NỘI DUNG CHI TIẾT
Dòng máu anh hùng
8/16/2017

 

                                                                        

 

 

Ngày 05/6/1969, giữa mùa mưa, tôi vào đến chiến trường B2 - miền Đông Nam Bộ, được bổ sung về Trung đội Trinh sát D8/E3/F9. Đơn vị đã tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, từ chiến trường tam giác sắt Củ Chi - Gia Định, mới về củng cố ở Bến Tháp - Cầu Đương, ven sông Vàm Cỏ Đông, vùng biên giới huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Sáng hôm sau, các chiến sĩ mới được huấn luyện nghiệp vụ trinh sát, khoa mục: Đi theo góc phương vị tìm vật chuẩn đến mục tiêu xác định trên bản đồ. Khi xuyên qua cánh rừng khộp, tôi thấy cây cối gãy đổ ngổn ngang, trơ thân cành, trụi hết lá, mặt đất loang lổ các hố bom, pháo của địch, nhưng vẫn đầy ắp tiếng nói cười vui vẻ và lời ca tiếng hát của các chiến sỹ ta đang lau chùi vũ khí, khâu vá quần áo, cắt tóc cạo râu, có anh còn cầm bút hý hoáy viết vào sổ tay những dòng nhật ký, thơ ca mới sáng tác... Tôi đang mải mê quan sát, vui lây với không khí lạc quan, yêu đời của những người lính trẻ vừa bước ra từ vùng đất chết, thì bỗng nghe thấy tiếng ai đó gọi tên mình, lại đúng cái tên đệm xấu xí từ hồi còn nhỏ: - “Thằng Tèng hả?”. Tôi liền đưa mắt nhìn về phía gốc cây cám già, bị bom Mĩ phạt cụt ngọn, thân cây chẻ tướp như đóm, vẫn còn bám đầy vết kếp của bom xăng cháy đen thui. Thấy một người dáng vẻ thấp, đậm, nước da nâu, đôi mắt sáng, nụ cười hiền, mặc bộ quân phục bằng vải polinphăng cũ, sờn vai, tay lấm lem dầu mỡ, đang lau chùi khẩu súng và những viên đạn B41. Tôi sửng sốt nhận ra Nguyễn Văn Thích, người cùng quê Sơn Vi (Lâm Thao), lại cùng tuổi, hồi nhỏ học cùng lớp ở trường làng. Hai đứa chúng tôi quá vui mừng phấn khởi, vội ôm choàng lấy nhau, xúc động như gặp lại anh em ruột thịt trong nhà. Tôi biết tính nết Thích vốn hiền lành, ít nói, vẻ lầm lì, nên liền sốt sắng hỏi anh và được biết:

Anh nhập ngũ và đi Nam năm 1966, tham gia nhiều trận đánh, là xạ thủ súng B41 nên đã bắn cháy được mấy chiếc xe tăng Mĩ, phá hủy nhiều lô cốt đầu cầu của địch, được tặng thưởng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mĩ, kết nạp Đảng và phong chức vụ Tiểu đội trưởng A hỏa lực C8/D8. So với tuổi đời, thấy anh như thế là tiến bộ rất nhanh, khiến tôi khâm phục. Nhưng từ ngày đi Nam anh vẫn bặt tin gia đình và quê hương. Nên giờ đây anh rất háo hức nghe tôi kể về tình hình bố, mẹ, các em trong gia đình, chuyện làng xóm, quê hương, các bạn bè thân thiết, chuyện sản xuất và chiến đấu của chị em “Ba đảm đang” ở hậu phương... Tôi cũng thông báo cho anh biết một tin đau buồn: Ngày 12/3/1967, máy bay giặc Mĩ ném bom tàn phá Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao và rải bom bi giết hại 21 người dân Sơn Vi, trong đó có thầy giáo Nguyễn Văn Tâm, là người con trai cả của bác ruột anh. Tôi không ngờ thấy anh ôm mặt khóc nức nở, lát sau mới ngước lên nhìn tôi với đôi mắt đỏ hoe, ướt lệ, da mặt tím tái khác thường, biểu lộ thái độ đầy căm thù, uất hận quân giặc. Rồi anh giơ nắm tay lên ngang đầu:

- Tao với mày cùng thề: Quyết tâm trả mối thù này cho nhân dân quê hương.

Tôi cũng vội đưa nắm tay lên và nói ba lần:

- Xin thề! Xin thề! Xin thề!!!

