NỘI DUNG CHI TIẾT
Đọc “Kim cương bất hoại” của Phạm Tiến Duật
12/4/2017

                                                                                   Đoàn Trọng Huy (*)

 

Bình sinh, Phạm Tiến Duật có mảng viết Kim cương bất hoại chưa in thành sách. Sau này, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Đường Trường Sơn, mảng này mới được đưa vào Phạm Tiến Duật Toàn tập (5/2009).

Đây chính là những bài viết góp phần thể hiện rõ nét “Anh không chỉ là gương soi của tuổi trẻ Trường Sơn, tuổi trẻ chống Mỹ, mà càng đọc anh càng rõ, còn là lương tâm và tình bạn, tình yêu của những người viết trong thời đại mình” (Lời đầu sách - Đỗ Trung Lai, chủ biên).

*

Kim cương bất hoại là loạt bài viết (64 bài), trong đó tuyệt đại bộ phận là phê bình văn học kiểu phê bình - chân dung, rất ngắn gọn, cỡ mini. Cũng như thế, loạt bài Vừa làm vừa nghĩ đăng trên Văn nghệ trẻ (sau in thành tập Vừa làm vừa nghĩ, Văn học, 2003) cũng được tác giả coi là tập tiểu luận mini về văn học.

Nhà thơ có biết vẽ, vì vậy có thể ví đây là những bức tranh chân dung bằng văn xuôi, chẳng khác nào những bức ký họa. Vẽ nhanh mà lột tả được cái thần thái, cốt cách của nhà văn, nhà thơ,... cũng giống như truyền thần. Vì nét vẽ nhanh, hoạt, vui, lại đôi khi nhấn mạnh theo thủ pháp cường điệu hóa, nên nhiều khi bức vẽ trở thành hý họa, thậm chí thoáng có nét biếm họa!

Mặc dù cái tâm không có chút ác ý, chủ đề đã rõ: tạo ra vẻ đẹp con người, vẻ đẹp lấp lánh kim cương cơ mà, đâu chỉ toàn màu vàng chóe hay sáng bạc.

Vệt bài này nhằm khắc họa hình ảnh đẹp, đáng yêu của giới nhà văn, nhà thơ và thấp thoáng cả bóng dáng nghệ sĩ.

Cao niên đáng bậc trưởng lão có Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài,... Bậc thầy, bậc đàn anh ấy cũng có khi nhập nhằng, được tôn là “bạn vong niên”. Như ta vẫn thường thấy cách xưng hô “Anh, Anh, Em, Em” giữa Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật (Xuân Diệu sinh 1919, Phạm Tiến Duật sinh 1940). Hai bên kém nhau ít tuổi, bạn thơ văn lính tráng là đông nhất và được coi là bình đẳng, cùng trang lứa.

Lớp đàn em ít hơn - Trần Đăng Khoa, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ...

Cách nhận xét, giọng điệu có thể biến hóa, khác nhau nhiều. Với người này, trang trọng, thân thiết, với người khác kính mến, chân tình, nhưng phần lớn là vui vẻ, thẳng thắn, đôi khi đùa một chút, chớn một chút, thậm chí tếu táo. Nhưng với ai cũng có tình. Đó là cái tình thật. Khen là chính, nhưng có xen kẽ lời nhắc khéo, thậm chí xem là chê khéo cũng được.

Với tất cả, văn Phạm Tiến Duật có thể chỉ gói lại bằng hai tứ tìnhtinh. Tình là tấm lòng, tinh là trí óc.

*

*   *

Như nhan đề mảng viết, Phạm Tiến Duật chỉ nhằm khắc họa cái nét sáng, cái vệt lấp lánh - tức cái sắc thái nổi bật phát sáng, tỏa sáng của nết người hoặc tính cách văn chương. Đó cũng chính là phần đóng góp đáng kể, đáng yêu của văn và người. Ở các bậc tài danh, vừa dễ lại vừa khó. Đã có bao tiểu luận nghiên cứu bề thế về sự nghiệp và con người. Vậy là phải chịu tìm ra cái nét riêng đặc sắc của mình, với mình.

