà, gật gù trên chiếc chõng tre như mọi khi. Trong lúc chập chờn mơ tỉnh đó, tâm trí anh cộn lên những áy náy. Rõ ràng việc mở đường nối hai bản là việc không thể không làm, nhưng việc chặt hạ cây dâu da đất ghi dấu bao nét văn hóa của bản làng từ bao đời nay và là kỷ niệm của cụ cố anh đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc cũng thật khó khăn. Những đốm đỏ của tâm nhang mà Nam dâng lên nơi linh sàng đêm nay cũng bồn chồn, khi mờ lúc tỏ. Tiếng thì thầm của cụ cố Xinh vẫn đều đều nói với cây, với đất. Lời của cụ cũng mong manh như sức lực của người già vậy.

Bỗng Nam choàng dậy. Có gì bồng bềnh giống làn khói nhang trên linh sàng thoáng qua trong suy nghĩ của anh. Sự thoáng qua đó vừa bất chợt, vừa mơ hồ và mơ hồ nhưng lại rất thiêng liêng. Anh yên lặng, trấn tĩnh dần dần. Xâu chuỗi lại tất cả, Nam thấy đúng là cụ cố vừa hiện về mách anh giải pháp. Anh tỉnh hẳn, những dự định của anh cũng rõ ràng dần. Anh trình bầy khúc triết cho cụ cố ngoại nghe. Cụ đồng ý, bảo anh thắp hương xin cụ ông một lần nữa. Trong đêm khuya thanh vắng, mùi thơm của những chùm dâu da đất như thơm hơn, khiến linh sàng càng toát lên vẻ linh thiêng và đầm ấm.

Sáng hôm sau Nam đến trường gặp Xuân. Hai người thì thầm với nhau cả buổi về việc nhân giống cây dâu da đất trong vườn thực nghiệm của nhà trường. Họ hết xóa, lại vẽ, rồi chỉ trỏ trên bản đồ, ra chừng tâm đắc lắm.

Đã đến rằm trung thu. Dâu da đất đã đến ngày thu hoạch quả. Các cán bộ của hai chi đoàn Nam và Xuân đã tề tựu đông đủ ở nhà Nam. Họ bắc thang, cắt từng chùm dâu da đất xuống. Sau khi dâng hương trên linh sàng, họ lựa chọn ra những quả to nhất đem ủ riêng, nhân giống trong vườn thực nghiệm của nhà trường, còn lại đem chia cho dân bản.

Cuối mùa thu, con đường bê tông nối bản Phiềng và bản Mẫn bắt đầu được khởi công. Sau khi Nam thắp tuần nhang trên linh sàng thưa với cụ cố, cây dâu da đất dễ dàng được hạ xuống. Hơn một tháng sau con đường đã hoàn thành. Hai bên đường các hố đất cách đều nhau đã được ủ phân, lấp đầy đất.

Chẳng mấy chốc trời đã sang Xuân, mưa bụi giăng mờ báo hiệu trời chuyển ấm. Trong vườn thực nghiệm của nhà trường những bầu đất ươm hạt dâu da giờ đã lên thành cây non. Hoa xoan nở tím trên đồi báo hiệu mùa trồng rừng đã tới. Từng đoàn con cháu, cổ quàng khăn đỏ nâng niu từng bầu cây dâu da giống, đem trồng suốt dọc đường nối hai bản người Mường và người Dao. Thế là từ một cây dâu da đất từ bản Mường Hoa mà cụ cố Bùi Văn Đông mang về trồng xưa kia, nay đã được nhân ra cả trăm cây, đem lại sinh khí cho bộ mặt Nông thôn mới của bản Phiềng và bản Mẫn.

Nam và Xuân tay nắm tay nhau, nét mặt rạng ngời, dìu cụ cố ngoại Bàn Thị Xinh chống gậy trúc, thanh thản đi trên đường bê tông rộng, ngắm nhìn hàng dâu da đất mới trồng. Họ nói với nhau về tương lai. Chỉ vài năm nữa thôi, những cây dâu da đất này sẽ đơm hoa, bói quả. Bất giác trên đôi môi tưởng như đã khô héo của cụ cố nở một nụ cười mãn nguyện.

                                                                                                          V.Q.K


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.