NỘI DUNG CHI TIẾT
Trên đỉnh Đèo Mương
8/24/2017
             Truyện ký dự thi của Vũ Quốc Khánh
 
Tiếng gà rừng đã eo óc, kéo theo đám gà trống choai của nhà cô Mai ó ò o đua nhau gáy râm ran, báo trời đã sáng. Ấy thế mà màn sương đêm còn giăng kín khắp cả vùng Đèo Mương. Sương đặc quánh như nồi hồ đang nấu, chẩy nhão, len qua khe cửa, dâng lên ngập phòng.
Miên cuộn tròn trong chiếc chăn bông to sù sụ, im ắng lắng tai nghe đất trời đang thở. Ngót ba chục mùa lá rụng mà anh vẫn chưa có lập gia đình, xem ra đã là muộn. Vợ chồng người ta giờ này phải dậy lo cơm sáng cho con cái, lo giặt giũ, phơi phóng, con gà, con lợn. Một đống việc không tên quây lấy họ. Còn Miên, chưa có việc gì phải lo. Cái chân bị thương từ thời trận mạc, hôm qua phải leo một đoạn dốc dài để lên đây, giờ vẫn còn ê ẩm. Anh tự nhủ, mình có nằm rốn thêm một lúc nữa cũng chẳng có gì phải sốt ruột.
Có tiếng giầy cao gót gõ nhẹ trên nền gạch ngoài hiên, rồi dừng lại trước cửa phòng Miên. Đoán là Hoàn, anh vùng dậy, mặc vội cái áo đại cán và rút then cửa. Đúng là Hoàn thật. Cô mặc áo len mầu đỏ, quấn hờ trên vai chiếc khăn quàng mầu hoàng yến. Mái tóc với những lọn tóc được uốn kiểu cách, buông thon thả trên bờ vai thanh thoát, khiến Hoàn vốn đã ưa nhìn, giờ thêm phần lịch lãm hơn. Hoàn bảo Miên:
- Có phích nước sôi em vừa đun đây. Anh đánh răng, rửa mặt rồi sang em ăn sáng. Nhớ pha nước nóng mà dùng, kẻo buốt lắm. À mà chị Mai bảo hôm nay để anh nghỉ thêm một ngày nữa cho lại sức, mai chuẩn bị giáo án, tuần sau bắt đầu nhận lớp.
Miên băn khoăn:
- Không phải nghỉ nữa đâu. Anh khỏe rồi mà!
- Trường vừa khai giảng xong. Các lớp còn vắng học sinh lắm. Cho học sinh học ghép cũng được. Tuần sau anh lên lớp, mới tách ra lớp mới. Vội gì. Còn cả năm học cơ mà!
Miên ra đầu hồi vươn vai. Bốn bề sương dầy đặc. Phía trên đỉnh đèo gió ào ào thổi, đùn những đám mây hoang hoải luồn qua tán cây rừng. Con dốc đổ xuống chân đèo mất hút trong làn sương mờ mịt. Hôm qua anh leo toát mồ hôi hột, miệng mũi thi nhau thở mới lên đến đây. So với ba năm về trước ngôi trường của anh chẳng có gì thay đổi. Nó vẫn vẻn vẹn ba dãy nhà, dãy chính giữa là nhà hiệu bộ. Hai dãy hai bên mỗi dãy ba phòng học. Sau nhà hiệu bộ là dãy nhà các thầy cô giáo cùng bếp núc, chuồng gà, chuồng lợn. Học sinh ở đây là con em của các bản đồng bào Mường quanh vùng và đồng bào Dao Hạ Sơn từ trên lưng chừng núi xuống.
Ngày mới tốt nghiệp trường sư phạm anh về đây trường đã như thế này. Bây giờ, sau ba năm chiến đấu với kẻ thù ở mặt trận biên giới phía Bắc trở về, ngôi trường này vẫn vậy.