Cần lưu ý là tất cả các trường hợp được viết đều có quan hệ đôi bên, trong đó là cái nhìn riêng, cái cảm nhận cá nhân. Cái Tôi hiện ra rất rõ.

Có lẽ với Xuân Diệu, Phạm Tiến Duật có tình sâu đậm nhất. Vì đó là bậc thầy về thơ, nhưng chủ yếu là do tính cách liên tài của ông.Dân văn nghệ hãy còn nhớ câu nói nổi tiếng của nhà thơ Xuân Diệu khi trao giải Nhất mùa thơ năm ấy cho nhà thơ trẻ: Ông ví, mình là “con quạ già” (“lão ô bách tuế”) và tôn Duật là “phượng hoàng non” (“phượng hoàng sơ sinh”). Đối với Nguyễn Quang Thiều cũng là tấm lòng ấy. Xuân Diệu đồng ý in thơ Thiều lên trước trang thơ của mình trên báo Văn nghệ là như vậy.

Nhưng Duật cắt nghĩa được Hai tính cách của Xuân Diệu rất quan trọng mà có vẻ như trái ngược nhau: cái khinh bạc mà người ta thường nói và cái khiêm tốn của nhà thơ lớn. Viết thế này là hiểu nhau và có tình với nhau lắm: “Ở một phía này, người ta thấy Xuân Diệu là người kiêu căng, mà ông cũng tự nhận thế “Xuân Diệu là gái già lắm rồi”, nhưng ở một phía khác, lại thấy ông thật thà, khiêm nhường”. Riêng với Duật, ông nhà thơ lớn không hề giấu nghề, trái lại còn bày vẽ tỉ mỉ các “ngón nghề” của người thơ cả.

Trong bài viết về Nguyên Hồng, cứ một đoạn Duật lại thốt lên: “Ôi Nguyên Hồng, tôi yêu cụ” như một điệp khúc của “bản nhạc” tâm hồn. Khen thế này là hết mức: “Nguyên Hồng là Nguyên Hồng - nguyên một khối hồng”. Nhà thơ kể, năm ấy, chiếc xe com măng ca của Hội nổ máy đưa Duật và mấy nhà văn của báo Văn nghệ lên mặt trận, thì cụ Hồng chạy ra tiễn, rút be rượu rót cho mỗi người một ngụm: “Miệng cười mà nước mắt lưng tròng”.

Phạm Tiến Duật coi Giáo sư Đặng Thai Mai là Tiên chỉ làng văn, ca ngợi cái tầm tư tưởng, văn hóa, và nhất là cái uy của một bậc trưởng lão, tri thức uyên thâm.

Nhà thơ học nhau là việc dĩ nhiên. Thế nhưng, cũng như các nhà thơ khác - tìm thầy ở những cây văn xuôi, Phạm Tiến Duật coi Nguyễn Tuân là thần tượng về con người và phong cách văn chương  độc đáo.

Ngày cụ Nguyễn mất, Duật có viếng cụ bốn câu đăng trên Văn nghệ: “Cái râu, cái tóc ông chẳng giống ai/ Cái ăn, cái ngủ ông chẳng giống ai/ Cái độc đáo văn ông nghìn đời không lặp lại/ Thế cho nên ông ở mãi trong đời”. Trong Lối văn cụ Nguyễn, nhà thơ không khen hình ảnh,  chữ nghĩa,... mà khen “những câu văn dài, khúc khuỷu một cách khêu nhể, tỉa tót mà vẫn mạch lạc”, chẳng khác nào “Cụ hành văn theo lối câu xương cá, bên cạnh những từ làm nên xương sống, còn rất nhiều từ làm nên xương răm để rồi con cá của văn chương có thể uyển chuyển bơi được”.

Đó là mạch văn, là khí văn, tức cái thần thái, như một tổng thể văn chương.

