NỘI DUNG CHI TIẾT
Thơ ghen vẫn tình
11/5/2018


                                                                                   KIỀU THU HOẠCH

 

Tương truyền, Nguyễn Thị Lộ chẳng những có nhan sắc mà thơ phú văn chương cũng tài giỏi. Nàng sở trường về thơ quốc âm và Đường luật, thường cùng xướng hoạ với Nguyễn Trãi là hàng trăm bài rất tương đắc. Sau khi về làm thiếp Nguyễn Trãi được ít lâu, vua Lê Thái Tông nghe đồn Thị Lộ có tài văn chương, đã cho triệu nàng vào cung, giao cho giữ chức Lễ nghi nữ học sĩ để dạy phép tắc cho các cung nữ. Vì mến tài, mến sắc, nhà vua thường cùng Thị Lộ đàm đạo văn chương. Có khi lại giữ Thị Lộ ở lâu trong cung, tỏ ý quyến luyến không nỡ rời xa, chuyện đó không tránh khỏi lời dị nghị trong quần thần cùng đám cung nữ.

Rồi tiếng đồn cũng đến tai Nguyễn Trãi, ông vừa nhớ, vừa ghen, đã gửi Thị Lộ bài thơ, lấy chữ "tình" làm vận. Thơ như sau: Thiên cao địa hậu tứ thời thanh/ Khả trách hà nhân đạo bất minh/ Kính diện tuy thanh trần dĩ nhiễm/ Đức tâm phương nhuệ dục tuỳ tranh/ Nhân thanh tằng hựu Chu vương đức/ Thệ chỉ tương đam Hán đế tình/ Hạnh đắc thiên nhân tương bán trợ/ Tất nhiên xã tắc cánh xuân sinh.

Lời dịch thơ:

Trời cao đất rộng bốn mùa thanh/ Đáng trách cho ai đạo chẳng minh/ Mặt kính gương trong nhơ đã vấy/ Đức cao dù đẹp dục còn tranh/ Chu vượng từng học lòng nhân đức/ Hán đế còn đam chuyện ái tình/ May được trời người cùng hiệp trợ/ Nước nhà ắt hẳn lại hồi sinh.

Thị Lộ đọc thơ, biết Nguyễn Trãi có ý nghi ngờ mối quan hệ giữa nàng với nhà vua, nhất là câu "Kính diện tuy thanh trần dĩ nhiễm" (Mặt kính gương trong nhơ đã vấy) khiến nàng vô cùng đau lòng, nàng đã theo nguyên vận gửi lại Nguyễn Trãi bài thơ rằng: Đan tâm khẩn khẩn sự do thành/ Thuỳ vị cương thường đạo bất minh/ Nhật hoả hà ưu vân thốn điểm/ Mộc cù khởi phụ cát tuỳ tranh/ Anh hùng miễn đại anh hùng chí/ Nữ tử phi nhi nữ tử tình/ Phúc quyến thiên duyên cầm sắt hợp/ Nghiệm chư tôn tử thánh hiền sinh.

Lời dịch thơ:

Lòng son khăn khắn việc mong thành/ Ai bảo cương thường đạo chẳng minh/ Ngày nắng sao lo mây chút gợn/ Cậy cao há ngại sắn leo tranh/ Anh hùng gắng giữ anh hùng chí/ Phận gái đừng theo phận gái tình (1)/ Phúc luyến duyên trời cầm sắt hợp/ Nghiệm xem con cháu thánh hiền sinh.

Thị Lộ đã khéo léo, mềm mỏng, giãi bày lòng mình với Nguyễn Trãi. Nàng vì lo hoàn thành công việc trong cung nên ít về nhà, chớ chẳng có gì mờ ám. Ý thơ cũng nói rõ, mình trong sáng thì ngại gì những lời dị nghị. Lại tôn vinh ông là cây cao, là bậc anh hùng. Mong hai người hoà hợp sắt cầm, để chung hưởng hạnh phúc dài lâu mà xem con hiền cháu thảo...

