NỘI DUNG CHI TIẾT
LÂM QUÝ - nhà thơ... du canh du cư
8/16/2017

 

                                                                                            HÀ Lâm KỲ

 

Lâm Quý (Lâm Văn Quý) sinh năm 1947, quê ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, là nhà thơ của dân tộc Cao Lan. Anh còn là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Cao Lan có hạng và hiếm hoi. Ngày sắp chuyển vùng về Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), anh đến chào, tôi lấy rượu táo mèo ra mời, anh nhấp môi kêu “nhạt”.

- Can cớ nào mà anh ở lì lại đất Yên Bái tới những mười hai năm giời?

- Là thế này - Lâm Quý nói - năm 1991 tách tỉnh Hoàng Liên Sơn. Thông tấn xã Việt Nam gợi ý điều từ Vĩnh Phú lên, cho mình chọn hoặc Yên Bái, hoặc Tuyên Quang. Mình lên chơi, thấy Yên Bái dễ chịu và hấp dẫn. Còn đang cân nhắc. Khi gặp các bác Hà Thiết Hùng, Đỗ Khắc Cương (Bí thư và Chủ tịch tỉnh), bác Cương vỗ vai bảo: - Thôi, ở lại đây với chúng tớ! Thế là mình quyết định: Chuyển!

Lâm Quý kể tiếp: - Cả gia đình đang ở Việt Trì, bán nhà, dềnh dàng lên Yên Bái, tá túc ở trụ sở Thông tấn xã, năm miệng ăn, trông tất vào xuất lương của mình. Ý định chỉ ở nhiều nhất là ba năm nên không tính chuyện làm nhà, nhưng bà xã không có việc làm, kêu buồn, con thì đứa cấp ba đứa cấp hai, tiền đóng góp đòi hàng ngày. Lúc bấy giờ tình cờ gặp ông Mán Nhu - một ông già rất dễ đồng cảm với người có cảnh ngộ, ông Mán Nhu có cái nhà tạm sau chợ bệnh viện, ông bảo về đấy ở, nếu cần thì ông bán lại cả nhà cả đất. Dễ đến bảy tám mươi mét vuông, ông già chỉ lấy có chín triệu. Dọn nhà! Thế là bà xã có việc làm với cái nghề đi chợ, các cháu sau buổi học, cũng có thêm cái việc quét chợ. Còn mình, chiều chiều hỷ hả ngồi ngắm chợ và đọc báo.

Nhà thơ cười cười, nói tiếp: - Ở xóm chợ ngót năm năm, phức tạp quá, môi trường, tranh chấp, sức khỏe không ổn, đến giữa năm 1998 vợ chồng con cái lại trở về nương nhờ ở cơ quan Thông tấn xã. Anh Quân, Phân xã trưởng cảm thông nhận bà Sình (vợ) vào làm tạp vụ. Cơ quan chỉ có hai người vẫn thêm một tạp vụ không bằng cấp. Ấy thế mà mình cũng yên tâm, lần thứ hai, gia đình có hai người tham gia công tác. Mình đi nhiều hơn, viết khỏe hơn trong thời gian này, cho đến năm 2000 nhân sự kiện “thiên niên kỷ” mình mua một lô đất ở đường Lê Văn Tám - Thành phố Yên Bái rồi xây được cái nhà nhỏ thó, sung sướng vô cùng. Ngỡ tưởng là định cư, nào đâu nghỉ hưu tình quê hương trỗi dậy, mình quyết định bán nhà chuyển về Vĩnh Yên. Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc ưu ái cho mua thổ cư đất giá hữu nghị, mình cây que ở tạm gần năm nhưng không đủ tiền xây, lại bán, vợ chồng con cái dịch vào làng.

Lại bán, dịch vào làng! Lâm Quý bật cười. Cái cười của nhà thơ dân tộc thiểu số có nhiều nếp nhăn trên trán.

Quê hương thứ...

Có lần Lâm Quý bảo: - Tớ có đến ba quê hương!

Tôi bấm ngón tay: - Vĩnh Phúc này, Yên Bái này. Còn đâu nữa?

- Ơ. Chiến trường! Hà!

Năm 1972 tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lâm Quý cùng loạt sinh viên nhập ngũ, vào làm phóng viên Thông tấn xã giải phóng, lăn lộn chiến trường khu V suốt thời gian 1973 - 1975. Nhưng hình như lúc đó ngọn bút thi ca chưa được khẳng định. Bây giờ, giữa núi rừng Yên Bái nơi mà anh yêu mến, ngọn bút cơ hồ bay nhảy.