Với Hoàng Trung Thông, câu kết bài viết bật sáng lên: “Ấy vậy nhưng người có trái tim đôn hậu lắm, và một khối óc sáng suốt lắm”. Duật kể chuyện thời anh bị “tai nạn nghề nghiệp” vì Vòng trắng. Hồi ấy “Ông Trạng họ Hoàng” (lời suy tôn của Chế Lan Viên) là Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương. Ông đến thăm nhà thơ trẻ một ngày trước khi vào lại Trường Sơn với một mẩu giấy nhỏ, có mỗi một dòng chữ: “Mình đến, Duật đi vắng - Cứ vào chiến trường đi, mọi việc ở nhà sẽ ổn thôi”.

Hình như ai cũng có tình với Duật và nhà thơ chỉ viết đôi dòng để đáp lại tấm tình đẹp của các bậc bề trên. Tuy nhiên, với người cùng trang lứa, cũng vẫn là tình cảm ấy, quan hệ ấy.

Có một bài phê bình có cái tên rất oách làm Duật sướng mãi. Đó là bài Cây bút trẻ của cánh rừng già: Nguyễn Minh Châu coi cây bút là Phạm Tiến Duật, cánh rừng già là đại ngàn Trường Sơn. Đó là cái tình của bậc đàn anh với người em trong quân ngũ và trong văn chương. Phạm Tiến Duật có một nhận xét lạ, nhưng là thấu tâm can người hơn tuổi. Đọc mảng viết  trực diện về chiến tranh và ngẫm lại. Cái khắc khoải lớn nhất của đời văn Nguyễn Minh Châu là số kiếp con người thực sự. “Nhìn cái gì cũng liên hệ đến số phận của cả cộng đồng. Anh sống cho người, cho đời bằng từng tế bào của anh”.

Với Thu Bồn, Trương Bôn, Đỗ Chu,... mỗi người một quan hệ riêng, nhưng vẫn trong một tình cảm lớn: tình bè bạn, anh em, đồng chí, tình những người cầm bút và cầm súng, cầm bút như cầm súng.

*

Sự tinh đời, hiểu biết sâu sắc, tinh tường con người và văn chương bè bạn làm nên cái bền chặt của tình cảm ấy.

Với Nguyễn Minh Châu, đó là sự phát hiện cảm hứng nhân văn cách mạng như căn cốt tâm hồn một nhà văn lớn. Ở Thu Bồn, đó là sức vóc khỏe khoắn, hồn nhiên trong sáng tạo của sự nghiệp nhà văn. Những tập thơ, hàng loạt trường ca sau Bài ca chim Chơrao: Quê hương mặt trời vàng, Bazan khát, Oran 76 ngọn, Người vắt sữa bầu trời, rồi “Mấy nghìn trong văn xuôi là cả kho mồ hôi nước mắt”. Duật kể và chắc là anh đã đọc hết: Chớp trắng (gần 1.000 trang), Những đám mây màu cánh vạc, Đỉnh núi, Mắt bồ câu và rừng phi tiễn, Em bé trong rừng thốt nốt... Trên cơ sở hiểu biết thực sự mới có được niềm nhớ tiếc thực sự - Nhớ tiếc Thu Bồn và một thời đánh đu cùng dâu bể.

Phạm Tiến Duật ở gần Bùi Hiển trong Khu tập thể Trung Tự, khen ông là “Anh thanh niên nhiều tuổi”. Nhưng đọc hết Bùi Hiển mới có được một nhận xét là nhà văn có một phong cách làm việc cần mẫn đến ngạc nhiên, làm việc như người lao động văn học rất kỹ tính. Phải đọc hết tác phẩm, rồi Tuyển tập Bùi Hiển, sách dịch thuật, tiểu luận văn chương... Duật khen Nguyễn Đức Mậu “là một tấm gương về lao động nghệ thuật nghiêm túc” cũng tương tự.

Nguyễn Khắc Phục gây hoang mang cho nhà thơ: Nên gọi anh là nhà... gì?. Quen biết nhau từ khi Phục là nhà thơ trẻ Hải Phòng, giờ đây đã là chuyển sang văn xuôi, viết và dàn dựng trên 40 vở kịch bản và khoảng 300 phim truyền hình. Phục lại chuyển sang âm nhạc. Duật khâm phục thực sự: “Anh chỉ viết như anh cần viết”. Đây là một tình bạn đặc biệt, và từ 2005 còn có ba bài thơ và bài viết tặng bạn (chưa đưa vào Toàn tập).