Nguyễn Trãi xem thơ hoạ, chắc cũng đẹp ý, nên không trách móc gì Thị Lộ nữa. Mà khi nhà vua ngự giá đến Lệ Chi Viên, ông cũng bằng lòng để nàng cùng thưởng ngoạn phong cảnh với đức vua. Đáng tiếc, chính tại Lệ Chi Viên, nhà vua đã mất một cách đột ngột, khiến Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đều bị tội chết. Song, dư luận đương thời đều cho rằng, Nguyễn Trãi bị hại, phải chết oan, cũng chính là vì Thị Lộ gây nên (2).

N

guyễn Du, tác giả Truyện Kiều nổi tiếng, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, ông sinh năm 1765 (niên hiệu Cảnh Hưng) và mất năm 1820 (niên hiệu Minh Mệnh).

Ông vẻ người khôi ngô, tuấn tú, rất thông minh, lúc lên 6 tuổi đi học, sách vở chỉ xem qua một lượt là thuộc. Năm 19 tuổi, ông thi hương đậu tam trường; có ra làm quan với nhà Lê. Khi Tây Sơn nổi lên, ông về ở ẩn tại quê nhà. Sau ông bị nhà Nguyễn triệu ra làm quan và cử đi sứ ở Trung Quốc vào năm 1813; đến năm 1820 ông lại được cử đi sứ lần nữa nhưng chưa kịp đi thì mất.

Tương truyền lúc còn trai trẻ Nguyễn Du - khi ấy thường gọi là cậu Chiêu Bảy, rất thích hát phường vải. Bấy giờ có làng Trường Lưu cũng thuộc huyện Nghi Xuân, là một trong những làng nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và về con gái đẹp. Làng Tiên Điền thì có nghề làm nón; con trai phường nón thường kéo nhau sang hát phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát, nhưng một phần cũng là vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy tình cờ được gặp một cô gái tên là Cúc, người đẹp, giọng hay, tài bẻ chuyện, nhưng chỉ phải một nỗi đã sắp quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp như vậy liền bẻ ngay một câu như sau để ghẹo chơi: Trăm hoa đua nở mùa xuân/ Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?

Chiêu Bảy vờ nói chuyện hoa, nhưng kỳ thực là muốn hỏi châm chọc: Các cô gái khác đều đã đi lấy chồng sớm, sao riêng cô Cúc lại để quá lứa nhỡ thì như vậy?

Nhưng cô Cúc nào phải tay vừa, thoáng nghe qua cô đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn hát đáp lại rằng: Vì chưng tham chút nhuỵ vàng/ Cho nên Cúc phải muộn màng về thu.

Hoa cúc vốn là loài hoa nở về thu; cúc nở về thu mới là đang độ mãn khai, thế là đúng kỳ chớ không phải là muộn.

Câu hỏi cũng khôn mà câu trả lời thật cũng khéo lắm; Chiêu Bảy đành phải lảng sang chuyện khác không dám hỏi về việc ấy nữa.

Câu thơ bỏ lửng

N

guyễn Du lúc còn là học trò, ở với thân sinh là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm ở phường Bích Câu, Thăng Long, theo học với một ông đồ họ Lê ở Gia Lâm, bên kia sông Nhị. Cậu học trò cùng các bạn ngày nào cũng phải qua sông bằng đò ngang. Người chở đò là một cô gái nhà nghèo, nhưng xinh xắn và ăn nói có duyên. Cậu học trò họ Nguyễn rất để ý.

Một hôm, cậu đến chậm, lỡ chuyến đò, cậu phải đợi chờ sốt ruột, nên làm một bài thơ nhờ bạn đưa cho cô lái, để tỏ lòng mình và cũng để thử lòng cô gái. Bài thơ như sau: Ai ơi, chèo chống tôi sang/ Kẻo trời trưa trật, lỡ làng tôi ra/ Còn nhiều qua lại lại qua/ Giúp cho nhau nữa để mà...