“- Mình nghe nói ở Văn Chấn có Suối Giàng đẹp như thần tiên, ao ước mãi, đến tận năm 1994 mình mới được đặt chân tới. Vì là phóng viên, cán bộ huyện Văn Chấn đưa ngay đến một cơ sở sản xuất chè Suối Giàng, đầu tiên gặp là vị Giám đốc tuổi trung niên, người xương xương, da ngăm đen, khắc khổ, anh giới thiệu: - Tôi là Chiến, dân bản gọi là Giàng A Chiến!”. “- Nhưng anh là người Kinh?”.  “- Đúng rồi! Người Kinh, quê dưới xuôi! “Anh Chiến đưa mình đi xem nhà xưởng xong, mới cho cái “bất ngờ“, là, ra đồi. Trời hôm đó đẹp quá, chè thì bạt ngàn, cây to mấy người trèo. Chứng kiến con gái Mông trắng xinh bước từ cành nọ sang cành kia, tay hái búp thoăn thoắt. Thế là trong đầu phác họa ngay bài thơ Huyền ảo Suối Giàng:Tiên Ông hiện về trong mây nắng/ Rắc trắng hoa chè xuống vùng cao/ Trăm năm rừng chè vươn thầm lặng/ Bốn mùa vương vấn với trăng sao...”.

Bốn câu đầu “thảo” rất nhanh, tạo được cảm giác gần gũi, thân thiện giữa trời và đất, giữa con người ẩn dụ với thiên nhiên hiện hữu: “Chén trà đậm sắc hương trời đất/ Hòa vào huyền ảo, Suối Giàng ơi!”.

Sau câu thơ mà nhà thơ vừa diễn cảm, tôi ngẫu hứng nâng ấm rót nước mời khách, chỉ tiếc, không phải chè Suối Giàng mà là chè tươi hái ở vườn nhà. Cụng ly. Lâm Quý “khà” rồi lại đặt chén xuống chiếu.

Tôi đổi ý

- Nghe nói lên Yên Bái, anh đã gặp tai nạn báo chí?

- Có! Đúng ra là sự cố nghề nghiệp.

- Ở Trạm Tấu?

- Đúng!

- Có chú bạn nói ở Trạm Tấu cháy rừng thông đến cả nghìn ha, mình định lên gấp nhưng không có phương tiện. Thế là hỏi qua têlêphôn, viết cái tin cháy rừng hai trăm (200) ha (thực ra chỉ cháy có hai (02) ha thì dập được lửa). Tin đăng rồi, lãnh đạo huyện phản đối vì sai số. Thông tấn xã Việt Nam yêu cầu kiểm điểm. Đấy là kỷ niệm. Nhưng kỷ niệm sâu sắc về Trạm Tấu không phải là việc cháy rừng mà là chuyện khác. Thế này. Hôm đó mình đi với Đoàn khảo sát thủy lợi lên xã Tà Xi Láng, đêm vào ngủ ở nhà trưởng bản. Lần đầu tiên ngủ nhà người Mông, cảm giác rất khác, vừa thấy ấm cúng, gần gũi, vừa có mùi vị xa lạ. Như nằm chênh vênh trên núi cao, lại như đang thăm thẳm dưới thung lũng. Đêm đó, không tài nào chợp mắt. Có tiếng chim. Vợ chồng chủ nhà lại lịch kịch chuẩn bị con ngựa thồ ngoài sân. Bài thơ Đêm vùng cao ra đời trong bối cảnh ấy: Trăng liềm móc vào đỉnh núi/ Kéo lên. Ngọn gió lao xao/ Gà gáy cuốc vào đêm/ Trăng tan từng mảnh/ Thác trắng ào qua thung/ Đêm vùng cao đèn sao mây núi/ Vấp phải tiếng ngựa hý ngang trời”.

- Thế còn bài  “Thêu cả bốn mùa“ anh viết ở xứ nào của người Mông?

- Có lẽ đấy là một sự tích hợp cảm xúc mỗi khi mình đến với đồng bào Mông Mù Cang Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu. Sự tích hợp cảm xúc ấy bị dồn nén, và nó tự bật ra khi bắt gặp một nhóm thiếu nữ Mông ở Trạm Tấu xuống núi: “Cô gái Mông/ Thêu cả bốn mùa vào gấu váy/ Vạt đằng trước thêu mùa nước chảy/ Xoa tròn đầu hòn đá dưới thung/ Vạt đằng sau dùng dằng đi hội/ Chàng trai mải nhìn vấp ngã sưng môi.../ Vạt bên phải thêu mùa nếp mới/ Tháng chín, chín cả lưng đồi/ Vạt bên trái thêu mùa đào hé nụ/ Nở dài theo dải địu con thơ...”.

Thêu cả bốn mùa đoạt giải B Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995.