Anh lấy ra một bịch thuốc lá rê, mời tôi cùng hút. Đôi mắt anh bỗng sáng lên, kể cho tôi nghe những tấm gương chiến đấu hy sinh của những người con quê hương tham gia chiến đấu trên chiến trường B2: Liệt sỹ Trần Văn Tám (Ta), Khẩu đội trưởng súng ĐKZ57, bắn cháy 02 xe tăng địch trên Quốc lộ 22, Tây Ninh. Liệt sỹ Nguyễn Văn Ngâm, xạ thủ súng trung liên, bị thương vẫn không rời trận địa, đánh địch đến viên đạn cuối cùng trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Liệt sỹ Nguyễn Văn Tĩnh, Đại đội phó đặc công, dùng thủ pháo diệt nhiều quân địch dưới hầm ngầm sân bay TécNíc, Bình Long. Liệt sỹ Nguyễn Bách Hợp, Đại đội trưởng, bị thương nặng, nhưng không chịu trở về hậu phương, xin tiếp tục ở lại chiến đấu, xây dựng đơn vị anh hùng... Điều khiến anh vui nhất là tất cả những người con quê hương đang tham gia chiến đấu ở chiến trường này, đều giữ vững lời thề sắt son khi lên đường chiến đấu, không ai chùn bước trước khó khăn gian khổ, ác liệt, hy sinh, thà chết chứ không chịu đầu hàng địch. Tôi nghe và hiểu ra anh cũng có ý nhắn nhủ những chiến sỹ mới như tôi, phải giữ vững được truyền thống tốt đẹp của quê hương. Anh còn thông báo cho tôi biết trong đơn vị E3 có một số đồng hương tỉnh Vĩnh Phú (cũ) và huyện Lâm Thao: anh Đặng Khắc Thể xã Xuân Huy; anh Hoàng Oanh xã Tứ Xã; anh Trần Duy Quang xã Thạch Sơn; anh Nguyễn Quốc Thành xã Xuân Huy; anh Nguyễn Quốc Việt xã Bản Nguyên... Anh khoe: - “Đại đội trưởng C8 này là anh Nguyễn Đức Thụ, người xã Lê Tính (cũ), tuy chỉ là người đồng hương trong huyện, nhưng anh Thụ luôn coi tao như đứa em trai ruột thịt, đã hết lòng yêu thương, chăm sóc và tận tình giúp đỡ mỗi khi gặp khó khăn. Giờ đây lại có thêm mày là đồng hương cùng làng, gần gũi, thân thiết nhất, thế là tao phấn khởi, an tâm rồi”. Anh cười rất vui và bảo: -“Để lúc sống thì tao cùng mày tâm sự cho vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương; còn nếu chẳng may thằng nào chết, thì có người chứng kiến, về nói lại cho người thân gia đình biết, đỡ phải đi tìm, tốn công, tốn của”.

*

Đầu tháng 12/1969, những ngày cuối mùa khô, E3 nhận lệnh rời chiến trường miền Đông Nam Bộ, về chiến trường miền Trung Nam Bộ - Quân khu 2 (cũ) để thực hiện nhiệm vụ tham gia đánh phá kế hoạch bình định, làm thất bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ và chính quyền Sài Gòn.

Nhiệm vụ của đơn vị bước một là: Tiến công hệ thống đồn bốt biên giới tỉnh Kiến Tường, để mở ra cánh cửa hành lang, tạo điều kiện thực hiện bước hai: Đưa cả lực lượng lớn của đơn vị thọc sâu xuống đứng chân chiến đấu, ở vùng Đồng Tháp Mười.

Đơn vị phát động chiến dịch mở màn, tổ chức các trận đánh phục kích tầu chiến địch trên sông Vàm Cỏ Tây. Đây là đối tượng kẻ thù hung bạo, nguy hiểm nhất trên chiến trường đồng bằng có nhiều sông nước, với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Ngày đêm, chúng vẫn thường xuyên tuần tra kiểm soát gắt gao, hòng ngăn chặn quân ta từ xa, nhằm bảo vệ và cơ động chi viện cho hệ thống đồn bốt và các ấp chiến lược ở Long Khốt, Bình Châu, Hòa Bình, Măng Đa...