Câu thơ cuối tác giả bỏ lửng có ý để chờ cô gái điền vào. Nhận được, cô gái bẽn lẽn và từ chối, nhưng về sau nể lời bạn, cô cũng thêm vào hai chữ... quen nhau.

Thế rồi hai người yêu nhau. Nhà thơ lại thổ lộ tâm tình ra bốn câu lục bát rằng: Quen nhau nay đã nên thương/ Cùng nhau xe mối tơ vương chữ tình/ Cảnh xinh xinh, người xinh xinh/ Trên trời, dưới nước, giữa mình với ta.

Họ yêu nhau tha thiết, quyết chí lấy nhau, nhưng rồi không lấy được nhau. Bởi lẽ đơn giản: Nguyễn Du là cậu con trai quý tộc mà cô kia thì chỉ là một cô gái bình dân. Chẳng những thế, do chuyện yêu đương ấy Nguyễn Du còn bị gọi về nhà chịu một trận đòn nên thân, rồi lại bị gửi về học một ông đồ khác ở mạn phủ Kiến Xương (Thái Bình sau này).

Hơn mười năm sau, khi Nguyễn Du có dịp trở lại bến cũ đò xưa thì cô gái đi lấy chồng lâu rồi, chỉ còn cây đa vẫn còn xanh tươi trước gió, dòng nước Nhị Hà đỏ hồng vẫn lặng lẽ trôi xuôi. Bến đò vẫn đông người qua lại nhưng vắng bóng một người. Trông cảnh cũ nhớ người xưa, nhà thơ đành bùi ngùi khẽ ngâm lên bốn câu lục bát để gửi gắm lòng mình: Yêu nhau những muốn gần nhau/ Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười/ Vì đâu xa cách đôi nơi/ Bến nay còn đó nào người năm xưa?

Câu chuyện đau lòng này, sau được Nguyễn Du tự tay ghi chép trong một bản thảo, dưới nhan đề "Mối tình hận của ta".

Trâu bò trê lóc

N

guyễn Đình Chiểu quê ở làng Tân Khánh, tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, hạt Gia Định (Sài Gòn), sinh năm 1882, mất năm 1888. Khoa thi hương năm Quý Mão (1843) đời Thiệu Trị thứ 3, ông đỗ tú tài đầu xứ.

Khoa thi ở Huế năm Kỷ Dậu (1849), Nguyễn Đình Chiểu chưa kịp thi thì chẳng may bị mù. Sau đó, ông mở trường dạy học và làm thuốc ở Gia Định. Dù biết ông bị mù, nhưng do đức độ và văn tài, học trò các nơi vẫn đến học rất đông, thường có tới vài trăm người. Từ đó nhân dân gọi ông là Đồ Chiểu - cái tên sống mãi với thời gian...

Tương truyền, ở xã Trường Bình có một thầy thuốc, tai nghễnh ngãng nhưng trực tính tới mức ngang bướng, nhân dân quen gọi là Thầy Tàng. Thầy Tàng thường hay qua lại chơi với Đồ Chiểu.

Một hôm, hai thầy đang ngồi uống nước. Thầy Tàng liền đọc một vế đối rằng: "Trâu khát nước bò xuống uống".

Câu ra bình dị, chẳng có điển cố gì, song khó đối ở chỗ chơi chữ trâu với bò.

Đồ Chiểu nhanh miệng đối lại ngay: "Trê thèm mồi lóc lên ăn".

Câu đối lại thật tài giỏi, cũng theo lối chơi chữ, có cá trê, lại có cả cá lóc (còn gọi cá chuối). Mà lóc lên còn có nghĩa trườn lên, lách lên, đối với bò xuống là rất chỉnh.

Thầy Tàng nghe đối phục lắm.

Tiếp đó, Đồ Chiểu cũng ra một vế đối, thách Thầy Tàng đối lại. Vế ra như sau: "Thầy Tàng tai không nghe sấm".