Phòng của Hoàn giống như phòng của Miên. Cũng mái tranh, vách đất, cũng chiếc gường đơn để mộc, mặt bàn làm việc bừa bộn sách vở và cái tủ gỗ con đựng quần áo. Có khác chăng là phòng Hoàn tường được giăng kín báo. Những tờ báo đủ kiểu che cho vách đất quét vôi loang lổ, khiến căn phòng có vẻ vui mắt hơn. Con gái chưa chồng con mà lại.
Nhà Hoàn ở dưới thị tứ cùng với nhà Miên. Bố mẹ Hoàn có cửa hàng chụp ảnh khá đông khách. Là con một, nên Hoàn được chiều chuộng lắm, chẳng phải thiếu thốn thứ gì. Tuy biết nhau từ nhỏ nhưng họ mới yêu nhau từ hồi Miên về phép cách đây hai năm.
Ngồi ăn sáng với Miên, Hoàn ý tứ hỏi nhỏ:
- Anh lên dậy ở đây khoảng bao lâu thì xin chuyển về dưới mình?
Miên ngập ngừng:
- Ở đâu chẳng phải làm việc hả em. Chúng mình yêu nhau, cưới nhau. Nên vợ nên chồng, cùng nhau ở luôn đây cũng được. Cần gì phải đi đâu cho mệt ra, em nhỉ?
- Không. Em đã ở đây hơn ba năm rồi, còn gần hai năm nữa là hết nghĩa vụ. Em sẽ về dưới mình chứ không chịu ở đây đâu.
- Ôi! Bạn anh khối người đang nằm vĩnh viễn ở nơi rừng hoang biên giới. Mình sống ở đây quá là sung sướng rồi em ạ!
- So sánh thế sao được. Anh đã tham gia chiến đấu, đang mang thương tật. Anh đáng được sống ở những nơi thuận lợi. Sao lại phải sống ở những vùng khó khăn thế này?
Miên trầm ngâm. Lúc sau anh mới như người tỉnh ngủ:
- Thế ai cũng đòi sống ở đấy thì em bảo lấy ai là người lên đây?
Hoàn quay lại, nhìn Miên với cái nhìn lạ lẫm.
*
Lớp học của Miên có ba chục học sinh thì có gần mười em là con em đồng bào Dao bản Hạ Sơn. Bản cách trường hai con suối và một cánh rừng nên những ngày mưa rét bố mẹ thường không cho con đến lớp. Họ bảo “cái chữ không bằng sức khỏe, mưa rét ở nhà sưởi lửa, không học hành gì cả”. Học sinh lớp một, lớp hai nhỏ tuổi đã đành, cả khối lớp ba, lớp bốn cũng vậy. Mỗi đợt mưa rét diễn ra cả tuần, có khi lên đến chục ngày. Nhìn các lớp trống vắng, Miên buồn lắm.
Mới qua tiết Đông chí. Bầu trời cứ xám xịt bởi những đám mây dầy đặc, vần vũ ngày cũng như đêm. Mưa phùn, gió bấc liên miên. Từ giờ đến khi trời ấm còn hàng tháng nữa chứ ít gì. Cơ sự này học sinh ở bản người Dao không biết bao giờ mới đến lớp được, sao mà theo kịp chương trình học của Phòng đề ra.
Miên trầm ngâm suy nghĩ. Lời Bác Hồ căn dặn trước lúc đi xa “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt” luôn canh cánh trong lòng, khiến Miên thao thức. Đồng bào dân tộc ít người, lại ở vùng sâu, thương con cháu thường như vậy, chứ không phải không có ý chí. Anh nhớ lại ngày ở trên biên giới quần nhau với giặc, đồng bào giúp đỡ bộ đội nhiều lắm. Không có họ, bộ đội ta làm sao đánh thắng giặc. Những lúc rỗi rãi Miên còn được nghe các bủ già trên đó kể lại, khi Bác Hồ mới về Cốc Bó, Người đã sống cùng dân, tắm rửa và dạy chữ cho các cháu con em họ. Nhờ đó đồng bào thêm hiểu, tin cậy và một lòng một dạ với cách mạng. Chẳng lẽ bây giờ Miên được Nhà nước đào tạo, có cuộc sống thế này mà không học tập đạo đức, tác phong của Bác lo cho học sinh của mình được hay sao?
