NỘI DUNG CHI TIẾT
Người về chân núi Thu Tinh
4/2/2018

 

 Truyện ký dự thi của Vũ Quốc Khánh

Trước khi cánh cửa sắt của chiếc xe chở phạm nhân đóng lại, Tùng còn kịp nhìn thấy khuôn mặt ràn rụa nước mắt và cánh tay còn lại của bà Canh giơ lên vẫy vẫy. Sau đó là khoảng tối nhờ nhờ khi xe chuyển bánh.

Tòa án lưu động mở tại xã xử án Tùng ba năm tù giam vì tội đánh người gây thương tích. Đấy là Tùng có tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án tiền sự, lại có bố là thương binh nặng và thành khẩn khai báo tội lỗi, nếu không theo pháp luật phải phạt tù ít nhất là năm năm.

Là con một, trước đây là học sinh giỏi của trường cấp III huyện, nhưng sau khi mẹ mất, bố bị tai nạn giao thông phải cắt mất một chân, Tùng đâm buồn, xao nhãng việc học hành nên thi rớt đại học, đành phải đi học trường dạy nghề ở tỉnh. Chán và buồn khiến Tùng lao vào các cuộc chơi thâu đêm suốt sáng. Rượu chè, cờ bạc, món nào Tùng cũng hay cả. Đã thế Tùng còn được đám bạn xấu tôn vinh là đại ca trong các cuộc hỗn chiến nhằm dàn xếp mâu thuẫn giữa các phe cánh.  Thế là bao nhiêu tiền của bố mẹ chắt bóp được đều nhanh chóng đội nón ra đi. Đến khi ra trường, có cái bằng thợ cơ khí trong tay thì gia cảnh Tùng đã trở nên trống huơ, trống hoác.

Nhà Tùng ở chân núi Thu Tinh, gần suối Cả. Con suối bình thường chỉ rộng chưa đầy năm chục mét, lội đến lưng bắp chân, nước trong vắt. Thế nhưng khi mưa to, nước trên núi Thu Tinh dồn về thì suối Cả trở nên hung dữ. Nước cuồn cuộn dâng cao đổ xuống tàn phá cánh đồng Cây Thị, ngập phăng cả mảnh vườn rộng mấy sào mẹ Tùng khai khẩn từ khi bà bụng mang dạ chửa Tùng.

Năm ngoái, xã có chủ trương xây dựng phải ngăn suối Cả để trị thủy. Theo thiết kế, một con mương sẽ đi qua vườn nhà Tùng dẫn nước tưới cho cánh đồng Cây Thị rộng hơn năm chục ha của xã vốn chỉ cấy một vụ trở thành cấy hai vụ.

Dù bố đã đồng ý cho xây mương qua vườn và chủ đầu tư đã bồi thường giải phóng mặt bằng nhưng đi học về Tùng không đồng ý. Tùng cho rằng mảnh vườn ấy gắn với kỷ niệm của bà mẹ để lại nên không cho ai động vào. Khi thợ xây dựng đến làm mương Tùng nổi máu yêng hùng vác xẻng đánh công nhân, khiến một người rách trán, phải khâu hơn chục mũi. Việc gì đến thì phải đến. Tùng bị bắt giải về công an huyện.

Thụ án được hai tuần, vừa chưa quen với thân phận tù nhân, phần vì thương bố ở nhà ốm yếu không ai chăm sóc, lại không biết cơn sốc con đi tù, bố chịu đựng thế nào, Tùng thành như cái bóng, người rạc đi. Vắt tay lên trán Tùng nghĩ, giá mình không đua đòi ăn chơi, không nổi máu yêng hùng đánh người thì bây giờ đâu đến nỗi. Nhưng ân hận đến thế nào cũng không sao cứu vãn nổi cho Tùng thoát khỏi bản án nghiêm minh của pháp luật.

Buồn bã, Tùng đang rưng rưng chực khóc thì cán bộ quản giáo báo có người vào thăm nom. Tùng không đoán được là ai, bởi gia đình Tùng chẳng có anh em họ mạc thân cận ở xã. Bố Tùng lại ốm đau không thể vào thăm nuôi con. Vậy thì ai nhỉ?