Thi nhân, kiêm chức “Say phù”

Những năm tháng ở Yên Bái, ngoài công việc của một nhà báo là viết báo (có thời gian là Phân xã trưởng), và công việc của một nhà văn là viết văn. Lâm Quý còn là nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian. Hơn cả thế nữa, nhà thơ ấy còn là một... thầy cúng. Thầy cúng được cấp sắc, “bậc giáo sư trong ngạch thầy tào“ như lời nhận xét của nhà văn Hoàng Quảng Uyên.

Thừa hưởng sự truyền dạy của cha (ông Lâm Văn Thảo) ngay từ nhỏ, lại là người say mê văn chương báo chí. Lâm Quý thường bày giải: Làm thầy cúng mà đạt tới giá say phù là nắm được khá nhiều vốn văn hóa tâm linh truyền thống của người Cao Lan rồi đấy: “Yêu em anh bổ hòn đá núi/ Ấy nước non nguồn trong lõi đá nuôi em/ Thương em, anh chòi vầng trăng tỏ/ Lấy lửa mặt trời nướng chín em ăn” (Điều có thật từ câu dân ca).

Năm 1999, nhân chuyến đi làm phim bảo tồn di sản “Lễ hội đám tang của người Cao Lan“ thực hiện tại xã Tân Hương (Yên Bình, Yên Bái), khi Lâm Quý vừa rời chiếu cúng, tôi hỏi: - Bài thơ “Điều có thật từ câu dân ca” nhắc nhiều đến đá, cắt nghĩa thế nào? Lâm Quý giảng giải: Trong sách cúng bằng chữ nho của người Sán Chay (Cao Lan) có lời bài hát: Em ơi, em về giời trước, nhưng hồn chưa vội đi, chờ khi anh về, anh sẽ đưa (hồn) em lên hòn núi đá, anh bổ đôi hòn núi đá lấy nước cho em uống, rồi anh sẽ làm nhà trong lõi đá để ta lại sống bên nhau. Thì ra Say phù Lâm Quý đã khéo nhuần nhuyễn cả trong tang cathi ca, chả thế mà anh đã dầy công sưu tầm, dịch ra tiếng Việt và công bố Truyện tình thơ Cao Lan (Kó lau Slam), Sình ca

                                   (Xem tiếp trang 63)

Cao Lan và cả tập Truyện cổ Sán Chay trong hơn mười năm cuối đời với gần một ngàn trang sách. Nghệ nhân Thạch Văn Sinh dân tộc Cao Lan xã Tân Hương huyện Yên Bình (Yên Bái) nói:

- Ông Lâm Quý làm thơ, nói hộ chúng tôi cả về dân ca lẫn tục thờ cúng.

Tháng 3 năm 2001 cô giáo dạy văn Lê Hồng Sinh ở trường Sư phạm Nghĩa Lộ đến gặp tôi, ngỏ ý giúp đỡ tư liệu làm luận văn cao học về văn học dân gian Cao Lan, tôi giới thiệu Lâm Quý. Trong lời đề ở trang đầu Luận văn Thạc sỹ, Lê Hồng Sinh viết: “Trân trọng cảm ơn nhà thơ Lâm Quý, người con yêu dấu của dân tộc Cao Lan, đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này”.

Tất niên 2002, sắp vào giờ thắp hương, thi sỹ lãng tử phi con 82 đến chúc tết. Vợ tôi - cô giáo Oanh rót rượu, tất cả nâng chén. Tôi buột miệng mời đối: Chiều ba mươi, Lâm Quý thăm Lâm Kỳ, Lâm Kỳ quý Lâm Quý. Hôm sau, 10 giờ, tôi đáp lễ bạn, nhà thơ bảo con gái Lâm Đào Tiên dọn mâm, cắt bánh, và không quên “chúc sức khỏe”. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, Lâm Quý lại rót tiếp chén rượu nếp: “Chén này, đối lại chú: Sáng mồng một, Lâm Kỳ chúc Lâm Quý. Lâm Quý quý Lâm Kỳ. Ha Ha!“.

Anh chị Lâm Quý và các cháu về lại quê hương phải đến giữa năm 2003 mới hoàn tất thủ tục.

Yên Bái, dù không, hay có là quê hương thứ mấy đi chăng nữa, chắc chắn vẫn là nơi góp phần khẳng định ngòi bút: thi ca - dân gian - dân tộc. Ngòi bút ấy đã làm nên một Lâm Quý tinh thần: “Người Cao Lan vẫn hướng về vị nữ thần thơ ca của mình và hát. Có Lâm Quý cùng đi... Lâm Quý như người cầm đuốc, soi đường!”

Nhân năm năm, ngày mất của nhà thơ Lâm Quý

                                                                                                                  H.L.K


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.