Tự nhiên một ý nghĩ lóe lên trong đầu Miên. Anh vùng dậy khoác vội chiếc áo, rồi lập cập sang gõ cửa phòng Hoàn:
- Em ơi, em có thể dạy ghép cả lớp anh để anh vào bản Hạ Sơn dạy cho các em những ngày mưa rét được không?
- Làm sao anh có thể cáng đáng được tất cả học sinh các lớp?
- Được chứ! Anh tổ chức dạy ghép, ăn ngủ tại bản, bố trí thời gian hợp lý, vừa dạy, vừa kèm cặp cho học sinh cả ngày mà.
- Em chịu anh thật. Nhàn hạ không muốn lại cứ muốn mua dây buộc cổ. Em không dạy kiêm thế cho anh được đâu!
Miên biết không thể thuyết phục được Hoàn nữa. Quả thực khi tiễn Miên về, Hoàn tỏ thái độ khinh khỉnh và không giấu vẻ khó chịu. May cho Miên, Ban giám hiệu đã chấp nhận ý kiến của anh. Chính cô Mai hiệu trưởng đích thân dạy kiêm lớp cho anh.
*
Nhờ sự giúp đỡ của Mỷ, Bí thư chi đoàn Hạ Sơn, nên chỉ trong chưa đầy tuần lễ, các lớp từ lớp một đến lớp bốn trong bản đã được mở lại. Học sinh chia thành hai buổi học theo cách dạy lớp ghép. Thầy giáo Miên ăn ngủ luôn tại nhà Mỷ. Thướng (gầm sàn) nhà Mỷ thành lớp học. Bàn ghế được đóng vội bằng những cây vầu.
Buổi học hôm thứ hai, trời mưa và lạnh buốt. Mỷ phải đốt một đống lửa ngay trong lớp để học sinh đỡ rét. Thế mà vừa tan học, Miên chưa kịp dặn dò, các em đã ào ra sân về nhà. Một em người còm nhom, quần áo phong phanh, vừa chạy ra đến giữa sân đã bị cảm lạnh, gục ngã. Miên nhìn thấy, vội lao ra xốc vào nhà, cởi chiếc áo đại cán đang mặc cho em. Miên và Mỷ thay nhau vừa ôm ấp, vừa sưởi lửa, lại bón nước đường nóng cho cu cậu. Chiều tối em tỉnh, Miên cõng về nhà. Ông Bàn Văn Sơn, bố em cảm động lắm, cố giữ bằng được thầy ở lại uống với ông bát rượu ngô, rồi mới cho về.
Thấy Miên là thương binh mà vẫn trèo rừng, lội suối, mang cái chữ đến tận bản cho con cháu mình, dân bản Hạ Sơn ai cũng hoan hỷ. Họ thương thầy giáo vất vả, nên hễ đánh bẫy được con chồn, con cáo đều mời bằng được thầy giáo về nhà uống rượu. Hiềm một nỗi Miên chưa nghe được tiếng Dao nên không sao giao tiếp được. Học sinh của Miên cũng vậy, chúng thường nói chuyện với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Vì thế khoảng cách thầy trò chẳng thể gần gũi như đối với học sinh người Kinh được. May mà có Mỷ giúp đỡ nên Miên vỡ vạc nghe được một số câu tiếng Dao phổ thông nên cũng đỡ.
Miên tất bật suốt ngày. Đêm anh thức soạn giáo án đến khi gà cất tiếng gáy lần hai mới ngủ. Cọ mạ (bố mẹ) Mỷ xếp cho anh ngủ luôn ở gian khách. Những lúc đêm khuya, anh thường đi lại rón rén để sạp bương lát sàn ít phát ra tiếng động nhất, tránh làm thức giấc mọi người. Thế nhưng, với sự mẫn cảm của người lính trinh sát, thỉnh thoảng anh vẫn nghe thấy tiếng thở dài từ trong gian buồng của Mỷ.
