NỘI DUNG CHI TIẾT
TÀI CON
10/26/2017

                                    Truyện ngắn của Nguyễn Hựu

Hôm nào cũng vậy, cứ cơm nước xong là ông bà Hà ngồi xem chương trình thời sự trên VTV1 bằng hết mới đi ngủ. Hôm nay bà đi nằm sớm. Ông đang ngồi xem thấy có người gọi ngoài ngõ. Ông bật đèn cổng đi ra, thấy một ông già và một trung niên dắt xe máy đứng chờ. Ông già lên tiếng: “Đây có phải là nhà cụ Hồng không ạ?” - “Ông cụ mất lâu rồi, có việc gì mà ông hỏi đến cụ?” - “Tôi ở xa, lâu ngày mới đến thăm gia đình, không nhớ tên ông, xin được thông cảm!” Ông Hà mở cổng, mời hai người vào. Hai người lạ bước vào ngôi nhà năm gian cấp bốn, điện sáng trưng ba gian giữa. Ông Hà loay hoay tráng ấm chén pha nước. Hai người khách đi khắp bốn bức tường xem các bức chân dung, các huân, huy chương, bằng khen, giấy khen của cả gia đình. Pha được nước, ông Hà mới cất tiếng: “Mời ông với bác ngồi xơi nước!”. Hai người ngồi vào bộ sa lông kiểu Pháp thấp, nhỏ gọn, không to kềnh càng như sa lông tàu. Người khách già lên tiếng: “Báo cáo với ông Hà, vừa xem tấm huân chương mới nhớ tên ông, còn tôi là “Tài con”, hồi kháng chiến chống Pháp có đến đóng quân ở nhà ta bị bệnh được cụ và gia đình cứu chữa khỏi, mới sống được đến ngày nay. Vì công việc, lại ở xa, hôm nay mới nhờ bác đây đưa lên thăm gia đình! Cụ nhà lại không còn, xin phép ông cho tôi được thắp hương tưởng nhớ cụ!” - “Xin mời ông!”. Ông Tài con thắp hương lẩm nhẩm khấn vái... Ông Hà đứng cạnh lục tìm quá khứ.

Vào đầu năm 1948, lúc ấy ông Hà mới chỉ tám, chín tuổi. Giặc Pháp từ Hà Nội đánh chiếm ra khắp các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, tràn đến quê ông. Chúng xây dựng nhiều đồn bốt ở các làng ven sông Đà như Trung Hà, Bất Bạt, Thạch Đồng, La Phù, Tu Vũ... chạy dài lên tận thị xã Hòa Bình. Chúng chủ trương bình định Bắc Bộ trong thời gian ngắn nhất. Ta trường kỳ kháng chiến, cấp trên cử một đơn vị chủ lực về đóng quân ở làng, điều tra nắm tình hình địch, phối hợp với dân quân du kích địa phương quấy rối, tiêu hao sinh lực làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Kết thúc giai đoạn phòng ngự, chuyển dần sang cầm cự, tiến tới tổng phản công. Nhà ông Hà lúc ấy là nơi cán bộ chỉ huy ở. Có hai người tên Tài. Anh Tài lớn tuổi là chỉ huy, mọi người gọi là “Tài bố”, còn anh Tài bé nhất đơn vị làm liên lạc anh em gọi là “Tài con”! Tuy vừa bé vừa ít tuổi nhưng Tài con thông minh, vui tính lại có nhiều tài lẻ nên được mọi người hết lòng yêu.