Câu này lấy ý từ câu văn nói về con vịt "Võng khiếp thiên uy, trí lôi thanh ư nhĩ ngoại" (Chẳng sợ oai trời, để tiếng sấm ở ngoài tai). Như thế vừa có ý lỡm Thầy Tàng hơi nghễnh ngãng tai, vừa khen thầy cứng đầu cứng cổ không biết sợ ai.

Thầy Tàng ngẫm nghĩ một lúc, rồi đối lại rằng: "Đồ Chiểu mắt chẳng xé mây"

Đây là điển trong Tam quốc chí lấy ý từ câu nói của Mã Siêu khi mới hàng Lưu Bị: "Nay gặp được minh chúa, khác nào vén đám mây mù mà trông thấy trời xanh".

Như thế là vừa đùa Đồ Chiểu mắt loà, lại vừa hàm ý nói đời nay làm gì có minh chúa để mà tôn thờ, vậy thì làm gì còn phải vén mây mà nhìn trời xanh...

Thầy Tàng đối xong, cả hai người cùng nắm tay nhau cười ha hả.

Ối quan liêm

C

hu Mạnh Trinh quê ở làng Phú Thị, huyện Khoái Châu, Hưng Yên, sinh năm 1862, mất năm 1905. Năm Thành Thái thứ tư (1892) ông đậu Tiến sĩ sau đó ra làm quan Tri phủ rồi án sát. Ông nổi tiếng là "khách hào hoa phong nhã", thông tạo tất cả các môn cầm, kỳ, thi, hoạ, tính thích ngao du sơn thuỷ đề vịnh và xướng hoạ. Chính ông đã vẽ kiểu đền Chử Đồng Tử và đứng ra xây dựng đền này ở Đa Hoà, Hưng Yên.

Năm 1905, Tao đàn Hưng Yên do Lê Hoan đứng đầu, mở cuộc thi thơ vịnh Kiều. Chu Mạnh Trinh là nhà thơ rất say mê Kiều, nghe có cuộc thi ấy, bèn hưởng ứng ngay và gửi ngay bài đến dự thi. Nhưng trước khi gửi bài, ông cũng thận trọng đưa cho mấy bạn làng văn xem hộ, để mong thu thập thêm ý kiến mà sửa chữa cho bài của mình thật hoàn hảo. Nghe đâu bấy giờ có cả Dương Lâm cũng xem bài cho họ Chu.

Một trong những bài được bàn luận là bài thơ thứ sáu, tức bài Kiều bán mình chuộc cha, nội dung như sau: Tính trong uy pháp chẳng qua tiền/ Lo liệu sao cho được vẹn tuyền/ Phận bạc cũng liều son với phấn/ Mình vàng âu dễ trắng thay đen/ Dấu bèo nhờ có đèn giời rạng/ Lượng biển dung cho sóng đất ê/ Minh thịnh nay mừng đời thánh đế/ Ít phường gái hiếu, ối quan liêm.

Các bạn làng văn chê câu kết chưa ổn, nhất là chữ "ối", "ôi" là tiếng dân dã hay dùng, nghĩa là nhiều nhưng lại hàm ý rẻ rúng không có giá trị. Câu thơ nói Ôi quan liêm mà hiểu "ối" theo nghĩa dân dã thì thật là mỉa mai, nhất là lại đứng sau câu đời thánh đế ở trên thì lại càng không ổn. Họ bảo Chu Mạnh Trinh nên sửa lại câu kết thì mới mong trúng cách được. Tác giả bài thơ băn khoăn lắm. Vì cả bài thơ ông chỉ thích có câu kết, mà trong câu kết ông chỉ thích có mỗi chữ "Ối", nếu thay chữ khác thì còn gì nữa, mà không thay thì chẳng những khó lòng trúng cách mà còn có khi nguy hiểm nữa là khác. Ông suy đi tính lại, cân nhắc mãi, cuối cùng đành phải nghe theo số đông mà sửa lại rằng: Minh thịnh mừng nay đời thánh đế/ Nào phường gái hiếu với quan liêm.

