NỘI DUNG CHI TIẾT
Lãnh binh Bùi Hữu Khanh - người có công xây dựng Nghĩa trủng Xuân Áng
8/1/2018


                                                                                            Triệu Hồng

Ông Bùi Hữu Khanh là người làng Xuân Áng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Sơn Tây nay là xã Xuân Áng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; quê gốc của ông ở làng Mậu Lương,  Phủ Hoài Đức, tỉnh Sơn Tây.

Đến đời ông nội của ông Khanh là Bùi Hữu Nhân có sự chuyển cư từ làng Mậu Lương lên mạn ngược sinh sống về làm ăn tại làng Xuân Áng.

Đời cha ông Khanh là Bùi Hữu Tiến học hành hơn người, được cử làm lý trưởng và sau được làm cai tổng Xuân Áng. Dưới thời Minh Mạng ông được triều đình cấp bằng bát phẩm văn giai vì làm cai tổng Xuân Áng 18 năm liền.

Bùi Hữu Khanh là con trưởng của ông Cai tổng Bùi Hữu Tiến, sinh năm Mậu Tý (1828), tự là Danh. Năm 38 tuổi (1866), ông Khanh lên làm cai tổng Xuân Áng. Sẵn có điều kiện kinh tế nên ông hết lòng giúp dân nghèo, lo cho dân có cơm ăn áo mặc, cứu giúp những người bị áp bức bóc lột lâm vào thế đường cùng. Ông giúp dân làng xây cầu Lương Xá bắc qua ngòi Yếng, nối trục lộ với 3 nhịp, kiểu cầu thượng gia hạ trì, bằng gỗ lim. Ông còn làm chùa Phiên Quận thuộc làng Phiên Quận, tổng Chương Xá, huyện Cẩm Khê cho nhân dân lễ bái. Việc hết lòng lo cho dân, nên nhân dân trong vùng rất quý trọng và coi ông như người thân của mình.

Năm 1873, giặc Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, lần thứ hai vào năm 1882, lần này thành bị hạ. Giặc Pháp đưa quân đi đánh các nơi, chúng hạ thành Sơn Tây 12/1883, chiếm thành Hưng Hóa 12/4/1884, lấy thành Tuyên Quang 15/4/1884 và các huyện, châu, phủ trong vùng. Nghe lời kêu gọi chống giặc Pháp của các văn thân, sỹ phu, võ tướng yêu nước, ông Bùi Hữu Khanh đã tập hợp lực lượng quân nghĩa dũng hơn 150 người, tự trang bị vũ khí, lập căn cứ, xây đồn phòng thủ sẵn sàng đánh giặc Pháp và tàn quân giặc Tàu đến thôn làng cướp bóc.

Ông Bùi Hữu Khanh liên hệ với các văn thân, võ tướng, thổ hào yêu nước trong vùng Hạ Hòa, Cẩm Khê, Thanh Ba để cùng nhau đánh giặc. Trong lực lượng nghĩa dũng, ông chọn những người tiêu biểu, giỏi võ nghệ ra chỉ huy các đội. Các ông Ngô Văn Thân, Ngô Văn Ngọ ở làng Xuân Áng; Trình Văn Chí, Trình Văn Khương ở làng Lâm Lợi; Nguyễn Văn Phang ở làng Động Lâm được ông chỉ định chỉ huy các đội quân nghĩa dũng sẵn sàng chiến đấu khi giặc Pháp kéo đến.

Khi ấy, Tuần phủ Nguyễn Quang Bích (tức Ngô Quang Bích), kéo quân từ Sơn Bình về Tiên Động lập căn cứ chống giặc Pháp. Khi Phong trào Cần Vương nổ ra, Tuần phủ Nguyễn Quang Bích được Vua Hàm Nghi phong: Hiệp biện đại học sỹ, Lễ bộ thượng thư, Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, Thuần Trung tướng. Ông Bích được quyền phong cho các tướng sỹ của mình các chức: Tham tán, đề đốc, lãnh binh, đốc binh, hiệp quản, cai đội. Với lực lượng sẵn có trong tay, ông Bùi Hữu Khanh được phong chức lãnh binh, chỉ huy dân binh tổng Xuân Áng, được giao nhiệm vụ giữ vùng đất từ ngòi Giành, lên ngòi Vần, bảo vệ vững chắc căn cứ Tiên Động về phía bắc. Các chỉ huy dưới quyền của ông Khanh cũng được phong các chức đốc binh, hiệp quản, cai đội. Các ông Ngô Văn Ngọ, Trịnh Văn Chí, Trình Văn Khương được phong đốc binh, ông Ngô Văn Thân được phong chức hiệp quản, ông Nguyễn Văn Phang được phong chức cai đội và nhiều chiến binh khác cũng được phong chức đội, phó đội.