Sau 3 ngày đêm “chém vè” bí mật theo dõi tình hình địch trên sông Vàm Cỏ Tây, đoạn ngã ba kênh Long Khốt, huyện Mộc Hóa (Kiến Tường), tổ trinh sát chúng tôi thấy ở đây có 3 chiếc tàu chiến địch, được trang bị súng 12 ly 7 và cối 81 ly, mỗi chiếc tàu chở theo một Trung đội lính Sài Gòn. Ban ngày các tàu này đều nổ máy ầm ầm, chạy rẽ nước tuần tra trên sông, thỉnh thoảng lại dừng lại để lục soát các tàu, thuyền nhỏ chở hàng của đồng bào, có khi chúng trắng trợn bắt người và cướp đi hàng hóa của những ai bị chúng nghi ngờ tiếp tế cho Việt cộng. Nhưng tối đến, những chiếc tàu chiến này lại không nổ máy, ngụy trang kỹ bằng cành lá cây, đi lẫn vào những mảng lục bình rất lớn, lặng lẽ thả trôi trên sông. Chính chúng tôi cũng bị bất ngờ với thủ đoạn thâm độc này của địch. Nhưng dẫu chúng có ranh ma quỷ quyệt đến đâu, cũng không thể qua được đôi mắt tinh tường của người chiến sỹ trinh sát chúng tôi. Vì bọn lính gác đứng trên boong tàu đã bất chấp lệnh chỉ huy vẫn thường xuyên hút thuốc lá, phát ra những đốm lửa lập lòe, chẳng khác nào “Lạy ông con ở bụi này”. Qua đó giúp chúng tôi dễ dàng phát hiện ra tàu chiến địch. Đây là thủ đoạn nham hiểm, nhằm bí mật phát hiện từ xa, nếu thấy quân ta tổ chức vượt sông trong đêm tối, chúng sẽ lập tức cho tàu chiến nổ máy xông thẳng vào đội hình đối phương, rọi đèn pha, bắn pháo sáng, nổ súng tiêu diệt, khiến quân ta trở tay không kịp, ắt phải chịu tổn thất lớn trên sông. Chúng tôi còn phát hiện ra thêm 3 chiếc tàu chiến này, chỉ hoạt động mạnh trên sông vào thời gian chập tối và gần sáng, khoảng 10 giờ đêm về neo đậu để ăn uống, nhậu nhẹt và chơi bời ở đoạn ngã ba kênh Long Khốt. Chúng dựa vào sự yểm trợ của chi khu Long Khốt, nên thường chủ quan mất cảnh giác, có tên lính bỏ cả gác để đi ngủ. Đến 4 giờ sáng hôm sau, các tàu chiến địch mới rời đi, tiếp tục tuần tra trên sông. Khi cấp trên đơn vị nghe tổ trinh sát báo cáo tình hình, đã lợi dụng sơ hở của địch, quyết định giao nhiệm vụ cho C8 chọn địa điểm ngã ba sông Vàm Cỏ Tây - kênh Long Khốt, làm trận địa phục kích đánh tàu chiến địch.

Xế chiều 17/12/1969, tổ trinh sát chúng tôi thực hiện nhiệm vụ bám địch, dẫn đường và phối hợp với C8 phục kích đánh 3 chiếc tàu chiến này. Chúng tôi tới nơi, thấy anh em C8 trú quân trên bờ đất của con rạch ấp Ban Chăng, giữa làn ranh giới của biên giới Việt Nam - Campuchia, núp mình dưới tán những cụm le thưa, nắng nóng mùa khô đã làm rụng hết lá, may mắn còn có những bụi cây dứa gai lâu năm. Loại cây đặc trưng cho tinh thần bám trụ kiên cường chiến đấu của quân và dân ta ở vùng biên giới này, vừa chịu được nước phèn chua ngập suốt 6 tháng mùa mưa và vừa chịu được khô hạn cả nửa năm trời, nên cây có bộ rễ to khỏe bằng cổ chân người, hình bàn tay xòe ra úp ngược cắm những ngón tay sâu vào lòng đất. Những chiếc lá xanh mướt, đầy gai nhọn sắc, có bản lá to dài như chiếc đòn gánh vươn lên, hình mũi gươm ở chóp lá. Nhiều cây dứa gai kết lại với nhau thành bụi lớn to như cây rơm, lá đan lại thành hình chiếc ô khổng lồ che bóng mát. Anh em ta thoải mái mắc võng và trải nilon nằm nghỉ ngay dưới bộ rễ của những bụi dứa gai này. Đại đội trưởng Thụ tỏ ra sốt ruột vì phải chờ đợi lâu, nên anh cho biết đơn vị đã sẵn sàng xuất kích, với quyết tâm chiến đấu rất cao, nhằm giành thắng lợi trận đánh mở màn cho chiến dịch mùa khô này, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/1969). Tiểu đội trưởng trinh sát Ngô Văn Ánh, quê xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc (cũ), lấy ra tấm bản đồ quân sự, báo cáo tình hình địch và hợp đồng chiến đấu cụ thể với C8: Khi dẫn bộ binh tới bờ sông chiếm lĩnh trận địa xong, tổ trinh sát có nhiệm vụ phục kích trên đường nhằm chặn đánh địch ở chi khu Long Khốt bung ra chi viện cứu nguy cho tàu chiến địch và đề nghị chờ trời tối hẳn mới xuất phát, như thế sẽ đảm bảo bí mật bất ngờ, đề phòng tai mắt địch trong dân quanh đây.