Còn Mỷ, cô bận bịu suốt ngày. Hết lên nương, xuống ruộng lo việc nhà lại lo công việc chi đoàn, chẳng mấy khi được ngơi nghỉ. Mắt một mí, má luôn ửng hồng như có mầu hoa đào núi, dáng người chắc lẳn, bắp chân dài khiến vòng eo của Mỷ như cao hơn. Cánh thanh niên trong bản đêm đêm thập thò dưới thướng, muốn chọc sàn Mỷ nhưng thấy ngọn đèn dầu trong phòng cô không thắp, biết Mỷ không tiếp khách, nên lại lảng đi chọc sàn nhà con gái khác. Vì vậy đã hai mươi mùa xuân rồi, cọ mạ vẫn chưa được lo chuyện chồng con cho Mỷ.
Một hôm, Miên đang dạy học. Một luồng gió núi lạnh toát ập đến, khiến anh tối sầm mặt mũi. Vết thương cũ nhức buốt khiến Miên gục xuống bàn. Đám học sinh kêu lên. Cọ Mỷ vội chạy xuống, xốc anh lên nhà. Mỷ đang làm nương nghe tiếng hú của cọ, cũng ba chân bốn cẳng chạy về. Cô vội lấy nhánh gừng giã nhỏ hòa nước cho anh uống, lại cùng cọ dìu anh vào phòng Mỷ nằm cho kín gió. Mất mấy ngày, anh mới khỏi. Dân bản biết tin thương Miên lắm.
Vừa lúc trời vào độ dứt mưa phùn, gió bấc. Miên bàn với Mỷ thuyết phục các gia đình trong bản cho con cháu ra trường học để kịp chương trình cùng với các bạn. Nhờ những ngày Miên lăn lộn với học sinh ở bản, lại có sự khéo léo của Mỷ nên ai cũng ủng hộ. Họ còn bảo mỗi gia đình động viên con cháu cố lên một tý cho thầy giáo Miên đỡ khổ.
*
Sang Xuân, trời đất trong trẻo hơn. Những đám mây xám như được cuộn lên cao, lộ ra tán lá rừng xanh ngắt. Gió nhẹ nhàng hơn, miên man qua những dãy núi, đùa giỡn với ánh nắng mặt trời đang làm duyên bên những mảng sương sớm.
Dạo này Mỷ năng ra Đèo Mương hơn. Khi hỏi han đám học sinh trong bản học hành ra sao, khi bảo thầy giáo Miên mấy câu tiếng Dao cần thiết, khi nhờ cô giáo Mai chép cho mấy bài hát để đoàn viên hát trong sinh hoạt. Mối quan hệ giữa nhà trường và chi đoàn Hạ Sơn mỗi ngày một thêm gắn bó. Tình cảm của Mỷ với Miên vì thế cũng càng thêm gần gũi.
Giữa lúc đó vết thương của Miên trở chứng. Chân anh tê dại, đi lại như người không có cảm giác, chỉ chực ngã. Mỷ lo lắm. Người già ở Hạ Sơn bảo vết thương này chạm vào dây thần kinh chân, nếu không khéo chữa dễ bị liệt lắm. Các bủ còn mách cho Mỷ lên gặp thầy mo trên núi Tả Phù, nơi thâm sơn cùng cốc mới có những vị thuốc hay, nhưng phải trèo qua mấy đỉnh núi cao, xa lắm.
Kệ. Miễn là có thuốc chữa cho Miên. Mỷ nghĩ bụng thế, Khó thế nào Mỷ cũng đi. Cuối cùng, sau gần tuần lễ băng rừng vượt dốc, Mỷ cũng lấy được thuốc mang về. Cả tháng sau đó Mỷ hết lo sắc thuốc cho Miên uống trị bệnh xong, lại chỉ bảo cho đám học trò dùng thuốc nặn bóp bên ngoài cho anh. Đúng là trời không phụ lòng cô, trung thu năm ấy Miên đã dứt bệnh. Anh lại có thể lên lớp dạy học trò được. Chỉ hiềm nỗi cơ bắp anh như nhão ra, không săn chắc như hồi mấy năm về trước.