Việc quân lúc đó khó khăn, Lãnh binh Bùi Hữu Khanh phải lo nuôi binh sỹ, tự sắm vũ khí. Ông phải dốc lúa gạo của nhà nuôi quân và vận động nhà giầu ủng hộ nghĩa quân và động viên binh sỹ lao động tự túc lấy lương thực, thực phẩm. Súng đạn thì ông bỏ tiền ra mua của quân Cờ Đen khi họ trở về nước và khuyên binh sỹ tự sắm lấy giáo mác, súng kíp, chế tạo các loại tạc đạn đảm bảo đánh thắng địch.

Lúc bấy giờ, lực lượng quân ta ở căn cứ Tiên Động phải chia quân đi chiếm giữ, đánh chặn và chi viện cho quân địa phương. Số quân của Lãnh binh Bùi Hữu Khanh phải giữ một vùng đất phía tây bắc huyện Hạ Hòa. Quân của ông lúc tập trung, lúc phân tán cơ động về phía nam và về phía bắc. Đội quân trung tâm đóng ở làng Xuân Áng do hai ông Lãnh Khanh và Đốc Ngọ chỉ huy, Hiệp Thân phụ trách hậu cần, kho tàng và khí giới. Ông Lãnh Khanh còn trực tiếp chỉ huy các đội quân phía bắc và phía nam do các ông Đốc Chí, Đốc Khương và Đội Phang quản lý. Nhiệm vụ cơ bản vẫn là tham gia bảo vệ căn cứ Tiên Động và ổn định đời sống của nhân dân, sẵn sàng đánh địch khi giặc Pháp đưa quân từ phía bắc và tây bắc tràn xuống và khi chúng đưa quân từ sông Thao tràn vào để càn quét, cướp bóc.

Ngày 10/6/1886, giặc Pháp  huy động 5.000 quân bao vây, tiến đánh Tiên Động. Trên mặt trận phía bắc Tiên Động, Lãnh binh Bùi Hữu Khanh cùng với binh sỹ của mình đã tham gia đánh chặn, tập kích quân Pháp chiếm đồn Ngòi Lao, đánh địch càn quét ở Chuế Lưu, Động Lâm và chặn giặc ở rừng Vặng Sặt, núi Mỏ Son thuộc làng Xuân Áng. Buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng, không thể tập trung toàn lực đánh Tiên Động. Chiến thắng Tiên Động lần thứ nhất, có công đóng góp của nghĩa quân Xuân Áng. Nhưng giặc Pháp chưa từ bỏ âm mưu đánh chiếm Tiên Động, chúng tập trung quân bao vây, đánh phá giải tỏa đường sông Thao, đường bộ trong khu vực phía bắc, phía nam và đông nam.

Nghĩa quân Xuân Áng tham gia chiến đầu trận đầu đã có 5 chiến binh bị hy sinh. Lãnh binh Bùi Hữu Khanh đã tổ chức truy điệu và chôn cất tại Đồng Quán dưới chân núi Ông. Đó là bãi đất đẹp, bằng phẳng, rộng rãi, thoáng mát. Sẵn có lòng thương các nghĩa binh Cần Vương hy sinh trên khắp các trận địa trong vùng, chủ yếu là ở căn cứ Tiên Động. Ông động viên binh sỹ và nhân dân trong vùng đi tìm hài cốt các nghĩa sỹ tử trận đưa về chôn cất cùng nơi mai táng các Liệt sỹ Cần Vương Xuân Áng.

Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, giặc Pháp tập trung quân càn quét, đóng đồn kiểm soát chặt các con đường thủy, đường bộ. Nghĩa quân vừa phải trực tiếp đánh địch, vừa phải tiến hành làm việc nghĩa đi tìm hài cốt các binh sỹ tử trận. Công việc này hết sức gian nan, nguy hiểm, nhưng các nghĩa binh và nhân dân Xuân Áng không ngại gian khổ hy sinh cất công đi tìm đem về mai táng. Lúc ấy, ông Bùi Hữu Khanh là người chỉ huy hay chữ liền đặt tên nơi chôn cất các nghĩa sỹ Cần vương là Nghĩa trủng. Có nghĩa là nơi chôn cất anh em binh sỹ hy sinh vì nghĩa lớn, nằm cùng trên mảnh đất thiêng cao ráo, đẹp đẽ, sáng sủa. Ông chọn ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm ngày giỗ, dân làng, binh sỹ và khách thập phương nhớ ngày giỗ về thắp hương tưởng niệm các nghĩa sỹ hy sinh vì dân, vì nước.

Trong thời gian này, Lãnh binh Bùi Hữu Khanh còn cho quân lính đi thu gom xác người dân bị đạn, bị pháo của giặc giết chết, không người nhận về chôn cất tại tràn ruộng của nhà ông tại cánh đồng Cổ Bồng. Với số lượng gồm 115 thi hài già trẻ được đem về chôn cất. Làm như thế, là để người bị giặc giết, người lâm nạn thác oan, không còn thân thích có mồ yên mả đẹp, thể hiện cái nghĩa cử cao cả, nhân văn của người còn sống đối với người đã chết.

Thời kỳ đầu bảo vệ căn cứ Tiên Động, nghĩa quân Xuân Áng đã đánh nhiều trận. Trận thắng phải kể đến trận Động Lâm, đánh phục kích tiêu diệt 23 tên giặc, thu 18 khẩu súng trường. Trận đánh đồn Ngòi Lao lần thứ nhất tiêu diệt nhiều tên địch, phá hỏng nhiều khẩu pháo 90 ly. Trận đánh đồn Ngòi Lao lần 2, phối hợp với nghĩa quân Đầm Đen đánh địch theo chiến thuật dương đông kích tây, quân của Xuân Áng tập kích đồn trên bộ, quân của Đầm Đen tập kích từ dưới sông Thao đánh lên làm cho đồn Ngòi Lao bị thiệt hại nặng, đâm bị thương tên đại úy Ba-tay (Batalls). Trận tập kích vào huyện lỵ Cẩm Khê tiêu diệt nhiều binh sỹ giặc, bắn bị thương tên tri huyện. Những trận đánh trên khiến quân Pháp rất sợ hãi không dám liều lĩnh mở những cuộc càn quét vào các làng thuộc tổng Xuân Áng. Trong các trận đánh ấy, binh sỹ và người dân tham gia trực tiếp đều khen Lãnh binh Bùi Hữu Khanh rất mưu trí, dũng cảm.

Cuối năm 1886, Bộ Chỉ huy Tiên Động có sự thay đổi lớn, chủ trương rút quân lên Nghĩa Lộ. Nghĩa quân Tiên Động phải thực hiện cuộc rút lui, giữa lúc đó quân Pháp mở cuộc tiến công lần thứ 2 vào căn cứ. Nghĩa quân Xuân Áng, dưới sự chỉ huy của Lãnh binh Bùi Hữu Khanh đã tham gia đánh chặn địch ở Vô Tranh. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, nghĩa quân  dựa vào địa hình đồi núi anh dũng đánh chặn địch, mở lối cho các đội quân Tiên Động rút lui an toàn sang Yên Lập lên Văn Chấn. Một cánh quân khác của Xuân Áng tham gia đánh chặn quân Pháp, bảo vệ cho nghĩa quân Tiên Động rút lui theo đường ngòi Vần lên Vân Hội, Trấn Yên.

Thời gian sau, nghĩa quân Xuân Áng tiếp tục làm nhiệm vụ giữ đất, giữ dân chống giặc càn quét, bảo vệ Bộ Chỉ huy nghĩa quân Cần Vương hoạt động trên địa bàn Mường Lò - Nghĩa Lộ. Nghĩa quân Xuân Áng dưới sự chỉ huy của lãnh binh Bùi Hữu Khanh còn xuất quân lên mặt trận Trấn Yên, Yên Lập đánh địch lập được nhiều chiến công.

