NỘI DUNG CHI TIẾT
Nhớ Trung đoàn trưởng Anh hùng
6/14/2018

 

                                                                                         Truyện ký của Bùi Ngọc Quế

Những ngày tôi được may mắn sống và chiến đấu cùng Anh hùng Quân đội, Trung đoàn trưởng, liệt sỹ: Nguyễn Văn Ty thật ngắn ngủi. Nhưng đôi điều tôi biết về Anh, cũng đủ cho tôi ghi nhớ suốt đời.

Nhớ lại! Ngày ấy, mùa mưa, đầu 6/1969, chiến sỹ mới chúng tôi từ miền Bắc hành quân vào đến căn cứ Xóm Giữa (Tây Ninh), được bổ sung ngay về đơn vị chiến đấu. Cán bộ nhận quân là anh Nguyễn Văn Bối, Trợ lý Quân lực của Sư đoàn 9. Dáng người anh cao, gầy, đen như que củi, nhưng tốt bụng, vui chuyện, vừa đi đường anh Bối vừa phổ biến cho chúng tôi biết: - Phen này, các cậu được điều về Trung đoàn 88A, nguyên là đơn vị chủ công của Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong, nổi tiếng từ kháng chiến chống Pháp. Trung đoàn vào Nam đánh Mĩ từ 31/12/1965, hiện nay phiên hiệu là F59B, phối thuộc với Sư đoàn 9, đơn vị chủ lực của miền Đông Nam Bộ. Trung đoàn trưởng là Anh hùng Quân đội Nguyễn Văn Ty, đơn vị quen gọi cái tên thân thiết là anh ba Ty. Anh có tài chỉ huy đơn vị chiến đấu, đánh đâu thắng đó, bọn địch phải khiếp sợ, chúng đặt cho anh biệt danh là “con hổ chột”, vì anh bị thương hỏng mắt phải. Đơn vị đã tham gia chiến dịch Mậu Thân Xuân 1968 ở vùng ven Sài Gòn - Gia Định, tam giác sắt Củ Chi, vừa về đến biên giới Tây Ninh, đã “sơi” ngay một Tiểu đoàn lính Mĩ, đóng chốt ở ngã ba Cầu Vịnh... Dịp này, các cậu về sẽ được tham gia trận đánh mới, thể nào cũng có cậu lập công xuất sắc, được phong tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mĩ...

Nghe anh Bối nói thế, chúng tôi mừng rơn, quên nỗi gian lao, vất vả, đói rét, bệnh tật của suốt 4 tháng trời “cuốc” bộ vượt Trường Sơn, mong sớm trở về đơn vị mới, để hòa vào cuộc sống chiến đấu và chung niềm vui với không khí thắng lợi. Thế hệ chúng tôi, được sinh ra sau Cách mạng tháng 8/1945, lớn lên trong kháng chiến chống Pháp, chỉ biết chiến tranh và kháng chiến qua sách vở, báo chí và phim ảnh. Chúng tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc các nhân vật thần tượng anh hùng, trong các tác phẩm văn học: “Sống như anh”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Ruồi trâu”, “Họ chiến đấu vì Tổ quốc”... Giờ đây, sắp được làm chiến sĩ của Anh hùng Quân đội bằng xương bằng thịt, ai mà chẳng phấn khởi, tự hào, tin tưởng. Trong tôi lúc ấy tưởng tượng ra Anh hùng ba Ty phải cao to, đẹp trai, mắt xếch, cằm vuông, oai vệ... Đặc biệt có tình cảm luôn gần gũi, thân thiết với chiến sĩ, như cha con, anh em ruột thịt, chẳng giống như 6 tháng huấn luyện ngoài Bắc, đến lúc lên đường đi Nam chiến đấu, chúng tôi mới được gặp mặt, chia tay Trung đoàn trưởng đơn vị cũ.

Như hiểu được tâm trạng chúng tôi, anh Bối lại động viên, an ủi:

- Chỉ có cánh lính thông tin, trinh sát là thường xuyên được sống gần anh ba Ty nhất, được anh cưng chiều, cho ăn nhiều đường sữa, thịt hộp, mì tôm.... bồi dưỡng liên tục. Chả là khi đơn vị nghỉ ngơi, củng cố thì anh ba Ty cùng cơ quan Tham mưu, Tác chiến, lính Thông tin, Trinh sát đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường và phương án chiến đấu mới, có khi đi trước thời gian cả tháng. Còn nếu không, cứ làm anh lính bộ binh ở đơn vị chủ công, mũi nhọn, xung kích, thế nào cũng được gặp anh ba Ty đến kiểm tra, động viên tại chiến hào, ngay trước giờ nổ súng...