Tùng theo cán bộ lên phòng thăm nuôi. Hóa ra là bà Canh. Cùng đi với bà Canh còn có Khai là cán bộ phụ nữ xã. Tùng bật khóc vì không ngờ con người bỏ đi như mình vẫn còn được bà con làng xóm cưu mang, thăm nuôi khi tù tội như thế này.

Bà Canh là thanh niên xung phong thời chống Mỹ, cùng chiến đấu ở Trường Sơn với bố Tùng. Bà đã để lại một cánh tay vì bom Mỹ trước khi phục viên. Bà không có chồng, sống bằng lương trợ cấp thương tật, nuôi đứa cháu con anh trai giờ công tác dưới huyện. Khi mẹ Tùng mất, dân làng có ý vun vén bà với bố Tùng nhưng nghĩ bà muốn thôn tính cơ ngơi mẹ mình đã gây dựng, nên Tùng không ủng hộ. Tùng còn có ý hăm dọa bà Canh khiến bà không dám lên thăm bố Tùng khi ông trái nắng trở trời.

Còn Khai kém Tùng hai, ba tuổi gì đó, nhưng là bạn chăn trâu cắt cỏ cùng với Tùng từ ngày trẻ nhỏ. Tuy thua tuổi nhưng Khai tích cực hoạt động trong phong trào thanh niên ở xã nên xem ra chững chạc hơn. Dáng người chắc lẳn, khuôn mặt thanh tú, cái miệng tươi tắn lúc nào cũng như cười khiến cho ai dù mới gặp cũng có cảm mến. Khai ân cần động viên khiến Tùng bớt xúc động và ngập ngừng hỏi thăm về sức khỏe của bố. Tinh nghịch Khai bảo hỏi bà Canh. Thì ra, ngay khi Tùng bị công an huyện bắt, xã đã trích ngân sách bồi dưỡng cho bà Canh và nhờ bà cơm nước đỡ đần bố Tùng theo chế độ với thương binh nặng.

Nghe chuyện Tùng cảm động lắm. Anh tự trách mình nông nổi, thiển cận vì trước đây đã nghĩ sai về bà Canh. Hết giờ thăm nuôi, trở về phòng giam, Tùng chới với trước bao nhiêu cái “giá như” cứ canh cánh bên lòng. Nhưng dù sao sự lo nghĩ cũng bớt đi một phần. Tùng nghĩ mặc cho thân phận mình tù tội nhưng xã hội vẫn rộng lượng. Điều ấy làm lóe lên trong lòng Tùng những tia hy vọng.

*

Trại tù Mường Cơi nằm trên một khu đất trống giáp sông. Xung quanh trại là hệ thống hồ đập do đắp ngăn các khe đồi mà thành, vừa để ngăn cách trại với vùng xung quanh, tránh việc các trại viên xấu trốn trại, vừa để nuôi cá phục vụ sinh hoạt cho trại viên.

Theo quy định của trại, chỉ những trại viên gương mẫu, tích cực và sắp mãn hạn tù mới được giao trông nom hồ đập nuôi cá này. Tuy mới vào trại chưa lâu, nhưng được Khai đến làm việc với trại trưởng, chuyển công văn của xã bảo lãnh, lại là trại viên có ý thức cải tạo tốt nên Tùng được ở trong số đó. Tùng thầm cảm ơn lãnh đạo xã, cảm ơn bà Canh, cảm ơn Khai. Chả biết có phải do Khai nói đỡ hay không mà anh Trọng là Quản giáo trại còn giao cho Tùng làm tổ trưởng tổ nuôi cá nữa.

