NỘI DUNG CHI TIẾT
Người Việt trọng tình
4/2/2018

 

                                       Nguyễn Hữu Nhàn

 

Dân ta thường nói “Một trăm cái lý, không bằng một tí cái tình”, đó là vì Việt Nam ta làm ruộng nước, sống co cụm thành xóm thành làng. Làng thường có lũy tre và hào sâu bao bọc. Ở trong đó người ta lấy sinh hoạt cộng đồng làm trọng. Cộng đồng là cộng nhiều cái đồng lại: thứ nhất là đồng tông. Những người cùng họ gắn bó bao che, bè phái với nhau. Rồi đồng hương, các nhà cùng ngõ, cùng xóm sinh hoạt riêng, mỗi xóm đều có miếu thờ thổ thần, có điếm ngồi chơi hóng mát hoặc để canh gác hàng đêm. Các xóm tổ chức thi với nhau các trò như bơi chải, kéo co, thi làm cỗ lễ... trong hội làng. “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” dân ta nói thế để thấy dân ta lấy hàng xóm lân bang là quan trọng với mỗi người. Ở chung xóm ngõ có nhà giàu nhà nghèo xen kẽ. Ai cũng phải tuân thủ luật lệ của hàng xóm để phòng khi tối lửa tắt đèn còn nhờ vả nhau. Những nhà giàu cũng phải dựa vào nhà nghèo vì sợ hỏa hoạn trộm cướp không có người giúp. Vì thế tình làng nghĩa xóm là rất quan trọng với mỗi người. Ở một làng thì người mỗi xóm lại bao che, bênh vực, bè phái với nhau. Đó là cái “máu đồng hương” thâm căn cố đế của người Việt. Ra huyện thì người cùng làng cùng xã lại bao che bè phái với nhau trước người làng khác, xã khác. Ra đến tỉnh thì người một huyện lại thân quý nhau, cứ thế ra cả nước, ra thế giới những người cùng quê một tỉnh hoặc cùng là người Việt Nam lại thân quý nhau hơn. Đó là do cái “máu đồng hương” tạo ra. Máu đồng hương bắt nguồn từ địa bàn cư trú của cư dân làm lúa nước, sản xuất nhỏ mà có. Ở trong làng ngoài hai yếu tố đồng tông, đồng hương còn có nhiều cái đồng khác như đồng nghiệp là tổ chức của những người cùng nghề sinh hoạt giúp đỡ nhau. Những người cùng tuổi thì vào hội đồng tuế để hàng năm cùng cúng giải hạn, cùng ăn uống tiệc tùng với nhau. Những người cùng đi lính hoặc cùng học một thầy thì có các hội: bản binh hàng đội mà ngày nay là hội cựu chiến binh và hội đồng môn.

Người Việt sống trong làng trong xã quấn quýt với nhau bởi các yếu tố cộng đồng nên có nhiều truyền thống tốt đẹp. Vì thế người ta coi nhau thân thiết như là anh em ruột thịt vậy, người ta xưng hô với người ngoài bằng các đại từ nhân xưng: anh, chị, cô, dì, chú, bác như anh em ruột thịt. Do vậy đồng bào cả nước mới đinh ninh rằng tổ tiên mình đều từ bọc trăm trứng do mẹ Âu Cơ sinh ra. Yếu tố này làm cho người Việt chỉ trọng tình, không trọng lý. Ở trong làng người ta rất khó khăn đem luật lệ để đối xử với nhau vì mối quan hệ chằng chịt dây mơ rễ má, phi nội tắc ngoại. Cũng làm lúa nước nhưng các dân tộc khác không có cái yếu tố cộng đồng ràng buộc. Vì thế đại từ nhân xưng chỉ có “tao, mày” không có ông, bà, cô, cậu, chú bác như ở Việt Nam. Ở Trung Quốc cũng nhiều nơi canh tác lúa nước nhưng họ không ở co cụm như ta: họ làm ruộng ở đâu, xây nhà luôn ở đó. Cánh đồng bát ngát đều có nhà ở của nông dân bên cạnh những ruộng lúa. Họ phải lấy các con đường, con mương, dòng sông để phân chia địa phận hành chính. Nhờ vậy họ chỉ có văn hóa hành chính, không có văn hóa cộng đồng làng xã như ở Việt Nam. Vì thế cách xưng hô giữa người với người cũng khác Việt Nam. Họ thực thi luật pháp, tôn trọng luật pháp dễ dàng hơn ta.