Để tiếp viện quân số, quân trang, quân dụng cho các vị trí, đồn bốt hai bên bờ sông Đà, vài ngày lại có chuyến tàu từ Hà Nội theo sông Hồng ngược vào sông Đà tiếp viện cho các đồn bốt. Cứ sáng nào tàu giặc ngược sông Đà thì chiều hôm trước Tài con đều thông báo: “Mai tàu giặc lại lên!” Lúc đầu chẳng ai để ý. Sau thấy Tài con nói hoàn toàn chính xác, mọi người mới phục Tài, mà không hiểu làm sao hắn biết? Một đêm trời tối đen như mực, gió sông hun hút, mưa lất phất, rét căm căm, từ dưới sông vọng lên tiếng loong coong lúc dữ dội, lúc nhỏ nhẹ thoảng tới như tiếng nhạc. Mọi người bừng thức hoang mang. “Không hiểu đêm hôm thằng giặc làm gì ở dưới sông, mà tạo ra những tiếng động quái lạ?” Đoán già đoán non mãi, mọi người thống nhất: “Chắc tàu giặc xuôi chết máy, chúng sửa chữa... Một người chưa tin, nhớ đến Tài con đang ngủ say, gọi dựng dậy. Nghe mọi người nói, Tài con lắng tai, im lặng. Nhiều anh chắc mẩm: “Phen này hết bốc phét!”. Vậy mà ít phút sau Tài con bảo: “Đêm tối thế này bố thằng Tây cũng không dám xuôi. Tiếng động em chắc không phải do con người tạo ra! Để em ra xem sao!” Mấy anh ồ lên: “Tưởng cậu đoán giỏi, không biết thì thôi, đêm tối rét mướt thế này nó ở dưới sông, ra xem làm gì? Nó phát hiện ra cho mấy băng lại chết oan, mà đánh thì không có lệnh...” Im lặng một chút, ông cụ Hồng vừa là dân quân du kích, lại vừa là chủ nhà: “Các đồng chí cứ để tôi với đồng chí Tài con ra xem sao!” Rồi hai người biến vào đêm tối. Mọi người hồi hộp, chờ đợi. Một lúc lâu sau mới thấy Tài con chạy về: “Các anh dậy giúp em một tay!” Mọi người theo Tài con ra bến sông, cùng cụ Hồng lăn về được cả chục chiếc thùng phuy đựng xăng địch đã dùng hết thả xuống sông trôi về Hà Nội để tái sử dụng. Gió thổi nên thùng dạt vào bờ, va vào nhau tạo ra tiếng động. Nhờ dũng cảm và phán đoán tốt mà ta thu được chiến lợi phẩm. Mọi người càng phục Tài con. Lại một tối, tổ trinh sát của ta xâm nhập vị trí Tu Vũ, tóm được hai thằng Tây đứng gác, giải nó về giam ở đền Lăng Xương. Tài bố bảo: “Không được, nó làm uế tạp đền! Đưa thằng Tây da trắng về giam ở buồng cụ Hồng, còn thằng Tây da đen giam ở nhà bên cạnh để lấy cung!” Tài bố hỏi cung, thằng Tây da đen cứ nhe răng lắc đầu. Tài bố bực toan cho mấy bạt tai. Tài con bảo: “Nó là người Phi, bị Pháp bắt lính, sang mình không thạo tiếng Pháp, chỉ biết ít tiếng bồi. Bố hỏi nó không hiểu nên lắc đầu chứ không phải nó ngoan cố đâu.” - “Sao cậu biết?” - “Em hỏi thằng Tây trắng!” - “Cậu cũng biết tiếng Pháp à?” - “Là học sinh trung học, em cũng nói được chút ít.” Mọi người càng phục tài của Tài con. Tài bố hỏi: “Làm thế nào mà cậu biết mỗi sáng tàu giặc ngược nước sông Đà?” - “Em theo dõi đàn quạ hàng trăm con vừa quạ khoang, quạ đen. Cứ sáng nào cả đàn lũ lượt ngược xuôi sát mặt nước cả buổi, y rằng sáng sau tàu giặc ngược. Thấy lạ mới quan sát, thì ra trước ngày tàu lên tiếp tế, ở vị trí nào chúng cũng mổ trâu, bò, lợn cướp của dân để ăn, tiếp khách và mang về Hà Nội. Các ngoại phụ như lòng, sỏ chúng vứt xuống sông. Lũ quạ thính mồi gọi nhau ngược xuôi tầm nã ăn bằng hết. Em nhận ra chứ tài cán gì!” - “Thế còn những chiếc thùng phuy?” - “Em nghe tiếng gió và tiếng xô thấy không phải tiếng động do con người tạo ra, nhưng không biết là cái gì mới phải ra tận nơi mới rõ - “Cậu còn ít tuổi mà giỏi, chịu quan sát và suy nghĩ, cố mà phát huy!”.