Bố anh lên thăm, mang cho Miên cuốn tạp chí có ảnh Bác đang tập thể dục. Hình ảnh đó như thôi thúc anh. Bác đã già, lại bận trăm công ngàn việc mà vẫn dành thời gian tập thể dục để nâng cao sức khỏe. Chẳng lẽ Miên không cố gắng được ư? Thế là hàng sáng anh chịu khó dậy sớm đi bộ quanh trường. Lúc đầu chỉ mươi, mười lăm phút, sau nâng lên nửa tiếng. Anh còn làm theo Bác, tìm hai viên đá cuội vừa lòng bàn tay để buổi tối hoặc lúc rỗi bóp, nâng cao sức dẻo dai của cơ bắp. Nhờ uống thuốc Mỷ mang về và tập thể dục thường xuyên mà sức khỏe anh được nâng lên. Cơ bắp anh dần dần săn chắc lại.
Miên biết ơn Mỷ lắm. Rỗi việc anh lại lên bản Hạ Sơn chơi thăm Mỷ, thăm bà con dân bản. Vốn tiếng Dao của Miên cũng đã khá. Anh có thể tự giao tiếp với đồng bào nên ai gặp anh cũng tay bắt mặt mừng. Còn Mỷ, mỗi khi gặp Miên, cô lại vui như chim gặp bạn, đôi má hồng lên, cái nhìn của cô như có ánh lửa.
Thấm thoắt năm học mới lại bắt đầu. Theo sáng kiến của Miên và Mỷ, dân bản Hạ Sơn góp bương tre dựng một ngôi nhà cho con cháu họ ở nội trú ngay tại trường để không phải đi về trong những ngày mưa rét. Mùa đông năm ấy Đèo Mương vui hẳn lên. Các thầy cô giáo trong trường gắn bó với học sinh đã đành mà dân bản cũng luôn qua lại thăm nom nhà trường. Tiếng cười, tiếng hát của các em học sinh quyện lẫn tiếng đàn, tiếng sáo của các thầy, các cô khiến cái lạnh như co cụm lại, không tác oai, tác quái như trước nữa. Mảnh nương gần suối được các em gieo trồng mùa nào rau nấy, xanh mướt mắt, không những đủ cho học sinh nội trú ăn hàng ngày, mà còn đỡ đần các thầy cô giáo không phải đi chợ mua bán như trước nữa. Miên còn hướng dẫn các em đặt cắp, bẫy chồn cáo, nuôi gà, đào đìa bắt cá như kinh nghiệm ngày anh ở bộ đội để cải thiện đời sống.
Thấy con cháu ngoan ngoãn, học hành tiến bộ, người già ở bản Hạ Sơn phấn khởi, càng năng qua lại Đèo Mương hơn. Họ khuyên con cháu “Cố học thành người như thầy giáo Miên để giúp người Dao giỏi cái chữ, sáng cái đầu, cho bản Hạ Sơn sớm giầu có”.
*
Thế rồi quanh đi quẩn lại, hết cái Tết này đến cái Tết khác, đã hơn hai mươi năm trôi qua. Đèo Mương cũng ngày một đổi mới. Con đường từ thị tứ lên đây trước kia chỉ là con đường đất đỏ đầy dốc cao, vực sâu và cua ngoắt ngoéo giờ đã được Nhà nước thay bằng con đường nhựa rộng rãi chạy qua cả Hạ Sơn, lên tận bản Tà Phù của tỉnh bạn. Trạm biến áp và đường điện hạ thế mang ánh sáng văn minh cho cả vùng. Khu trường Đèo Mương được xây dựng khang trang và đẹp đẽ, trở thành trường chuẩn quốc gia. Căn nhà xây kiên cố của ông bà Miên Mỷ ở gần trường luôn có tiếng cười đùa của con cháu. Bây giờ ông đã trở thành thầy giáo già. Ngoài giờ lên lớp ông luôn được đón tiếp các bủ ở Hạ Sơn đến chơi. Nhìn các cháu học sinh lớp măng non mới lớn vui chơi, học hành trong ngôi trường chuẩn mà lòng họ rộn lên niềm vui khó tả.