Chúng tôi tranh nhau nói lên nguyện vọng của mình, khi nghe tôi nói muốn làm lính trinh sát, cậu Nguyễn Văn Phấn, (quê huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa), cười hềnh hệch, giễu cợt: - “Cái thứ mày to con, già lừa ưa nặng, cho vác cối 82 hoặc ĐKZ to đùng mới đúng, chứ trinh sát gì mà ngủ ngáy như kéo gỗ, bằng cái “lạy ông tôi ở bụi này”. Cậu ta nói đúng, nhưng tức như bò đá, tôi đành lặng thinh.

Chập tối hôm đó, chúng tôi về đến căn cứ Bến Tháp - Cầu Đương (Tây Ninh). Dưới rừng cây săng lẻ, cây khộp đang xanh mướt lá, ngay trên bờ sông Vàm Cỏ Đông dòng nước trong xanh, hiền hòa, đã quện vào tâm hồn của tôi từ nhỏ, bởi lời ca tha thiết của nhạc sĩ Trương Quang Lục. Tôi thấy hàng trăm ánh đèn pin lia ngang, quét dọc, hối hả đi từ các tán lá cây chạy ra. Cán bộ và chiến sĩ cũ của đơn vị đón mừng, vây quanh các chiến sĩ mới... Ôi! Những đứa con của quê hương miền Bắc, vào Nam chiến đấu đã lâu, các anh ôm lấy chúng tôi, vui mừng hỏi han rối rít, nào chuyện sản xuất, chiến đấu rồi chuyện chị em ngoài hậu phương. Tôi phấn khởi quá, liến thoắng trả lời các câu hỏi, quên mất người đứng trước mặt, đang nhắc lại câu hỏi tôi lần thứ ba:

- Cậu quê ở Lâm Thao, Phú Thọ à?

Anh Bối cười cười đỡ lời:

- Vâng, chính hiệu là “dân mượn xà phòng” nhà Thủ trưởng đấy ạ!

- Hay quá, thế thì cậu vào đây, đi với tớ... Nào đi.

Anh kéo tay tôi quá mạnh, tôi hốt hoảng lùi lại, anh Bối rỉ tai tôi:

- Đây là Tiểu đoàn trưởng Phùng Văn Hiên, (quê ở xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ). Cậu đi đi cho anh hai Hiên hỏi chuyện quê nhà.

Tôi chào các đồng đội, đeo ba lô lên vai, bước theo Tiểu đoàn trưởng, đồng hương, lòng tràn ngập vui sướng. Đến trước một cái bàn, được ghép lại bằng nhiều khúc gỗ tròn, có ngọn đèn dầu nhỏ, anh hai Hiên với tay lấy chiếc bi đông Mĩ, đang úp ngược trên miệng chiếc ca inox, rót ra bát nước chè, rồi nói:

- Cậu uống nước chè Củ Măng chính hiệu, nhưng vẫn thua chè Phú Thọ quê mình. Nào nói chuyện quê hương cho mình nghe với. Mình vào đây cùng Trung đoàn đã 3 năm nay, nhớ miền Bắc quá... Mãi vừa rồi mới nhận được thư bà xã và thằng con trai mình cũng viết kèm mấy chữ, dặn bao giờ bố về, nhớ mua cho con khẩu súng lục... Thế mới láo toét chứ... Cậu biết không? Mẹ nó sai nó viết thư thế, có nghĩa là mình phải phấn đấu trở thành cán bộ, thành sĩ quan,  đừng sợ chết, đảo ngũ, làm những điều bậy bạ. Các bà ấy ghê lắm, thâm lắm... hà hà!

Vui chuyện, Tiểu đoàn trưởng cứ nói tràn, còn tôi cứ im lặng nghe và nhìn anh khuôn mặt đẹp trai, trán vuông, mắt rất sáng, tinh nhanh, cao tầm thước vừa phải, chỉ mỗi tội lưng hơi gù. Một lát sau, anh mới nghiêm mặt nói:

- Tôi quyết định, điều cậu về làm cần vụ cho tôi, kể từ giờ phút này, rõ chưa?

Tôi giật mình, sửng sốt, lắp bắp nói:

- Báo cáo Thủ trưởng, cho tôi xin được làm lính trinh sát của Tiểu đoàn ạ!