Nhưng “Lắm tài thì nhiều tật!”, thời ấy, bộ đội đến đâu đều nhờ vào dân từ nơi ở đến cái ăn. Hôm đầu đến làng, dân chưa tập trung được lương thực, thực phẩm, nồi xoong... cụ Hồng vận động nhà nào ăn gì, san sẻ nắm vào mo cau, mỗi nhà một nắm tập trung ở nhà cụ. Cụ Hồng và Tài con phân chia đến từng nhà có bộ đội ở, đủ loại cơm độn ngô, độn khoai, độn chuối xanh... với muối vừng, muối lạc... Thời ấy dân làng không ai có cơm tẻ không độn. Cơm nhiều ăn không hết, của ngọc thực, Tài con có sáng kiến bảo anh nuôi thái thành lát như đồng bánh chưng tày, phơi khô, ghế cơm ăn dần. Chẳng biết do cơm thiu mốc hay vì lẽ gì mà mọi người đều bị đường ruột. Lúc ấy đơn vị không có thuốc men gì, chỉ nhờ những lá cây vườn, cụ Hồng hái cho anh em uống mà đều khỏi. Riêng Tài con cứ lai rai mãi thành kiết lị. Đã bé, giờ lại gầy còm, đến lúc đơn vị chuyển quân, Tài con không đi nổi, đơn vị phải gửi lại, nhờ cụ Hồng chăm sóc. Cụ và cô con gái hết lòng thuốc men, cơm cháo... cả tháng trời mới đỡ. Hơn hai tháng sau mới trở lại bình thường, cụ Hồng mới cho Tài đi tìm đơn vị. Anh ta hứa sẽ sớm quay lại. Vậy mà phải đến cuối năm 1954 mới thấy anh về, to, cao, đẹp trai cả làng Đông không ai được như anh. Với bộ quân phục mới trông chững chạc không khác Tài bố ngày nào. Anh lưu lại nhà cụ Hồng cả tuần lễ. Chẳng biết anh và chị Na yêu nhau từ bao giờ mà cứ như vợ chồng. Tài con đã nói với cụ Hồng xin cưới chị làm vợ và ở rể. Cả nhà phấn khởi có anh rể là bộ đội cụ Hồ vừa đẹp trai, vừa tài giỏi! Lúc đi Tài nói với gia đình: “Con về Phát Diệu đưa bố mẹ lên nói chuyện và tổ chức cưới đời sống mới!”. Chị Na hồi hộp chờ đợi từng ngày, mà anh ta thì biệt tăm. Đầu 1955, Na phải thân gái dặm trường về tận quê Tài. Bố mẹ Tài đã xuống Hải Phòng di cư vào Nam. Hỏi đến Tài người ta nói: “Nghe đâu cũng theo bố mẹ”. Chị lên xã mới biết cấp trên tư giấy về: “Tài đào ngũ và mất tích!” Chị thất thểu trở về, cả nhà suy sụp! Làng đồn ầm lên: “Con rể hụt của cụ Hồng theo giặc! Thế mà chưa chi cụ đã cho hai người ăn ở với nhau như vợ chồng!” Chẳng biết thật hư đến đâu nhưng làm gia đình Na ngày càng khốn đốn. Mọi người không chỉ xa lánh Na, mà cả với gia đình cụ như là tránh hủi! Na âm thầm chịu đựng, sống qua ngày như cái bóng. Sau xin đi dân công hàn gắn vết thương chiến tranh hết đợt này đến đợt khác cho đến kháng chiến chống Mĩ thành thanh niên xung phong, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước mới trở về. Lúc ấy cụ Hồng còn sống, cho mảnh đất cuối vườn làm gian nhà tre ở, đợi chết già!

Tưởng Tài con đã chết từ đời tám hoánh nào, ai ngờ lại xuất hiện ở nhà mình lúc này, sau ít phút trấn tĩnh, ông Hà nghiêm giọng: “Ông không chỉ phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân mà ông còn phản bội cả tình yêu, làm gia đình tôi điêu đứng. Tưởng ông đã phải trả giá về tội lỗi của mình ở chân trời cuối đất nào, vậy mà ông vẫn sống, lại dám vác mặt về đây định lừa gạt tôi một lần nữa chăng, đừng hòng! Tôi nể ông già cả, và nghĩ đến tình xưa cho ông thắp hương để tạ tội với người quá cố. Giờ thì ông đi đi! Bước!”. Ông Tài con nước mắt chan hòa: “Xin ông cho tôi biết bà Na còn sống hay đã mất? Chồng con ra sao?”

 - Bây giờ mà nhìn thấy mặt ông có khi bà ấy băm vằm ông ra trăm mảnh, chưa chắc đã hả giận, chứ không lịch sự như tôi đâu!

- Bà Na còn sống là nhà tôi có phúc! Ông cứ cho tôi gặp, tôi xin chấp nhận tất cả.

- Ông muốn thế thì được! Đi theo tôi!

 Ông Hà đưa ông Tài xuống nhà chị gái ở cuối vườn gọi: “Chị Na! Chị Na!”.

- Gì thế cậu?

- Ông chồng chưa cưới yêu quý của chị về thăm chị đây này, dậy mà tiếp! Đèn trong nhà bật sáng, ông Hà quay ngoắt về, nét mặt hầm hầm nói với người xe ôm: “Thật lắm loại người! Không còn biết liêm sỉ là gì! Ông ta ở cùng xóm với bác à? Ở đâu mà bây giờ mới mò đến nhà tôi? Mà bác làm nghề xe ôm lâu chưa?”. “Người xe ôm” đưa tờ giấy giới thiệu do cơ quan an ninh quốc gia cấp. Ông Hà chột dạ: “An ninh vẫn theo dõi ông ta à?”. “Người xe ôm” mới chậm rãi: “Ông ấy vào Nam rồi ra nước ngoài cho đến bây giờ, sau khi hai nước Việt - Mĩ bình thường hóa quan hệ, trên mới giải quyết cho ông về thăm Tổ quốc theo nguyện vọng. Ông vẫn sống độc thân. Và gia đình ông vào Nam cũng do sự bố trí của tổ chức. Trong cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù, không chỉ có người cầm súng chiến đấu hi sinh nơi chiến trận mà nhiều người phải chiến đấu, hi sinh thầm lặng khác còn nghiệt ngã oan khuất gấp nhiều lần sự hi sinh nơi chiến địa như Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Tài Đông, Phạm Xuân Ẩn... và bao nhiêu người khác nữa...” Ông Hà thở dài: “Thì ra tôi mắng oan ông ta.. - “Ông ấy không trách ông đâu. Đó là sự hi sinh, ông ấy đã thấu hiểu và chấp nhận...”.

                                                                                                               N.H


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.