NỘI DUNG CHI TIẾT
TRAO DUYÊN - ĐOẠN THƠ LÂM LY BẬC NHẤT CỰC TẢ TÌNH YÊU CAO CẢ, VỊ THA CỦA THÚY KIỀU
10/26/2017

                                                                                            Chu Thị Hảo

Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường tân thanh” (Khúc ca mới đứt ruột). Những nhân vật mà ông yêu quý nhất, dù tài hoa bậc nào, dù cố gắng đến đâu cũng đều không thoát khỏi số phận bị huỷ hoại. Truyện Kiều chính là tiếng khóc đau đớn nhất cho số phận của con người, khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ. Và trích đoạn Trao duyên phải chăng là “đoạn thơ lâm li bậc nhất cực tả tình yêu cao cả, vị tha của Thuý Kiều?”

Ta biết rằng, trong cơn gia biến, Kiều đứng ra cáng đáng, thu xếp mọi việc. Lúc đầu Kiều có cân nhắc “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” nhưng nàng cân nhắc không lâu “Làm con trước phải đền ơn sinh thành” nên Kiều đã quyết định bán mình cứu cha và em. Khi cha và em được tha về, việc nhà tạm ổn, lúc này Kiều mới nghĩ đến tình duyên. Nàng nghĩ đến nỗi khổ của chàng Kim “Công trình kể xiết mấy mươi; Vì ta khăng khít cho người dở dang”. Theo nàng, phận mình thế nào cũng đành nhưng còn chàng Kim? Phải làm thế nào để người yêu bớt thiệt thòi? Suy nghĩ mãi, cuối cùng nàng cũng tìm được hướng giải quyết:  nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Vấn đề là nói thế nào đây để cho Vân có thể chấp nhận được? Bởi trao duyên là một vấn đề rất tế nhị. Người ta có thể trao vật này hay vật khác chứ làm sao có thể trao tình yêu cho người khác được! Hiểu được hoàn cảnh khó khăn của Vân, để cho Vân có thể nhận lời, Kiều phải có cách ứng xử phù hợp. Ta hãy nghe lời nói khẩn khoản của nàng:

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

Trong biết bao nhiêu từ diễn đạt sự nhờ vả như: nhờ, mượn, phiền, giúp,... Nguyễn Du không dùng mà chọn “cậy”. “ Cậy” cũng có nghĩa là nhờ nhưng ngoài nét nghĩa của từ nhờ, cậy còn biểu hiện sự tin cậy, có tin mới nhờ. Hơn nữa sự nhờ vả này là lớn lao, bao hàm cả sự biết ơn của Kiều đối với Vân. Chính vì “cậy em” nên mới có chuyện “chịu lời”. “Chịu lời” là chấp nhận, chịu sự thiệt thòi. Nếu em có “chịu lời”, có “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Kiều là chị của Vân, nhưng Vân là ân nhân của Kiều nên nàng vẫn “lạy” và “thưa”.

Sau lời cầu khẩn thiết tha, Kiều kể với em về hoàn cảnh của mình:

Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

Tương tư là một từ Hán Việt đã được Việt hoá đặt bên cạnh thành ngữ “giữa đường đứt gánh” gây cho người đọc một ấn tượng cụ thể về một cuộc tình duyên lỡ làng. Ý thơ gợi nhớ đến một câu ca dao xưa “Đường xa gánh nặng em chờ; Qua cầu em đợi, bây giờ anh quên”. Bi kịch tình yêu tan vỡ là nỗi đau khổ của nhiều người phụ nữ xưa. Tuy nhiên bi kịch tình yêu của Kiều vẫn là nỗi đau đớn hơn bất cứ thiên tình sử nào trong văn học trước đó. Bởi tình yêu trong sáng vừa chớm nở, lời thề chưa phôi phai “Thề hoa chưa ráo chén vàng”“Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa”.

Những việc vừa xảy ra trong gia đình nhà Kiều ai cũng rõ. Nhưng những bất hạnh của Kiều chỉ có Vân mới thấu hiểu. Chữ “có” ở trên được dùng với ý ướm hỏi nhưng thực chất là ép buộc. Hai chữ “mặc em” nói rõ ý ép buộc. Mấy chữ “tơ thừa mặc em” vừa tỏ ý thương, trọng em không đáng để cho em chịu thiệt thòi. Lúc này, nàng phải nén tình cảm xuống để nói với em bằng lí trí:

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kì,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai

 Nàng kể vắn tắt về mối tình của mình. Lời kể rất kín nhẽ, lại tế nhị khiến Vân không thể từ chối hay phật ý được. Tiếp đến, Kiều đưa ra mối quan hệ “Vì cây dây leo” buộc Vân phải im lặng lắng nghe và mặc nhiên chấp nhận:

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

Rất khéo léo, Kiều nói với Vân bằng những câu thơ mang phong cách thành ngữ “tình máu mủ”, “lời nước non”, “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” để vừa thuyết phục Vân, vừa ràng buộc Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Ở đó ta thấy được tấm lòng vị tha cao cả của Kiều.