Tùng thích lắm. Từ nhỏ Tùng đã sống cùng suối Cả, đã từng chài lưới, lặn ngụp, mò mẫm bắt cá trong các vực sâu dọc suối suốt từ đồng Cây Thị lên tận chân núi Thu Tinh, thuộc từng loại tăm cá, giờ cá rời hang đi ăn. Lắm đêm thanh vắng, nằm trên thuyền áp tai nghe tiếng cá lao xao dưới đáy sâu Tùng cứ như mụ mị cả người. Thế nhưng, từ lúc đi học công nhân kỹ thuật, sa đà vào những vui thú, Tùng quên đi cả. Giờ đây, được anh Trọng cho phép, được sống với nghề nuôi cá, bao nhiêu ký ức cứ ùa về, Tùng thấy thật tiếc những ngày tự do đã qua, bỏ phí cuộc đời vào những ham mê vô bổ. Vì vậy Tùng lao vào công việc như kẻ nghiện.

Nắm bắt được tâm lý ấy anh Trọng càng gần gũi động viên Tùng hơn. Anh mượn ở thư viện Trại những cuốn sách gương thanh niên nghèo vượt khó, những cuốn truyện người lầm lỗi nhờ học được nghề trong tù mà khi hoàn lương trở thành doanh nhân giỏi, cả những cuốn sách kỹ thuật canh tác về cho Tùng đọc. Thấy Tùng thích, anh Trọng càng khuyến khích. Anh đề nghị với Trại cho mời chuyên gia nuôi trồng thủy sản ở Sở Nông nghiệp tỉnh về hướng dẫn kỹ thuật ương nuôi cá nước ngọt, cả cách thức nuôi thả tự nhiên lẫn nuôi cá lồng để Tùng và trại viên đội nuôi cá học tập. Được tin cậy, trại viên trong đội càng cần mẫn với công việc được giao hơn.

Các hồ đập của trại thường rất sâu, có chỗ hàng chục mét. Theo gợi ý của anh Trọng, Tùng đề xuất với trại cho nuôi cá nhiều tầng để tận dụng thức ăn. Các vạt đất trống xung quanh hồ đập Tùng xin bổ sung nhân công trồng nhiều cỏ voi, cắm cây sắn, trồng rau lang lấy nguồn thức ăn cho cá. Anh cũng xin mở rộng trại chăn nuôi lợn công nghiệp để tăng cường nguồn phân bón, vừa nâng cao năng suất trồng trọt, vừa lấy thức ăn cung cấp cho hệ thống hồ đập giờ đã có nhiều tầng cá được nuôi.

Nhằm phục vụ nhanh và kịp thời đời sống cho các trại viên, Tùng xin dọn một ao nhỏ, vệ sinh sạch sẽ đáy và xung quanh bờ, rồi đánh những chú cá to nuôi vào đấy, để trại cần lúc nào có thể bắt được ngay.

Những cố gắng của Tùng được trại biểu dương kịp thời khiến Tùng càng cố gắng cải tạo tốt. Đêm đến trong giấc ngủ, Tùng ao ước đến ngày được ra tù, được trở về nơi mảnh đất bố mẹ anh đã sinh cơ lập nghiệp. Tùng tự nhủ khi ấy sẽ lao động thật tốt, phấn đấu thành người có ích để trả ơn cho anh Trọng, cho những anh chị quản giáo, cho những người như bà Canh và Khai đã cưu mang, thắp lại niềm tin cho Tùng trước sóng gió của cuộc đời.

Nghĩ đến Khai tự nhiên trong lòng Tùng xốn xang một cảm giác mới lạ, một cảm giác mà chính Tùng cũng chưa xác định là cảm giác gì, chỉ biết đó là một cảm giác thật khó tả.

Mùa xuân đến gần, Khai lên thăm nuôi Tùng. Trời đã bớt lạnh, hoa đào núi trồng quanh trại đã đua nhau chúm chím nụ hồng. Núi rừng đã bớt u ám sau những ngày đông giá. Những mảng mây sẫm màu đã kéo lên cao hơn, lộ ra những đỉnh núi cao rõ nét. Nắng cuối đông tuy yếu ớt nhưng cũng làm núi rừng sáng lên ấm áp. Những chú chim đủ mầu sắc bay lượn trên các khu vườn trong trại đã rủ nhau hót lên những tiếng hót trong trẻo.