Có thể còn có những bạn văn mà Phạm Tiến Duật chưa đọc hết, đọc kỹ. Nhưng với Triệu Bôn, nhà thơ nhận ra được cái toát ra từ tiểu thuyết và gần 300 truyện ngắn là cái dữ dội, cái quyết liệt, và cũng chỉ mong Mầm sống hy vọng sẽ còn mãi trong kho tàng văn học của nhân dân và của những người chiến sĩ.

Lê Lựu được Phạm Tiến Duật khen ở chỗ “lẩn mẩn, kỹ lưỡng” chữa văn đúng là học trò của cụ Đốc Hồng. Còn Bằng Việt được ca ngợi khi “cái cảm” lẫn vào “cái nghĩ”.

Phạm Tiến Duật có cái sắc sảo khi so sánh những tính cách văn chương.“Đỗ Chu là người hướng ngoại, mà Nguyễn Minh Châu là người hướng nội. Chất lãng mạn mang u trầm trong văn Đỗ Chu là tinh túy lắm”.

Có khi vừa khen, vừa chê. Gọi  bằng “Chú bé thần đồng” Trần Đăng Khoa, Duật tếu táo: “Sự thông minh của Khoa có tính rô bốt” là khen hay chê? Câu này chê rõ: “... lúc thường thì Khoa là một gã nhà quê. Rất cù lần”. Nhưng qua câu thơ này thì bốc Khoa lên tận trời: “Đất trời thì chật hẹp/ Làng quê thì mênh mông/ Thung thăng em với bác/ Ta cưỡi thơ ra đồng”. Một câu bình luận liền kề: “Cái chân chính làm nên tâm hồn Trần Đăng Khoa chính là tâm hồn của đồng quê Việt Nam”.

Với bạn thơ, có lẽ nên xem Phạm Tiến Duật như người chân tình, thẳng thắn khi có những lời khuyến cáo: “Nguyễn Duy là kẻ có tài, nhưng nếu bớt tếu táo đi thì còn hay hơn” (Người triển lãm thơ). Nhắc nhở Cây bút cả gan: “Nhưng Trần Mạnh Hảo cũng nên hạ “vô lum” xuống một chút, ôn tồn hơn một chút, bớt hiếu thắng đi một chút thì người đọc và người bị phê bình sẽ dễ tiếp nhận hơn”. Với Vương Trí Nhàn, bạn đồng môn cũ, Duật thân tình, bộc bạch: “Cứ nói câu bao quát ngẫu hứng là dễ điêu đứng lắm... Chúng tôi hứng lên có thể nói những câu bốc láo, coi trời bằng vung... Kiểm tra lưỡi kỹ càng hãy nói” (Nhà phê bình của chúng tôi).

Lối viết của Phạm Tiến Duật cũng có nét tài ba, đặc sắc. Đó là vừa hàn lâm vừa thế tục. Văn tiểu luận thì rõ hơn sự trộn lẫn đạođời: màu xámmàu xanh.

Đó là viết gần như nói, dùng khẩu ngữ mà văn hoa. Tự nhiên bỗ bã mà sâu sắc, thấm thía. Cũng có nhiều cách, nhiều kiểu, nhiều giọng. Rất vui và rất hoạt.

Ta nhớ có thời Duật từng làm MC cho chương trình Người cao tuổi. Chỗ hóc búa, khô khan, già nua mà đầy tiếng cười vui. Đó là bởi vì người dẫn rất khéo, rất nhạy cảm, lém lỉnh và rất hóm hỉnh nữa. Làm sao để “cù” được các cụ già quả không dễ!