Tiểu đoàn trưởng cũng ngớ ra, có vẻ không bằng lòng:

- Tại sao cậu lại chọn lính trinh sát? Cậu không hiểu lính trinh sát là cực kỳ gian khổ, là đi lẻ, độc lập tác chiến, sẵn sàng hy sinh... Hy sinh mất xác đấy cậu ạ. Tôi là lính trinh sát cũ trưởng thành lên cán bộ chỉ huy, tôi khuyên đồng hương nghĩ lại!

Tôi bình tĩnh trả lời, đề đạt nguyện vọng và cuối cùng cũng được Tiểu đoàn trưởng chấp nhận. Anh gọi người đưa tôi xuống giao cho Trung đội trinh sát của Tiểu đoàn ở gần đó. Bắt tay tôi anh lắc mạnh:

- Tạm gửi đồng hương xuống trinh sát một thời gian, rồi tôi sẽ “lôi” cậu lên làm cần vụ sau!

Sáng sớm hôm sau, các chiến sỹ mới được lệnh tập trung tại Tiểu đoàn bộ, để học tập chính trị và tìm hiểu trang sử vẻ vang truyền thống chiến đấu của Trung đoàn 88 - Tu Vũ, rồi của Tiểu đoàn 8 - đơn vị chủ công, có tài đánh công kiên. Đến nay tôi vẫn nhớ những ngày kỷ niệm truyền thống: ngày 1/7/1949 thành lập Trung đoàn 88, ngày 28/8/1949 thành lập Sư đoàn 308. Trong lớp học có một phòng triển lãm tranh dã chiến, chúng tôi rất thích và dừng lại khá lâu, ngắm nhìn những bức tranh ký họa về thành tích chiến đấu, phục vụ chiến đấu, chân dung các Dũng sĩ diệt Mĩ, Chiến sĩ thi đua: Trần Ngọc Thổ (Đặc công), Trần Duy Quang (D7), Nguyễn Văn Cường (Đặc công), Trần Hắc Hải (D8)... Những bức tranh này đều do hai họa sĩ của Ban chính trị Trung đoàn là Trương Hiếu và Bùi Đức Liễn vẽ. Xem mãi, vẫn không thấy, có bức tranh nào vẽ chân dung Anh hùng Quân đội Nguyễn Văn Ty. Tôi thắc mắc hỏi, được Tiểu đoàn phó chính trị Phạm Ngọc Hiến (quê xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản Nam Hà), vui vẻ trả lời:

- Anh ba Ty khiêm tốn lắm, Anh ấy bảo chừng nào đơn vị này chưa đạt được danh hiệu Anh hùng thì đừng vẽ vời tuyên truyền gì về anh ấy cả!

Chúng tôi liền đề nghị anh Hiến kể cho nghe về cuộc đời và thành tích chiến đấu của Anh ba Ty. Suy nghĩ một lát, rào trước đón sau, anh Hiến mới nói:

- Những gì tôi biết về anh ba Ty là rất ít, cũng chỉ nghe các anh: Trần Kính Hiền, Vũ Sắc, Ong Thế Huệ... Những người cùng thời với anh ba kể lại, chứ tôi cũng chưa moi được chuyện riêng của anh ấy bao giờ, nếu ai đó lợi dụng lúc vui mà hỏi, được anh trả lời ngay: - Hết việc rồi sao, mà lục vấn tôi chuyện cũ. Hãy rút kinh nghiệm ngay trận đánh hôm qua, để lo cho trận đánh ngày mai. Nay theo yêu cầu của các đồng chí, tôi xin kể tóm tắt như thế này: - Anh ba Ty, sinh 1931, trong một gia đình cố nông nghèo khổ, quê xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc (cũ). Năm 1949, anh tình nguyện nhập ngũ vào đơn vị C5D8E88. Trong trận đánh của đơn vị tại đồi A1, cửa ngõ của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, một trận đánh ta và địch giằng co quyết liệt trong nhiều ngày, giữa thời điểm gay go nhất, hỏa lực địch tập trung đạn dày đặc bắn ra cửa mở, làm các chiến sỹ Tiểu đội bộc phá của đơn vị thương vong hết. Thấy vậy, anh Nguyễn Văn Ty, đang là Tiểu đội trưởng xung kích, đã xông lên, vượt qua lửa đạn, bất chấp hy sinh, một mình liên tục đánh 9 quả bộc phá ống, quét sạch 9 lớp hàng não kẽm gai, mở toang cửa mở, tạo điều kiện cho xung kích ta xung phong tiêu diệt địch và làm chủ đồi A1, uy hiếp toàn bộ lực lượng địch tại Điện Biên Phủ. Bản thân anh ba Ty, dù bị thương nặng, đạn ghim vào hỏng mắt phải, nhưng anh vẫn không lùi bước, tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu, đến kết thúc trận đánh, anh mới chịu lùi về phía sau điều trị. Vết thương ổn định, anh nhận quyết định phục viên về quê, làm ruộng, lấy vợ và nuôi con, sống bình thường như mọi người nông dân khác. Năm 1958, chuẩn bị cho Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc, đơn vị nhớ đến chiến công tại đồi A1 và thành tích đặc biệt trong chiến đấu của anh, liền cử cán bộ cho xe ô tô đón anh về đơn vị để viết báo cáo thành tích, đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội. Các cậu biết không?... Giọng anh Hiến phấn chấn hẳn lên: hôm cho người về đón anh ba Ty, anh đang mặc quần nâu, áo vá, đầu đội nón lá, đi cày ngoài ruộng. Cụ Nguyễn Văn Thạch, thân sinh ra anh, nghe chưa rõ câu chuyện, đã hốt hoảng chạy tắt ra đồng, tìm Anh và nói: - “Con ơi! Đơn vị cũ cử người, mang theo súng, đi ô tô về tìm để bắt con đấy. Bố sợ quá, nên vội báo tin để con liệu bề...”.