Tôi xin phép anh Ánh, tranh thủ đến thăm đồng hương. Thấy tôi, anh Thích vui vẻ khoe:

- Tiểu đội hỏa lực của tao đêm nay tham chiến có 1 súng cối 60 ly, 1 súng B41 và 2 súng B40, với cơ số đạn được tăng cường, đủ sức tiêu diệt cả 3 chiếc tàu địch, cùng anh em đơn vị cho tất cả lũ chúng nó xuống sông chầu Hà Bá.

Nói đoạn, anh vác khẩu súng B41 đã lắp đạn lên vai, làm động tác quỳ gối, nghiêng người, nheo mắt để kiểm tra ngắm bắn thử. Như có ý khoe với tôi về sự thành thạo thao tác loại vũ khí có uy lực mạnh mẽ và hãy tin tưởng vào anh sẽ tiêu diệt được tàu chiến địch. Tôi chợt liên tưởng: trong các trận đánh: xạ thủ B40, B41 và các loại hỏa lực của ta thường bị địch tập trung diệt đầu tiên, nên băn khoăn, lo lắng hỏi:

- Tao tưởng mày là Tiểu đội trưởng rồi thì chỉ sử dụng súng AK chiến đấu và chỉ huy anh em là được.

Thích cười hiền, rỉ tai tôi nói nhỏ:

- Đúng ra là thế đấy. Mỗi khẩu súng B41 này được biên chế hai xạ thủ chính và phụ. Nhưng cả hai thằng chúng nó đều là lính mới bổ sung chưa qua chiến đấu, nên tao xin đảm nhận khẩu súng B41 trong trận đánh này cho chắc thắng, để trả thù cho người thân gia đình và nhân dân quê mình.

Tôi lặng người trước câu nói thốt ra từ gan ruột của anh, càng thêm quý mến và cảm phục tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm không quản ngại hy sinh gian khổ của người đồng hương thân thiết.

Hai chúng tôi ngồi im lặng, chia nhau hút điếu thuốc lá rê dưới tán bụi dứa gai. Tôi đoán Thích cũng như tôi đang thả tâm hồn bay bổng nhớ về quê hương xa vời, nơi có những người thân yêu không biết đến bao giờ được gặp lại (?). Nhớ xiết bao những người bạn gái làng Vầy, có mái tóc dài óng ả, đôi mắt biếc, tiếng cười giòn tan và giọng nói mát lành như nước giếng Làu. Tôi cười thầm chợt nghĩ, không biết giây phút này có cô bạn nào còn nhớ đến hai chúng tôi, sắp bước vào cuộc chiến đấu sinh tử, dẫu đã 21 tuổi đời mà vẫn chưa từng được nếm trải hương vị ngọt ngào của tình yêu, dù chỉ là một nụ hôn của bạn gái...

Bỗng Thích rít tiếp hơi thuốc lá thật dài, ném mạnh đầu mẩu xuống nước, quay lại nhìn tôi và cười nói tự nhiên:

- Tao dặn mày nhé: nếu đêm nay tao chết, mày hãy mang xác tao về chôn ở dưới gốc bụi cây dứa gai này, để nhớ mãi kỷ niệm hai thằng mình ngồi tâm sự trước giờ xuất kích và tao còn nương vào hình bóng của mày để cùng về thăm lại cha mẹ, gia đình và quê hương.