Câu thơ không còn sợ động chạm tới thời cuộc nữa, song khí thơ yếu hẳn đi. Nhờ thế mà Chu Mạnh Trinh đã đoạt giải nhất trong kỳ thi ấy.

Bấy giờ đám người góp ý cho họ Chu đều hài lòng, nhưng riêng Tam nguyên Yên Đổ thì tỏ ra hết sức bất bình, bài thơ trước kia được cụ tán thưởng bao nhiêu về chữ "đĩ" thì, lúc này ông cụ lại bịt mũi chê dở bấy nhiêu.

Ông lão kéo xe góp chuyện văn chương

N

hà văn Nguyễn Công Hoan từng kể lại một câu chuyện thú vị như sau:

Khoảng năm 1926, sau một trận lụt lớn, ông rủ Tản Đà đi chơi mát phố phường Hà Nội bằng xe kéo, trả tiền theo giờ. Người phu xe là một ông già hom hem, gầy gò, nên kéo xe rất chậm. Như thế càng hay, bởi hai ông cũng chẳng cần đi nhanh làm gì.

Ngồi trên xe, Tản Đà bèn kể chuyện thơ Tú Xương với Nguyễn Công Hoan. Ông nức nở khen mãi chữ "vẳng", rồi chữ "giật mình" trong bài Sông Lấp (3), cho rằng mấy chữ đó đã khiến cho bài thơ thêm sâu nặng cái ý vị hoài cổ. Rồi Tản Đà lại khoe rằng, từ khi làm thơ ông mới địch nổi Tú Xương, mà cũng chỉ một lần thôi, đó là chữ "vèo" trong bài Cảm thu tiễn thu của ông: Vèo trông lá rụng đầy sân.

Tiếp đó, Tản Đà lại say sưa đọc bài thơ Áo bông che đầu của Tú Xương. Người phu xe từ lúc bắt đầu đến giờ vẫn kéo chầm chậm, nhưng đến đây thì có vẻ như chậm hơn nữa, lão bước thủng thẳng từng bước một, trong khi đó Tản Đà đang đọc tiếp đến các câu: ...Ai ơi còn nhớ ai không/ Trời mưa một mảnh áo bông che đầu/ Nào ai có tiếc ai đâu/ Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô...

Bỗng người phu xe như dừng hẳn lại. Tản Đà thì vẫn đang say sưa đọc tiếp: Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ/ Kẻ về khóc trúc than ngô một mình/ Non non nước nước tình tình/ Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ.

Đến lúc đó thì ông lão dừng hẳn xe, đứng sững người, ngoái đầu lại nói to: "Tuyệt quá!".

Cả Tản Đà lẫn Nguyễn Công Hoan đều ngạc nhiên. Hỏi chuyện, thì hoá ra ông lão vốn là một thầy đồ, gặp năm lụt lội, mất mùa, đói khổ, phải ra Hà thành làm tạm nghề kéo xe độ nhật. Thế là hai ông không dám ngồi xe nữa. Cả ba người đều thả bộ, cùng nhau đàm luận chuyện thơ phú văn chương rất là tương đắc.

Tản Đà nhân đó mời cả bọn về nhà mình uống rượu. Rượu xong, tiễn ông lão kéo xe một đồng bạc(4). Nguyễn Công Hoan còn kể thêm rằng: - Khi nghe Tản Đà đọc tới bốn tiếng "khăn đầu ai khô" mà ông đồ kéo xe dừng lại thì bản thân Nguyễn Công Hoan cũng cảm thấy có cái gì nó bò bò ở sau gáy khiến gai cả người.

                                            K.T.H

(3) Đây là bài Cảm hoài về sông Vị Hoàng, con sông quê hương của Tú Xương bấy giờ đang bị lấp dần để phát triển đô thị. Toàn bài như sau:

Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!...

(4) Một đồng bạc: Đây là đồng bạc Đông Dương; vào thời ấy một đồng bạc Đông Dương có giá trị khoảng non nửa tạ gạo.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.