Anh ba Ty cười động viên bố, trao cày cho ông, rồi thong thả rửa chân tay, bước lên bờ. Cũng là lúc hai cán bộ đơn vị vốn là đồng đội chiến đấu cũ của anh vừa đi tới, họ nhận ra nhau, lâu ngày gặp lại, vồn vã hỏi chuyện và giục anh thay quân phục mới, lên xe cùng về đơn vị. Khi về tới Phòng chính trị Sư đoàn, mới biết: Anh ba Ty không biết chữ, nên toàn bộ thành tích chiến đấu của anh được anh “Báo cáo bằng miệng”, tại Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc. Sau khi được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng, anh ba Ty mới được đi học bổ túc văn hóa cấp tốc, hết lớp 4, rồi trên cho anh sang Liên Xô (cũ) để điều trị vết thương, lắp mắt giả và theo học khóa quân sự. Lúc về nước, anh được phong quân hàm Thượng úy, giữ chức vụ Tham mưu trưởng Tiểu đoàn. Đến khi Trung đoàn đi B, anh là Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Trước tình hình sức khỏe của anh không được tốt, cấp trên giữ anh lại công tác ở ngoài Bắc. Anh quyết tâm xin đi chiến đấu cùng đơn vị. Vào đến chiến trường B2 - miền Đông Nam Bộ, Bộ chỉ huy Miền và chị ba Định (Tư lệnh phó Miền) nhiều lần gọi anh về phía sau công tác. Anh vẫn đề nghị xin tiếp tục được ở lại để xây dựng đơn vị. Anh ba Ty thường tâm sự với mọi người: - “Tôi đã hứa với Bác Hồ, với Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 308, tôi sẽ cùng Đảng ủy, Ban Chỉ huy phấn đấu xây dựng Trung đoàn 88A trở thành đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang, rồi sau đó cấp trên điều tôi đi đâu cũng được”. Ngừng một lát, nhìn chúng tôi anh Hiến nói tiếp: - Hơn 3 năm nay, Trung đoàn đã đứng chân và hoạt động đánh địch từ chiến trường Tây Nguyên, các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc vào Bình Long, Phước Long, Tây Ninh... Biết bao gian khổ, hy sinh, nhưng cán bộ và chiến sỹ vẫn giữ vững, phát huy truyền thống vẻ vang của Trung đoàn, xây dựng được nhiều tập thể, cá nhân chiến đấu, lập công xuất sắc. Chúng ta tin rằng nhất định Trung đoàn sẽ trở thành đơn vị Anh hùng, xứng đáng với mong ước của cán bộ, chiến sĩ và của anh ba Ty.

Kết thúc buổi học tập chính trị hôm đó, chúng tôi học hát bài ca truyền thống, lời bài hát có những câu: “...Quân Tiên Phong tiến lên, tiến lên/ Phất cao lá cờ tiền phong tranh đấu/ Quân Tiên Phong tiến lên, tiến lên/ Phất cao lá cờ truyền thống xung phong...” được lớp chiến sỹ trẻ chúng tôi cất lên hào hùng, âm vang, xao động mặt nước sông Vàm Cỏ Đông và sống động khoảnh rừng biên giới Tây Ninh, khét mùi bom đạn Mĩ, át đi tiếng máy bay các loại đang gầm rú trên đầu và tiếng pháo bầy từ căn cứ Trảng Lớn bắn đi.