Tùng đón Khai ở ngôi nhà của đội nuôi cá. Được anh Trọng cho phép Tùng líu ríu bơi thuyền hướng dẫn cho Khai thăm quan từng hồ đập, chỉ cho Khai từng loại tăm cá, thao thao về kỹ thuật nuôi từng loại cá, cách thức cho cá ăn để đạt năng suất nuôi cao, lại tiết kiệm thức ăn như một nhà ngư học lão luyện.

Khai thầm nghĩ, nhờ có sự giúp đỡ ân cần của các anh quản giáo mà Tùng đã cải tạo nên người. Cô vui vẻ kể cho Tùng nghe về chuyện ở xã, từ chuyện mương Cả đi qua mảnh vườn nhà Tùng đã cấp nước đủ cho cả cánh đồng Cây Thị cấy trồng ba vụ chắc ăn như thế nào, đến khu đất nhà Tùng được trường tiểu học của xã cho các cháu học sinh đến giúp trồng rau lang để bố Tùng nuôi lợn ra làm sao, rồi cả chuyện ông được sự giúp đỡ, chăm sóc của bà Canh đã vui vẻ mạnh khỏe, không buồn bã như trước nữa.

Qua lời Khai, tự nhiên trong lòng Tùng một suy nghĩ lóe lên. Anh điềm tĩnh nghe kể chuyện về làng xóm, vui mừng về sức khỏe của bố và cảm động vì sự giúp đỡ của bà Canh với gia đình mình khi hoạn nạn. Bất giác Tùng cảm thấy thật bé nhỏ bên sự thương yêu đó, nỗi cô đơn trống vắng, cảm giác tự ty, mặc cảm cũng vợi bớt. Tự nhiên Tùng muốn được nép vào lòng Khai như muốn có sự che chở đùm bọc của người bạn gái. Cùng với nó trong lòng Tùng một ý định táo bạo cũng hình thành, lớn dần, lớn dần lên, không kìm lại được. Sau khi Khai ra về, Tùng đem ý định đó trình bày với anh Trọng. Anh Trọng mừng lắm, tỏ ý hết lòng ủng hộ, càng làm cho Tùng tin ở mình hơn.

*

Thấm thoắt Tùng ở trại đã được gần hai năm. Hai năm hăng say lao động cải tạo với bao nhiêu mồ hôi, trí tuệ và cả nước mắt vì ân hận, vì nhớ nhà, nhớ làng xóm, nhớ bạn, vì ước muốn vượt lên trở thành người công dân có ích cho xã hội. Vì thế Tùng đã có danh sách trong quyết định đặc xá đợt 2/9 của Trại.

Trong buổi liên hoan chia tay của đội nuôi cá, trước sự chứng kiến của Khai, đại diện địa phương lên dự, sau khi đánh giá về những công sức của Tùng, anh Trọng đã trao cho Tùng phần thưởng bốn mươi triệu đồng của trại, coi như tiền lương sau gần hai năm lao động dành cho Tùng. Anh căn dặn Tùng hãy dùng số tiền này để làm những việc có ích. Tùng rưng rưng cảm động, biết ơn trại đã cải tạo anh trở thành người lao động chân chính. Bốn mươi triệu đồng không lớn so với số tiền Tùng đã ăn chơi khi đi học nghề, nhưng lại là rất lớn vì nó là công sức của anh sau hai năm vào trại để học làm người. Anh run run giao lại cho Khai giữ hộ để chờ vào việc hữu ích.

Về nhà, qua một tuần nghỉ ngơi, thăm hỏi và cám ơn mọi người làng trên xóm dưới, Tùng bắt đầu vào việc thực hiện những ấp ủ mà qua những đêm trằn trọc ở trại anh đã suy nghĩ. Anh tự tin mời bố, bà Canh và Khai nghe anh trình bày ý định của mình.