Dẫu tôi đã quen nghe những lời nói cửa miệng tếu táo dại dột kiểu như thế của đồng đội trước khi ra trận. Biết là nói để giải tỏa suy nghĩ căng thẳng và bám vào hy vọng may mắn còn sống trở về. Nhưng lần này nghe Thích nói, tôi hơi chột dạ và linh cảm sẽ có điều không hay đến với anh. Nên tôi vội cười xí xóa, nói giọng đầy lạc quan:

- Thằng nào vào trận đánh mà chẳng lo chết, nhưng chết đâu phải dễ, mà mày chết thế đếch nào được,  đừng nói gở miệng.

Hình như không nghe lời tôi nói, Thích tiếp tục với dòng suy tư liên tưởng trong đầu:

- Tao biết chiến công nào cũng phải trả giá đắt bằng chính máu xương của anh em mình. Nên tao sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Nếu mày còn sống trở về, nhớ động viên bố mẹ và các em tao đừng buồn khổ, bớt suy nghĩ và hãy tự hào với đứa con biết sống xứng đáng, đã hy sinh anh dũng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho cách mạng, sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mày hứa với tao thế nhé!

Tôi nổi khùng, hứa liều cho Thích vui lòng và dặn lại:

- Ừ! Thì tao hứa... Nhưng nếu đêm nay tao chết, mày cũng phải hứa với tao làm những điều như thế nhé!

Hai đứa chúng tôi ôm nhau cùng cười hề hề, như truyền thêm tinh thần chiến đấu dũng cảm và niềm tin tưởng lạc quan yêu đời vốn có của tuổi đôi mươi. Bỗng một trái pháo sáng màu xanh biếc của địch từ chi khu Long Khốt bắn lên trời, như bóng ma chơi chập chờn trước mặt. Cũng là lúc có lệnh tập trung đơn vị xuất kích chiến đấu. Hai chúng tôi chia tay nhau để đi thực hiện nhiệm vụ của mình.

Khoảng 9 giờ tối, tổ chính sát dẫn C8 tới ngã ba sông Vàm Cỏ Tây - kênh Long Khốt và triển khai chiếm lĩnh trận địa xong, chúng tôi được lệnh rút khỏi trận địa. Bỗng Thích nắm tay tôi nán lại, anh dúi cho tôi bịch nilon đựng thuốc lá rê hút dở, mà không nói thêm điều gì. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ rằng: anh chuẩn bị xuống công sự chiến đầu ngập nước, sợ bị ướt các thứ này nên nhờ tôi cầm hộ. Nên tôi vội đi mà quên nói lời cảm ơn. Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn ân hận với anh về điều đó.

Tổ trinh sát bí mật tiền nhập vào cổng ấp chiến lược Long Khốt, tôi gài hai quả mìn Claymo ở con đường đất đón đánh quân địch sẽ ra chi viện cho tàu chiến. Anh Ánh phân công anh em cảnh giới sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi cùng nghe ngóng động tĩnh trong đêm tối và hướng về ngã ba sông, hồi hộp và háo hức chờ đợi điều hệ trọng sắp xảy ra.

Đúng 10 giờ đêm, chúng tôi bất ngờ nghe thấy những tiếng súng B41, B40, cối 60 và AK cùng nổ ầm ầm, kéo theo những ngọn lửa cháy bùng lên soi sáng cả khúc sông. Tôi sung sướng muốn nhảy cẫng lên để hò reo cho hả dạ... Nhưng phải im lặng ngắm nhìn. Địch ở trong chi khu Long Khốt hốt hoảng báo động, cuống cuồng bắn pháo sáng lên trời và bắn cối 81 ly cùng những tràng đại liên vu vơ ra đồng cỏ trước mặt, nhưng chúng không dám điều quân ra ứng cứu, mặc cho lũ tàu chiến chết chìm trên sông. Mấy phút sau, tiếng súng của ta đã im lặng. Tôi đoán C8 đã hoàn thành nhiệm vụ và tổ chức rút quân. Anh Ánh cũng cho tổ trinh sát thu dọn vũ khí, trang bị, nhanh chóng rời trận địa phục kích. Chúng tôi phấn khởi băng qua cánh đồng cỏ trở về căn cứ Ban Chăng. Bất ngờ thấy pháo địch từ tiểu khu Mộc Hóa bắn cấp tập chặn đường rút của quân ta, cùng lúc 3 chiếc trực thăng bay tới, quần đảo trên trời và phóng đạn rocket xuống, cánh đồng cỏ phút chốc biến thành biển lửa, khói trắng bốc lên cuồn cuộn. Tôi vô cùng lo lắng cho Thích và anh em C8.