Đầu 11/1969, Trung đoàn được lệnh rời Sư đoàn 9 và chiến trường miền Đông Nam Bộ, về chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung Nam Bộ, Quân khu 2 (cũ), làm nhiệm vụ chống phá kế hoạch bình định của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, làm nòng cốt cho bộ đội địa phương, du kích và đồng bào ta ở các tỉnh đồng bằng, vùng lên diệt ác, phá kìm. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Trung đoàn phải thay đổi hình thức tác chiến, từ tập trung sang phân tán nhỏ lẻ của du kích, biết hành quân trên đồng nước, bơi xuồng, gói buộc trang bị vượt sông rạch. Vui nhất là hôm đơn vị được nhận quân trang mới, từ mũ tai bèo, võng, quần áo, tấm đắp... toàn bằng vải vinilon, mỏng, nhẹ, ít thấm nước và nhanh khô. Có tin nói phen này về đồng bằng đông dân, lắm ba má, gặp nhiều chị em... Thế là từ cán bộ đến chiến sĩ, thi nhau chữa quần áo kiểu bludông, quần tuýp theo mốt mới, lấy thuốc đỏ của y tá bôi vào vỏ súng ngắn K54, rồi cạo râu, tỉa tót đầu tóc... trông như chuẩn bị đi hội. Lính trinh sát chúng tôi được cử đi trước với cán bộ Chỉ huy, Tham mưu. Suốt một đêm mưa gió, từ căn cứ Phố Bà Tây, Bến Cầu (Tây Ninh) lội qua cánh đồng “chó ngáp”, cắt qua vùng “mỏ vẹt” Ba Thu (Long An). Mờ sáng hôm sau, chúng tôi đã có mặt ở Sóc Ban Chăng biên giới tỉnh Kiến Tường, cửa ngõ của vùng Đồng Tháp Mười. Vốn quen với những cánh rừng miền Đông Nam Bộ, nay được phóng tầm mắt hết cỡ nhìn cánh đồng trống trải mênh mông, xa xa các xóm ấp chiến lược nhấp nhô mái tôn trắng lóa, những chòi cu, tháp canh của đồn bốt địch đứng chơi vơi như sắp ngã trước ánh ban mai. Chúng tôi đi sau Tiểu đoàn trưởng hai Hiên. Đội hình hành quân có phần rời rạc, vì mệt, đói và mất ngủ. Phía trước mặt là rừng le lúp xúp, thấy có 2 người đang đứng chờ. Khi sắp tới gần, người mặc bộ đồ bà ba đen, quấn khăn rằn, đội mũ biệt kích Mĩ hất ngược ra sau gáy, trạc gần 40 tuổi, hai tay chống nẹ, hấp háy đôi mắt, cười và nói rất vui, giọng Bắc pha Nam:

- Đơn vị chủ công gì mà đi đứng tụt tạt dữ vậy mấy cha nội? Đánh đấm thì như con củ c... mà trang phục như lính cậu thế này?

Anh hai Hiên khựng lại, nhìn bao súng ngắn bên hông mình nhòe nhoẹt màu thuốc đỏ, gượng cười chống chế, liền đặt vội chiếc bồng xuống đất, hí hoáy mở ra. Thấy vậy, người ấy vội hỏi:

- Hai Hiên tìm gì?

- Dạ! Báo cáo em muốn nhặt hết con củ c... của Thủ trưởng vừa văng ra, để mang về dành làm giống ạ!

Tất cả cán bộ, chiến sĩ cùng cười, số lính mới chúng tôi không hiểu, ngơ ngác. Tiểu đội trưởng Ngô Văn Ánh ghé tai tôi nói nhỏ:

- Anh ba Ty, Trung đoàn trưởng đấy... Coi chừng!

Tôi buột miệng reo lên:

- Ôi! Thật sao? Anh hùng Quân đội và Trung đoàn trưởng gì mà ăn mặc như ông nông dân, lại nói năng bậy bạ thế hả?

Anh Ánh tức tiết, vằn đôi mắt xếch ngược lên, đưa tay bịt mồm tôi lại. Tôi hoảng quá, lảng vội ra phía sau, thì nghe có tiếng gọi giật lại:

- Này đồng chí, đừng sợ, quay lại đây. Đánh giặc căng thẳng mãi, cũng phải văn nghệ tý cho vui vẻ chứ!