Người Việt vì vậy có tâm lý không ưa những người làm về luật pháp. Họ không thích công an, không thích tòa án, kiểm lâm, thanh tra.

Ngay từ thời đầu chống Pháp, nạn tham nhũng chưa xảy ra, người ta đã có câu “Sung sướng công an, gian nan bộ đội, cái tội dân quân”. Nói thế vì người ta không yêu thương công an như yêu thương bộ đội dân quân.

Không tôn trọng luật pháp, xem thường những người thực thi pháp luật là cái bệnh thâm căn cố đế của cư dân cộng đồng làng xã. Vì sống trong văn hóa cộng đồng với lối canh tác lúa nước nhỏ lẻ lạc hậu nên dân ta sống ỉ lại vào cộng đồng dựa dẫm vào cộng đồng. Chữ viết lại ra đời chậm, mọi phát kiến của dân gian không có chữ nên không ghi chép để khái quát thành các giáo lý trong tôn giáo hoặc các khái niệm của triết học. Vì vậy dân ta không tạo ra được tôn giáo hoặc triết học riêng, mọi kinh nghiệm của cuộc sống chỉ được đúc rút tổng kết rồi đưa vào thực thi trong cuộc sống, lâu ngày thành phong tục của sinh hoạt và lễ nghi của tín ngưỡng.

Bằng quan sát tự nhiên ở các tộc người chưa có chữ viết, do sống qua ngàn đời người ta cũng nhận thấy mọi cái sinh ra đều được hợp thành từ hai yếu tố có trời có đất mới sinh ra muôn loài hoặc có sáng có tối, có nóng có lạnh, có tốt có xấu, có đỏ có đen... cái gì cũng do hai mặt đối lập ấy tạo ra. Từ đó hình thành ra triết học dân gian. Triết học ấy chỉ được đưa vào trong sinh hoạt, lễ nghi của cuộc sống. Trồng bầu bí người ta treo lên giàn bầu giàn mướp những đoạn cây ngắn bằng gang tay tượng trưng cho vật giống nam để cho bầu mướp bắt chước nó mà sinh sôi, nảy nở.

Lễ cúng trong đám ma phải có bát cơm quả trứng, có thế thì người chết mới được hưởng đủ âm đủ dương. Vì bát cơm là gạo trồng trong nước là âm. Quả trứng gà đẻ trên cạn là dương.Trong trò chơi ném còn của người Mường sở dĩ được duy trì phát triển lâu dài là do nó được gắn vào tín ngưỡng. Người ta để ba đôi, sáu quả còn vào đĩa dâng lên hương án đình làng cho ông từ kính báo thành hoàng xong mới giao cho ba cặp nam thanh nữ tú vào ném còn. Đôi nào ném quả còn chui qua vòng tròn mới trao tặng lễ vật kỷ niệm như cái gương, cái lược, khăn tay để sau đó gia đình đôi bên mới làm các bước ăn hỏi cưới xin. Việc cưới xin ấy vì thế mà thiêng liêng. Vậy quả còn làm ra cũng phải có âm có dương. Quả còn tưởng tròn nhưng nghệ nhân làm ra nó phải tạo ra bốn góc bằng khâu túm, tượng trưng có bốn góc, chứng tỏ quả còn tròn như mặt trời là dương nhưng có bốn góc của hình vuông quả đất là âm. Trong ruột quả còn phải chứa hai loại gạo trồng trong ruộng nước là âm và hạt muồng hoặc hạt bông mọc trên đồi là dương.