Chính lúc Kiều đạt được mục đích của mình cũng là lúc bi kịch tình yêu lên đến điểm  đỉnh. Kiều trao duyên cho em, nhưng còn tình yêu với chàng Kim, Kiều đâu dễ trao cho Vân:

Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung

Chiếc thoa, bức tờ mây là những kỉ vật của tình yêu Kiều không muốn trao cho người thứ ba dù đó là em mình. Chữ “giữ ” nghĩa là để em giữ cho, còn “của chung” có nghĩa là có phần của Kiều ở trong đó. Phải nói lên điều đó, Kiều vô cùng đau xót: tình yêu đẹp đẽ đã trở thành quá vãng.

Trao duyên cho em, nghĩa là mất Kim Trọng, Kiều thấy mình trở thành hư vô, không còn hiện tại, lời nàng chuyển sang giọng thương mình. Nàng tự coi như mình là người đã chết:

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Người xưa thường hình dung hồn ma như ngọn gió. Chẳng hạn, Đạm Tiên khi nghe Kiều khấn vái “Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay”. Kiều Nguyệt Nga cũng hình dung hồn mình như ngọn gió “Hiu hiu gió thổi ngọn cây; Ấy là hồn trẻ về rày thăm cha”. Kiều cũng vậy, lời cầu xin của nàng với Thuý Vân là lời cầu xin của một oan hồn:

Rảy xin chén nước cho người thác oan

Cái tương lai đó làm cho Kiều đau đớn đến tột cùng! Nàng quên hết xung quanh, nàng khóc cho thân phận mình, khóc cho tình yêu ngắn ngủi:

Bây giờ trâm gẫy, gương tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Đó là một tiếng khóc cho số phận bi kịch, cho mối tình oan khuất. Bởi sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có ngày gặp gỡ!

Kết thúc đoạn thơ, yếu tố bi kịch được đẩy lên tới mức cao hơn. Nàng ý thức được cái hiện hữu:

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

Biết rằng “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi” nhưng nàng vẫn không thôi khao khát một tình yêu thiết tha. Sự hiện hữu của tình yêu khiến Kiều quên đi sự hiện hữu của Thuý Vân, hướng hẳn về Kim Trọng:

Ôi Kim lang hỡi Kim lang,

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

Trong câu thơ, tên Kim Trọng được nhắc tới hai lần kèm theo những thán từ chỉ sự đau đớn “ôi”, “hỡi”, nhịp thơ 3/3 giống như một tiếng nấc tuyệt vọng, câu dưới nhịp dài như một tiếng than. Đó chính là bi kịch tình yêu của Kiều.

Cơ sở để tạo nên tính bi kịch ấy là là sự hi sinh của Kiều. Trong tương quan giữa hai giá trị tình yêuhiếu thảo, Kiều đã hi sinh tình yêu. Trong tương quan tình yêu của mình và tình yêu của chàng Kim, Kiều lại hi sinh tình yêu của mình dành tình yêu cho Kim Trọng. Sự hi sinh ấy làm cho Kiều trở nên cao thượng. Cho nên ai đó rất có lí khi cho rằng: “Trao duyên là đoạn thơ lâm li bậc nhất cực tả tình yêu cao cả, vị tha, nỗi đau thân phận và bi kịch tình yêu của Kiều”.

Nhưng chỉ nói như vậy, e chưa hiểu hết tấm lòng của Nguyễn Du đối với nàng Kiều. Yêu mến, trân trọng nhân vật của mình, Nguyễn Du đã dành những lời thơ đẹp nhất để ngợi ca nàng. Nếu trước đó, ta biết đến một cô Kiều nhan sắc rực rỡ, tươi thắm, thông minh thì bây giờ ta hiểu thêm tấm lòng vị tha cao cả, sự khéo léo, tế nhị của Kiều. Nói cách khác, với Trao duyên Nguyễn Du đã thể hiện một cách nhất quán vẻ đẹp tâm hồn của nàng Kiều: thông minh, tế nhị, trọng ân nghĩa. Bởi chỉ có một tâm hồn cao thượng, Kiều mới dám hi sinh, mới cầu mong cho Kim Trọng được hạnh phúc. Sự hi sinh của Kiều đã làm thức tỉnh ý thức về tình yêu tự do, về cái cá nhân như là một giá trị đã mất. Đó là chiều sâu nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của đoạn trích nói riêng, tác phẩm nói chung.

Trao duyên cho ta thấy “sức cảm thông lạ lùng” của đại thi hào Nguyễn Du đối với những đau khổ và khát vọng hạnh phúc của con người. Đoạn thơ không chỉ cực tả tình yêu cao cả, vị tha, nỗi đau thân phận và bi kịch tình yêu của Kiều mà còn chứng tỏ vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều, ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế của người nghệ sĩ thiên tài Nguyễn Du.

                                                                                                                                          C.T.H


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.