Với kinh nghiệm đã được trại tạo cho và thực tế đồng đất của mình, Tùng muốn đào một ao lớn trên khu đất trước nhà. Không những thế anh còn muốn đào một loạt ao nhỏ ven mương dẫn nước từ phai Cả xuống đồng Cây Thị để nuôi cá. Thoạt nghe mọi người phấn khởi, nhưng nghĩ kỹ lại rất lo âu. Đành rằng cổ nhân đã có câu “thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên” nhưng ở đồng đất chân núi Thu Tinh này chưa có ai làm nổi. Tùng mới mãn hạn tù về liệu có đủ bản lĩnh, vốn liếng và sức lực để thực hiện ý định đó không? May mà Khai là người đã chứng kiến sự cố gắng của Tùng ở đội nuôi cá của Trại. Khai cũng nói lại ý kiến của anh Trọng khi cô lên đón Tùng về địa phương, nên cuối cùng mọi người cũng vui vẻ đồng tình.

Được lời như cởi tấm lòng, thế là Tùng hăm hở bắt tay vào thực hiện.

Rất may, tuy ở gần suối Cả nhưng nhờ có mương dẫn nước nên nỗi lo lũ từ suối ập về như những năm trước không còn nữa. Độ chênh mặt nước từ phai Cả đến mương dẫn nước qua vườn nhà Tùng lại khá cao, nên chỉ cần đào sâu mặt đáy vừa phải, lấy đất đắp bờ đã có thể tạo ra được ao có nước ra, nước vào thuận lợi. Đó là điều kiện lý tưởng để nuôi cá chính đây cũng là ý nghĩ của anh khi nghe Khai kể chuyện về con mương này khi lên thăm nuôi anh khi trước. Ngày ấy nếu Tùng biết, đã không ngăn cản việc làm mương của xã khiến anh phải mất thời gian hai năm trong trại cải tạo.

Khai đưa số tiền của trại cho Tùng. Với kinh nghiệm đau đớn đã trải qua, anh dè xẻn tiêu pha nên đủ trang trải đào đắp toàn bộ bờ bao vững chắc cho mấy sào ao và cải tạo sườn đồi để trồng cỏ voi làm thức ăn cho cá. Tùng còn được bà Canh và Khai động viên nên anh hết sức cố gắng. Thế là chỉ trong mấy tuần lao tâm khổ trí Tùng đã có được khu ao hoàn chỉnh. Lúc tích nước vào ao, Tùng hồi hộp và xúc động thực sự. Mấy chục triệu đồng trước đây của bố mẹ anh ăn tiêu bạt mạng chẳng hề tiếc rẻ gì. Bây giờ cũng với số tiền đó, nhưng là công sức của mình, Tùng biết tằn tiện thành ra đã có khu ao cẩn thận. Ao đó là của anh, do công sức của anh và nhờ trại cải tạo anh nên người nên anh đã có để thực sự làm hành trang cho anh bước vào đời. Tùng thích quá, lặn ngụp trong ao, tận hưởng cái cảm giác mát rượi sau những đêm ngày lo toan vất vả như một đứa trẻ.

Ao có, nhưng Tùng chưa có vốn mua cá giống. Để giúp anh, bà Canh gọi bán đôi lợn hơn tạ mà bà cùng bố Tùng nuôi, Khai cũng bán mấy chỉ vàng bố mẹ cho làm của hồi môn phụ nữa. Thế là các ao của Tùng đã đầy tiếng cá búng mồi. Nghe bà Canh và Khai gợi ý Tùng còn mạnh dạn cải tạo khu chuồng trại cũ, mua thêm hơn chục con lợn giống. Đến bữa chúng eo éo đòi ăn, nghe ấm lòng mọi người. Khai cũng nhờ hội phụ nữ xã bảo lãnh để Ngân hàng chính sách xã hội cho Tùng vay thêm vốn mua thức ăn cho lợn và cho cá.