Chúng tôi được lệnh ngồi nghỉ tản ra, lợi dụng các cộng sự ở rừng le để tránh phi pháo, ngồi ăn gạo rang... Nhiều người đã tranh thủ chợp mắt. Anh Ánh tựa hồ như còn cay cú, lại tận nơi tôi ngồi, mặt đỏ quạu làu bàu:

- Mày chỉ được cái ba trợn, láu táu... Phen này, tao đề nghị cho mày xuống bộ binh. Đừng tưởng cậy thế đồng hương, đồng khói mà anh hai Hiên tha cho mày đâu? Dám xúc phạm Thủ trưởng Trung đoàn, liều đến thế là cùng!!!

Tôi phớt lờ, cứ ngồi nhai gạo rang, ngửa bình tông tu nước uống ừng ực.... Rồi miên man suy nghĩ, nhận xét về anh ba Ty lần đầu tiên tôi nhìn thấy, thật chẳng giống tưởng tượng của tôi tý nào, dáng anh cao, gầy, mặt xương, sống mũi dọc dừa, con mắt phải giả trắng nhởn, duy có vầng trán cao, mái tóc cắt ngắn như húi cua... Với dáng vẻ bề ngoài như vậy, đố ai dám bảo đấy là tướng mạo của anh hùng. Mải suy nghĩ, đôi mắt tôi trĩu xuống ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Đến lúc có người lay mãi, tôi choàng tỉnh, thì ra anh ba Ty đang gọi tôi:

- Này cậu lính trinh sát. Tôi nghe hai Hiên nói rồi: Cậu vừa làm được bài thơ “Xuân về Đồng Tháp” rất hay in trong tập Bản tin “Thi đua quyết thắng” của đơn vị. Tôi rất thích lớp trẻ các cậu có học, có hiểu biết, dám nói thẳng, nói thật. Nên tôi đã bàn với hai Hiên điều cậu về công tác ở Ban Chính trị Trung đoàn, đơn vị cần có những cây bút viết bài vở, tin tức... hiểu chưa?

Tôi đứng thẳng dậy rất nghiêm, nhưng lắp bắp không nói nên lời:

- Dạ! Báo cáo, em lỡ lời nói hỗn láo, trót dại... Xin Thủ trưởng tha lỗi!!!

Ngay tối hôm đó, chúng tôi tổ chức đi điều nghiên địch ở chi khu Long Khốt - Mộc Hóa (Kiến Tường). Đây là mắt xích chính, trên phòng tuyến quan trọng của địch án ngữ trên bờ sông Vàm Cỏ Tây, để ngăn chặn quân ta thọc sâu xuống vùng Đồng Tháp Mười. Cùng với các bốt ở các ấp Bình Châu, Măng Đa, Hòa Bình... tạo thành hệ thống kìm kẹp đàn áp nhân dân ta.

Tổ trinh sát của tôi đi đầu đội hình, lợi dụng đêm tối chúng tôi áp sát hàng rào thứ nhất, chuẩn bị chui qua, bỗng một con chim cút giật mình bay lên kêu chíp chíp, có tiếng chó sủa râm ran, pháo sáng địch bật lên, soi rõ từng lùm cây ngọn cỏ và xóm ấp im lìm. Đây là lần đầu tiên đi điều nghiên đồn địch nên tôi hơi run, cúi mặt xuống đất. Có tiếng nhắc khẽ phía sau: “Ngẩng đầu lên mà quan sát ghi nhớ chứ”. Tôi quay lại thấy anh ba Ty và anh hai Hiên đang ngồi xổm, ẩn mình sau bụi cỏ lác, mắt chăm chăm nhìn vào chi khu của địch. Tôi cảm thấy xấu hổ, tự động viên mình phải bình tĩnh, dũng cảm noi gương các anh, dẫu có hy sinh cũng phải xứng đáng. Pháo sáng tắt, chúng tôi tiếp tục trườn lên, kiên trì vượt qua các hàng rào thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm. Lúc này trời đã quá khuya, ánh sáng đục mờ, có thể nhìn rõ con bờ đất cao gần 2 mét trước mặt, tôi hiểu bên trong đó là các ụ súng, các lỗ bắn, sẵn sàng nhả đạn điên cuồng ra mục tiêu mà chúng nghi ngờ. Tôi cũng nhận ra hai tên lính gác đang lập lòe hút thuốc lá, đập muỗi liên tục, chúng cách chúng tôi không xa. Tôi đưa tay sờ xuống đất trước mặt, phát hiện con mương có nước, nhưng chẳng rõ sâu, nông, rộng, hẹp thế nào. Tôi còn đang do dự thì anh ba Ty trườn lên ghé tai tôi nói nhỏ: - “Cậu lội xuống xem thế nào, chú ý dây thép gai và pháo sáng đấy”. Tôi bình tĩnh toài người xuống nước, thấy bọt nước bắn lên èo èo. Thì ra toàn sình lầy, ngập ngang cổ, tôi vất vả lắm mới vượt qua nổi con mương rộng chừng 3 mét này, rồi quay lại. Anh ba Ty và anh hai Hiên thì thào với nhau mấy câu và ra lệnh rút lui. Chúng tôi từ từ xóa dấu vết, vượt ra khỏi các hàng rào, cũng là lúc trời sắp sáng. Tới chỗ an toàn ngồi nghỉ, anh ba Ty nói với anh hai Hiên:

- Hướng chính diện này, xung kích ta không thể vào được, cậu bố trí hỏa lực sát hàng rào thứ nhất khống chế cho bộ binh đánh từ phía sông Vàm Cỏ Tây lên. Tối mai đi nghiên cứu tiếp. Rồi anh ba nói với chúng tôi:

- Các cậu thấy đấy! Ta đi nghiên cứu địch mà mắt không thấy, tay không sờ thực tế thì chỉ có chết cả lũ với chúng nó... Bộ binh mình làm sao vượt nổi con mương ấy, sa xuống đấy rồi nó lẳng lựu đạn là chết tất! Thôi ta về căn cứ nghỉ ngơi đã, cho chúng nó sống thêm vài đêm nữa rồi sẽ tính sau...

Tối hôm sau, theo lệnh anh ba Ty, chúng tôi đi nghiên cứu ở phía sau lưng địch vào. Quả đúng như lời anh nói, địch dựa vào các nhà dân, ấp chiến lược, nên bố trí vật cản sơ sài, chỉ có 3 hàng rào và bờ đất thấp, chúng tôi nghiên cứu xong, an toàn rút ra bờ sông. Đến đây anh ba Ty nói với anh hai Hiên:

- Cậu bố trí cho Đại đội công binh của Trung đoàn tăng cường trận đánh ở đây, để chặn quân địch cứu viện từ tàu chiến đánh lên, đồng thời không cho chúng nó trong chi khu rút xuống tàu chiến chạy thoát... Chú ý cho các trợ lý dân vận gọi loa hướng dẫn nhân dân vùng lên diệt ác, phá kìm, thoát ra vùng giải phóng.

Trở về căn cứ Sóc Ban Chăng, trưa hôm đó tôi đang trải nilon dưới đất nằm nghỉ thì anh hai Hiên gọi tôi lên. Tâm sự một lát rồi anh nói:

- Anh ba Ty khen cậu dũng cảm, tốt. Nhưng anh rất quý những người lính có trình độ văn hóa như cậu, nên đã quyết định điều cậu về Ban Chính trị Trung đoàn công tác. Tôi chúc đồng hương tiến bộ, xứng đáng với tình cảm ưu ái của cấp trên!

Cầm tờ quyết định có chữ ký của anh ba Ty, tôi muốn gặp Trung đoàn trưởng để xin được ở lại với anh em Trung đội trinh sát. Nhưng anh hai Hiên nói liền một hơi:

- Anh ba Ty đã đưa đoàn cán bộ của D7, D9 lên Xóm Phố, Tà Nu, Tân Lèo đi nghiên cứu, chuẩn bị cho lực lượng thọc sâu xuống Vùng 4 - Đồng Tháp Mười. Cậu đi tìm anh ba mà đề đạt nguyện vọng... Hà, hà! Nói giỡn chơi thôi, trên đã quyết định, cậu phải chấp hành. Về báo cáo với Trung đội trưởng xem còn hộp cá mòi nào liên hoan chia tay. Tối nay, tôi cho người đưa cậu về ấp Bình Hòa gặp Ban Chính trị Trung đoàn nhận nhiệm vụ. À này, ngày chiến thắng, cậu còn sống trở về nhớ lên Hạ Hòa thăm vợ con tớ nhé!!!

Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi vĩnh biệt anh ba Ty, anh hai Hiên, và các chiến sĩ trinh sát D8. Vì sau đó phần nhiều các anh đều anh dũng chiến đấu hy sinh và bị thương tại chiến trường Đồng Tháp Mười. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy mình thật may mắn, nếu không có quyết định của anh ba Ty ngày đó, chắc tôi cũng không còn sống để trở về, có được cuộc sống hạnh phúc như hôm nay. Tôi càng biết ơn vô hạn các Anh hùng Liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh.