Có thể gọi lối viết như hát “tính tang tình” (quan họ) mà Duật đã dẫn ra. Có thể cũng do chữ tinh mà ra - tinh tường, tinh xảo, tinh vi - một cách thông minh rất mực, nhưng cũng bị đẩy sang tinh nghịch, tinh ranh, tinh ma, tinh quái.

 Khen, chê của Duật nhiều khi rất “cực kỳ”. Khen Lâm Thị Mỹ Dạ: “Dạ là người đẹp nhất nước và cũng là “con bé” nhà quê nhất nước”. Nhìn ma nơ canh nhà hàng tưởng nhầm tượng Nguyễn Văn Trỗi: “Dạ ngây ngô một cách đầy tài năng như thế đấy”. Xuân Quỳnh chỉ ác cái miệng, diễu cợt cho vui: “Xuân Quỳnh là công nghiệp gà mái, lúc nào cũng xòe cánh ra để bảo vệ đứa con tình yêu sợ đàn quạ bất thần đến cướp”. Do đó, Duật hạ một câu “ác” không kém: “Có những thằng đàn ông chơi với Quỳnh, nhưng chẳng ra đàn ông”.

Như đã nói, Phạm Tiến Duật đôi khi phóng bút sang hý họa. Ta hãy cùng Duật vẽ nên chân

                                                             (Xem tiếp trang 62)

dung của Đỗ Chu: “Lưỡi Đỗ Chu nhọn mà văn thì hiền”.

Duật có khi còn bịa như thật, hoặc dùng lối vẽ huyền ảo hư hư, thực thực để tạo ra chân dung. Ngọn gió Hua Tát kể tung tích Nguyễn Huy Thiệp từ khi sinh đã phải đem lên chùa bán. Rồi đào ao, đào phải mộ có pho sách cổ. Đốt sách cháy hết, còn một mảnh hình hoa thị không cháy, nhưng cho vào nước thì tan. Năm lên 6, bị đậu mùa với phong hàn tưởng chết, lấy ít tro của pho sách cổ uống đến ngụm thứ 3 thì mắt mở thao láo, da thịt bốc hương mùi xạ cầy. Năm 15 tuổi, lại đau bụng tưởng chết, uống nước tro sách cổ cũng không khỏi. Thầy bảo do có “nợ tình” nên đọc đến cái tên đàn bà thứ 60 thì hết đau...

Đó là chuyện Duật  “tưởng tượng ra”... “chắc cũng phải quá nửa là sự thật”. Vận vào văn Thiệp chỉ để nói “sự huyền ảo”, bắt “lịch sử phải trở nên huyền ảo” như ý nhà văn. Duật khuyên hay “dọa” Thiệp: “Nếu tro của pho sách cổ đã hết, thì đốt quyền lịch sử đương đại, uống vào chắc có ích”.

Phạm Tiến Duật còn phác hoạ nhiều chân dung văn học qua loạt bài tiểu luận mini ở mảng Vừa làm vừa nghĩ qua Văn nghệ Trẻ.

 Riêng vệt bài phê bình này, đọc Phạm Tiến Duật vẫn chưa chắc đã hiểu hết mảng văn lấp lánh “kim cương”. Tếu táo mà nghiêm túc, tinh nghịch mà thách thức, hồn nhiên mà trí tuệ, hiểm hóc mà cởi mở, giễu cợt mà chân tình. Nhà thơ đem lại những bức chân dung tình cảm lý thú. Đã có nhà thơ có tiếng làm hẳn tập thơ chân dung, điểm huyệt giỏi nhưng bị mang tiếng là ác hiểm. Nhìn anh em, bè bạn thiên về “luận văn”, “luận người”. Người “nhận thơ” cười nhưng ngẫm lại có khi đau vì bị  người  cười. Rất cần là con -  mắt -  trái - tim  của  hoạ sĩ - thi sĩ.

Phải chăng, ở đây cũng hết sức cần phải có cái mã (code) thông điệp tình cảm là “lương tâm, tình bạn, tình yêu” của nhà thơ đặc sắc - đại diện  con người của thời đại chúng ta?

                                            Đ.T.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Tiến Duật (2009), Toàn tập, Hội Nhà văn.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.