Nửa năm trôi qua, nhờ những kinh nghiệm nuôi cá học được trong trại Tùng đã tổ chức đánh tỉa, thả bù nên đã đủ bù đắp các chi phí phát sinh và có kinh phí xây thêm chuồng trại, nuôi thêm hai chục lợn giống kế tiếp. Tùng cũng đã xuất lứa lợn đầu trả vốn đầu tư và xây hầm bioga để vừa có khí đốt, điện sinh hoạt phục vụ đời sống gia đình, vừa đảm bảo chuồng trại vệ sinh.

Tiếng lành đồn xa, theo lời mời của Khai các hội trong xã, nhà trường và các xã bạn lần lượt đến thăm mô hình sản xuất chăn nuôi của Tùng. Nhiều hộ nhân dân quanh vùng cũng đến tham quan. Ai cũng thấy đó là cách làm hay, cần được nhân rộng. Phong trào làm kinh tế gia đình ở xã ngày một phát triển.

Cơ sở chăn nuôi của Tùng từ chỗ nhỏ bé giờ đã không ngừng lớn mạnh. Một trang trại bề thế trên các mảnh đất của bố Tùng, bà Canh và những quả đồi hoang hóa dưới chân núi Thu Tinh mà Tùng và Khai mới đấu thầu lại của xã theo phương thức dồn điền đổi thửa đã được hình thành. Trang trại đó được quy hoạch với khu vườn trồng cây lâu năm, khu trồng cỏ chăn nuôi, khu trồng rau ngắn ngày, khu chuồng trại và khu ao đã được xây mở rộng. Phục vụ cho trang trại, hơn chục lao động trong xã liên tục có công việc ổn định. Ngày ngày người chăm sóc, trồng tỉa cây cối, hoa mầu, người chăn nuôi lợn, người nuôi ương cá cứ luôn chân, luôn tay với công việc của mình. Họ như con ong chăm chỉ, nhộn nhịp lo cho tổ ấm của mình vậy.

Anh Trọng, người quản giáo của Tùng năm xưa về thăm. Anh vui mừng thấy Tùng đã có một cơ ngơi bề thế. Anh gợi ý cho Tùng thành lập Hợp tác xã và đứng tên là chủ nhiệm. Thế là Hợp tác xã của Tùng được thành lập và phát triển. Qua mấy năm xây dựng, cả một vùng đất manh mún, nghèo nàn đã trở thành vùng đất trù phú, rộn rã tiếng máy xay sát chế biến thức ăn gia súc, cây cối sai hoa, trĩu quả, âm vang tiếng bò lợn đòi ăn, tiếng cá quẫy, tiếng ong mật ríu rít gọi đàn. Chủ nhiệm Tùng đã trở thành một doanh nhân có uy tín trong huyện. Mặc cảm về những ngày tháng lầm lỗi xưa cũ của Tùng đã được anh Trọng và các cán bộ quản giáo trong trại Mường Cơi gột rửa. Trong một lần trở lại thăm trại Tùng đã được anh Trọng mời lên nói chuyện với những trại viên trong trại. Những việc làm của Tùng đã gieo vào lòng các trại viên trong trại những mầm hy vọng tươi non về tương lai cuộc sống.

*

Năm sau, vào một đêm trăng giữa tháng mùa xuân, ánh trăng rãi vàng xuống mặt nước suối Cả sóng sánh. Trên mặt phai, Tùng run run nắm tay Khai ngỏ lời cầu hôn. Khai bẽn lẽn nép vào ngực anh, lắng nghe con tim anh thổn thức và đón nhận từ anh một nụ hôn cháy bỏng. Tình yêu của họ thật đẹp. Hai người đã vượt qua bao thử thách gian nan để có ngày hôm nay. Không gian thật lãng mạn. Phía dưới phai, nước đang dào dạt chảy. Đây đó, trên mặt suối Cả những chú cá quẫy đớp trăng làm ánh vàng loang loang mặt nước. Tùng và Khai nắm tay nhau mải mê ngắm nhìn trang trại của mình hiện lên dưới trăng như một bức tranh thủy mạc, lấp lóa cùng một vùng sóng nước suối Cả và núi rừng Thu Tinh ngồn ngộn sức sống.

                                             V.Q.K


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.