Ném còn gắn với tín ngưỡng nên nó tồn tại được lâu. Ngày nay ta không mê tín nên con người không hiểu được phần tín ngưỡng trong đó nên tục ném còn dần mai một. Là trò chơi đơn thuần nó không còn hấp dẫn bằng các môn vui chơi thể thao khác.

Sống dựa vào cộng đồng nên làm ruộng thì phải trông trời trông đất trông mây, phải dựa vào kinh nghiệm được trao truyền từ đời này sang đời khác vì thế mới có được đức trọng lão để có được kinh nghiệm “trọng già, già để tuổi cho”. Bây giờ người trẻ không trọng người già là do ta quan niệm tiên tiến, hiện đại một cách thái quá.

Dân ta sống quen với văn hóa cộng đồng, dựa dẫm vào cộng đồng nên mới có tư tưởng sợ chết. Những dân tộc khác họ coi cái chết là sự giải thoát nên chết thanh thản, nhẹ nhàng hơn ta.

“Chết một đống hơn sống một người” cũng là tâm lý của cư dân quen sống nặng dựa dẫm vào cộng đồng. Người ta coi cộng đồng là trên hết. “Phép vua thua lệ làng” là tâm lý của cư dân cộng đồng làng xã khép kín. Cư dân này chỉ sợ lệ làng, không sợ phép nước. (Tuy nhiên lệ làng nào cũng phải nằm trong phép nước).

Khi xưa ai phạm vào lễ tang ma thì chết dân làng không chôn, ăn cắp hủ hóa bị tội “cấm thủy hỏa” tức là không được sử dụng nguồn nước với dân làng, không được xin lửa hàng xóm.

Sống trong cộng đồng làng xã người ta tạo ra nhiều đức tính tốt đẹp như yêu thương nhau, đùm bọc nhau. Ai cũng gắn bó với làng xã của mình.

Khi làng và nước được gắn kết lại thì lòng yêu nước của mỗi người được phát huy cao độ. Người ta hiểu rõ giặc nước cũng chính là giặc làng, vì vậy trong các cuộc đánh giặc toàn dân tộc mới có sức mạnh vô địch, nhờ vậy mà thời quốc gia phong kiến tự chủ cả nước có dăm ba triệu dân ta phá tan hàng chục vạn giặc Tống. Ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông là đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời ấy.

Tuy nhiên bước vào thời kỳ văn minh hiện đại phải hòa nhập với thế giới thì dân ta lại bộc lộ quá nhiều mặt hạn chế. Do tư tưởng tiểu nông thâm căn cố đế cha truyền con nối bao đời để lại nên nói chung người Việt Nam mắc không ít thì nhiều căn bệnh phổ biến do tư tưởng tiểu nông gây ra như bảo thủ, bè phái, ích kỷ, hẹp hòi, hiếu thắng, hợm mình, phù phiếm... Về tư duy thì cảm tính hơn lý tính. Yêu ghét nhiều khi cũng cảm tính. Vô ý đi vấp hòn đá đau chân thì quay lại chửi hòn đá. Ra đường đi phạm luật giao thông, bị phạt, bị giữ xe, không tự trách mình mà lại đi trách cảnh sát giao thông. Rồi từ đó hiểu xấu cả ngành công an. Ngày ngày sống trong yên bình, ra đường bọn trộm cướp chỉ dám hành động lén lút. Bao nhiêu cái xấu khác cũng chỉ dám lén lút xuất hiện... Tất cả phải nhờ có ngành công an và những người thực thi luật pháp ra tay ta mới được hưởng sự yên bình ấy. Đó là lối nhìn còn phiến diện, do ta sống trọng tình, đơn giản, duy cảm. Trọng tình là tốt đẹp, nhưng bước vào cuộc sống hiện đại mỗi người phải tự điều chỉnh lối sống, lối nghĩ, lối cảm cho hòa đồng được với cộng đồng thế giới văn minh ngày nay.

                                                                                                                          N.H.N


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.