Sau khi Tiểu đoàn 8 nổ súng tiêu diệt địch ở chi khu Long Khốt, anh Ba Ty cùng lực lượng của hai Tiểu đoàn 7 và 9 thọc sâu xuống đồng bằng sông Cửu Long, đi theo ngả Kiến Phong. Dưới sự chỉ huy của anh ba, các đơn vị của Trung đoàn đã tiêu diệt gọn Tiểu đoàn Bảo an số 44, đánh mở vùng, mở mảng, nhổ hàng loạt đồn bốt địch ở chi khu Mỹ An, Ngã 6, Kênh Quận, chùa Phật Đá, kênh Nguyễn Văn Tiếp... giải phóng nhân dân trở về với ruộng vườn. Giữa lúc khí thế chiến thắng của đơn vị đang lên cao. Ngày 05/02/1972, anh ba Ty đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong trận đánh địch bốt Ả Rặc, huyện Cái Bè (Mỹ Tho). Toàn thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn cùng nhân dân địa phương vô cùng đau đớn và thương tiếc anh vô hạn. Hôm đơn vị tổ chức lễ tang truy điệu anh, tôi được phân công cùng các Họa sĩ Bùi Đức Liễn và Trương Hiếu làm công tác khánh tiết. Hai anh vẽ được bức chân dung Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ty trên khổ giấy lớn tờrôki, khiến Chính ủy Nguyễn Thu Sơn và Chủ nhiệm chính trị Ong Thế Huệ nhìn thấy đều mủi lòng. Còn tôi được phân công viết bài điếu văn để Chính ủy đọc. Tôi đã thức trọn một đêm để viết bằng nước mắt và trái tim mình. Đến nay, tôi vẫn còn nhớ mấy câu thơ dùng kết bài điếu văn ấy: “- Than ôi! Anh hùng Quân đội Nguyễn Văn Ty, từ nay không còn nữa! Chúng tôi, biến đau thương này thành bão lửa, trút xuống đầu thù, xin giương cao ngọn cờ, Quân Tiên phong - Quyết thắng!”.

Ngày 10/9/2017, nhân dịp tôi vào thành phố Hồ Chí Minh. Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, Nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7, hiện nay là Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin thành phố Hồ Chí Minh, đồng đội chiến đấu cũ thân thiết, hồi đó anh là Tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nhất, nổi tiếng gan dạ, dũng cảm của đơn vị, được anh ba Ty cưng chiều nhất, đưa tôi về Tiền Giang thăm chiến trường xưa và viếng nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Mĩ Tho. Tướng Thổ bảo tôi: “Đã mấy lần gia đình anh ba Ty vào đây đề nghị xin được đưa ngôi mộ anh về ngoài Bắc. Nhưng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Tiền Giang vẫn tha thiết giữ ngôi mộ anh ba Ty ở lại để đời đời phụng thờ, cùng với các Anh hùng liệt sĩ khác đã trở thành niềm tự hào về truyền thống Anh hùng đấu tranh cách mạng của quê hương, đất nước”. Đến trước ngôi mộ Anh hùng Liệt sĩ - Trung tá Nguyễn Văn Ty, Tướng Thổ và tôi đốt nhiều bó hương, cắm lên các ngôi mộ Liệt sĩ xung quanh. Bỗng tướng Thổ khóc gào lên rất to, giọng thống thiết:

- Ới!!! Ới!!! Anh ba Ty ơi!!! Em và chú Quế từ Phú Thọ vào đây thắp nhang kính viếng hương hồn anh!!! Anh có nhận ra hai thằng em không?

Tôi vô cùng xúc động, nước mắt trào ra, vội vàng quỳ gối, khom lưng, chắp tay vái lạy trước ngôi mộ người Anh hùng, Thủ trưởng cũ kính mến. Chợt một luồng gió mùa Thu mát lành từ sông Tiền thổi tới, làm bát hương trên ngôi mộ anh bốc lửa cháy sáng rực, tung lên trời những làn khói trắng cuồn cuộn nghi ngút và tỏa ra quấn quýt bay quanh chúng tôi mùi hương trầm thơm ngào ngạt. Như nhắc tôi nhớ mãi hình bóng anh ba Ty - người Trung đoàn trưởng Anh hùng.

                                                            B.N.Q


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.