Vào những năm 1887, 1888, Lãnh binh Bùi Hữu Khanh và nghĩa quân  lại  tiếp tục tìm kiếm đưa hài cốt các binh sỹ hy sinh về Nghĩa trủng Xuân Áng chôn cất. Đến cuối năm 1889, quân và dân Xuân Áng đã chuyển được 103  mộ phần, phần lớn đã được sang cát, lập thành một khu đất riêng, dưới bóng cây đa sum suê cành lá. Trong số 103 mộ, có 2 mộ được ghi tên thần chủ là ông Cai Mười, (đến giờ mới biết ông tên là Nguyễn Văn Mười, quê ở xã Đức Lý, Lý Nhân, Hà Nam) và ông Đội Trụ tên thật là Nguyễn Văn Trụ người xã Xuân Lũng, Lâm Thao, Phú Thọ, còn lại là mộ của những Liệt sỹ Cần Vương vô danh hy sinh vì đất nước.

Vào ngày 15 tháng Giêng năm Canh Dần (1890), Lãnh binh Bùi Hữu Khanh từ trong căn cứ về nhà làm giỗ cha. Hai tên phản bội là Bá Hùng và Nguyên Bánh đem quân về bắt trói ông Bùi Hữu Khanh và 3 người trong gia đình đem về làng Chuế Lưu giam giữ. Trong đêm, ông Thịnh em trai, anh Thưởng con trai, cô Rộng con dâu may mắn trốn thoát, còn Lãnh binh Bùi Hữu Khanh bị chúng đưa về nộp cho giặc Pháp tại đồn Ngòi Lao. Tại đây, tên quan ba Ba-đen (Badells) chỉ huy khét tiếng tàn ác, nó dụ dỗ và sai quân lính tra tấn rất dã man, bắt ông Khanh phải đầu hàng, kêu gọi tướng sỹ và dân các làng trong tổng Xuân Áng phải hạ vũ khí. Ông Bùi Hữu Khanh kiên quyết không nghe những lời đường mật của kẻ thù, hiên ngang bảo vệ khí tiết của mình. Sau 23 ngày đêm giam giữ, mua chuộc, đánh đập, giặc Pháp vẫn không khuất phục nổi ông. Sáng ngày 7 tháng 2 năm Canh Dần tức là ngày 25/3/1890, tên Ba-đen và bè lũ tay sai đưa ông Bùi Hữu Khanh ra bãi ghềnh Cây Dâu chém đầu và ngang thân. Chúng sai người vứt xác ông xuống ngòi Lao cho nước cuốn trôi làm mất tăm tích.

Song thi thể của Lãnh binh Bùi Hữu Khanh đã được vợ chồng ông bà Vương Văn Hán và bà Nguyễn Thị Thuận làm nghề chài lưới vớt lên và báo cho ông Nguyễn Văn Tường chiến binh Cần Vương người Xuân Áng bí mật chôn cất trên bãi cát bên ghềnh Cây Dâu. Một thời gian sau người thân của ông Khanh và binh sỹ Cần Vương bí mật đưa hài cốt ông Khanh về an táng trên cánh đồng Cửa Bồng trước ngôi nhà của ông, cách Nghĩa trủng Xuân Áng chừng 150m. Mộ phần của Lãnh binh Bùi Hữu Khanh được các thế hệ con cháu chắt chăm nom, xây dựng và trùng tu vào năm 2010, khá khang trang đẹp đẽ. Và chính những hậu duệ của cụ Bùi Hữu Khanh gần 130 năm qua đã góp công bảo vệ, chăm sóc, tôn tạo Nghĩa trủng Xuân Áng. Một Nghĩa trủng mà theo Giáo sư Lê Văn Lan đánh giá là  “di tích cực kỳ quý hiếm còn sót lại đến nay của phong trào Cần Vương tiêu biểu cho cả nước”.

Lãnh binh Bùi Hữu Khanh là một vị tướng mưu trí, dũng cảm, yêu nước, cuộc đời làm nhiều việc thiện, trung thành với nước, với dân, hy sinh vì nghĩa lớn, có công lớn trong việc xây dựng Nghĩa trủng Xuân Áng, một Nghĩa trủng duy nhất trên đất Bắc Kỳ thời Cần Vương. Ông đã nêu một tấm gương sáng về nhân cách, tình cảm yêu thương, lòng trung thành vô hạn, hiên ngang trước sự tra tấn dã man của kẻ thù, thà chết chứ không đầu hàng, bảo vệ danh dự của bản thân, gia đình, dòng họ. Tinh thần, hành động và sự hy sinh cao cả của Lãnh binh Bùi Hữu Khanh còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.

                                                                      Tr. H


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.