Một buổi sáng. Trong lúc ông Miên và các bủ đang hàn huyên thì có chiếc xe con mới tinh từ tốn đến đỗ trước cổng trường. Một người trẻ tuổi, ăn vận lịch sự bước xuống kính cẩn khoanh tay:
- Con chào thầy ạ! Con chào các bủ ạ!
Ông Miên còn đang ngơ ngác thì người ấy nhỏ nhẹ nói tiếp:
- Thầy không nhận ra con ạ. Con là Bàn Văn Vân, con ông Bàn Văn Sơn, người Dao mà thầy đã cứu khỏi cảm lạnh ngày thầy lặn lội vào dạy chúng con cái chữ ở bản Hạ Sơn năm xưa đây ạ.
Bà Mỷ ở ngoài vườn nghe tiếng cũng chạy vào:
- Ờ đúng cháu Vân rồi ông ạ, Cháu Vân con ông Sơn làm chủ nhiệm Hợp tác xã ở Hạ Sơn khi trước. Nghe nói cháu đi học nước ngoài mà?
- Thì ra là anh Vân đấy ư? Các anh giờ cao lớn, chững chạc quá, thầy không nhận ra nữa!
Người thanh niên có tên là Vân khoanh tay nói tiếp:
- Dạ thưa thầy cô, thưa các bủ. Sau khi học ở đây, cọ mạ con chuyển nhà ra huyện công tác. Con được Nhà nước cho vào học ở trường nội trú ngoài tỉnh, rồi được đi học ở bên Nhật. Con vừa về nước là đến thăm thầy cô, thăm các bủ ngay đấy ạ.
- Thế à. Phúc đức quá nhỉ? Thế anh về quê chơi được lâu không?
- Thưa thầy! Con về đợt này, trước là thăm thầy cô, thăm các bủ. Sau nữa là để trình bầy với lãnh đạo địa phương xây dựng ở quê mình một nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu đấy ạ.
Các bủ già hồ hởi tiếp lời:
- Úi, thế à? Từ ngày được Nhà nước giao đất, giao rừng, dân mình lại được sống với nghề rừng. Quê mình đâu đâu cũng thấy mầu xanh của cây rừng. Cháu về xây dựng nhà máy chế biến gỗ là giúp bà con bản làng tiêu thụ sản phẩm rừng trồng. Thật quý hóa quá.
- Người Dao mình, học ở trường xã mình, lớn lên được Nhà nước nuôi, có lòng về xây dựng, làm giầu cho quê hương mình. Thật không bõ công dạy dỗ của thầy giáo Miên, các bủ nhỉ?
Câu chuyện đang râm ran thì bà Mỷ đã bưng lên mâm cơm thịnh soạn để đãi khách. Mọi người ngồi vào bàn. Sau khi xin phép thầy Miên, Vân trịnh trọng, xoa hai bàn tay vào nhau, nói:
- Hôm nay cọ con không về thăm thầy được. Cọ con có bức tranh quý biếu thầy, tỏ lòng ngưỡng mộ thầy đã một đời lăn lộn mang cái chữ đến mở mang dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số. Chúng con luôn biết ơn công lao của thầy ạ.
Vừa nói Vân vừa giở lớp giấy gói và kính cẩn nâng bức tranh lên biếu thầy. Đó là bức tranh sơn dầu vẽ Bác Hồ đang tưới cho cây vú sữa cùng dòng chữ ghi lời dạy của Bác “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Bất giác không ai bảo ai, mọi người đều rưng rưng, giơ tay ra đỡ bức tranh, như muốn khắc sâu mãi mãi trong tâm khảm của mình lời Bác dạy.
                                                                          V.Q.K 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.