Nửa đêm mới thấy anh Thụ đưa được anh em đơn vị về đến ấp Ban Chăng, gặp tôi anh vui mừng thông báo tin chiến thắng: Quân ta đã bắn cháy, bắn chìm cả 3 chiếc tàu chiến và tiêu diệt toàn bộ Đại đội địch đi trên tàu. Riêng Thích đã tiêu diệt được 1 tàu chiến địch. Nhưng rất buồn là có 3 chiến sỹ ta hy sinh, trong đó có Thích, vì anh quá mải mê dùng súng AK đuổi theo tiêu diệt mấy tên giặc còn sống sót bơi trên sông, rút lui muộn, nên anh đã bị trúng đạn pháo của địch. Tôi chạy đến nhìn Thích, qua ánh lửa rực cháy trên đồng cỏ, tôi thấy đôi mắt anh vẫn mở và miệng như cười đầy mãn nguyện, tự hào, nhắc nhở tôi ghi nhớ lời anh dặn. Tôi bỗng thấy nhói lên trong lòng, đau đớn khóc nức nở, đưa tay nhẹ nhàng vuốt mắt cho anh, lưu luyến khắc ghi mãi giây phút khâm liệm thi thể anh trong mảnh áo mưa và chiếc võng ni lông giản dị quen thuộc đi suốt cuộc đời người lính chiến. Anh Thụ đồng ý với tôi, tổ chức mai táng các Liệt sỹ trên bờ rạch Ban Chăng, dưới tán những bụi cây dứa gai theo đúng nguyện vọng của Thích. Sáng hôm sau, tôi liều mình đi ra giữa cánh đồng cỏ trống trải, sát bờ sông Vàm Cỏ Tây, mới tìm hái được mấy bông sen trắng, về đặt lên mộ Thích và các Liệt sỹ C8. Tôi nói trong nước mắt chảy giàn giụa:

- Thích ơi! Tao sẽ thực hiện đúng những lời đã hứa với mày. Cầu mong linh hồn mày yên nghỉ, phù hộ cho chúng tao chiến thắng trở về.

Trong đêm tổ chức lễ tang các Liệt sỹ C8. Tôi thấy có cả đồng chí Ba Nhóm, Bí thư Tỉnh ủy, cùng các đồng chí trong cơ quan Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Mặt trận giải phóng tỉnh Kiến Tường và rất đông đồng bào ấp Ban Chăng cùng đến dự lễ và thắp hương.

Ngày 04/9/2007, thể theo di nguyện của cụ Nguyễn Văn Thuế, khu 7, xã Sơn Vi lúc qua đời, căn dặn: Người con trai thứ hai là ông Nguyễn Văn Điều, cán bộ Bảo hiểm xã hội huyện Lâm Thao, một lần nữa đã đến gặp tôi, hỏi lại chuyện chiến đấu cũ và nhờ vẽ sơ đồ mộ chí, hướng dẫn địa chỉ nơi yên nghỉ của ông anh trai là Liệt sỹ Nguyễn Văn Thích, dưới bụi dứa gai ở bờ rạch Ban Chăng năm xưa. Sau đó, ông Điều đã  vào Nam, rất may mắn gặp được cụ Ba Nhóm, giờ đã hơn 90 tuổi, nhờ cụ đưa đi tìm và cất bốc được hài cốt Liệt sỹ Thích, mang về giao lại cho địa phương, để tổ chức Lễ quy tập vào Nghĩa trang Liệt sỹ xã Sơn Vi. Nhân dịp này, ông Nguyễn Đức Thụ, quê xã Vĩnh Lại và tôi, cùng đông đủ các Cựu chiến binh địa phương đến dự lễ, thắp hương, kể lại chiến công oanh liệt của Liệt sỹ Nguyễn Văn Thích năm xưa cho gia đình và dân làng cùng nghe. Nhân danh người chỉ huy đơn vị C8/D8 cũ, ông Thụ xúc động nghẹn ngào nói:

- Liệt sỹ Nguyễn Văn Thích, cùng 163 Liệt sỹ xã Sơn Vi đang an nghỉ nơi đây, đã nêu cao tấm gương chiến đấu anh dũng hy sinh, vì dân, vì nước, cho chúng tôi suốt đời học tập và noi theo. Máu của các anh đã tô thắm thêm trang sử vẻ vang của truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Các anh thật xứng đáng là những người con ưu tú, mang trong mình dòng máu anh hùng của nhân dân quê hương đất Tổ Vua Hùng.

                                            B.N.Q


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.