NỘI DUNG CHI TIẾT
Chuyện nhà ông Tạ
11/5/2018


                                                               Truyện ngắn của Nguyễn Hùng Sơn

 

Đêm cuối tuần trăng mùa hè 1969, trời động mưa nên tối thui. Cả nhà ông Tạ đang quây quần quanh chiếc đài bán dẫn nhãn hiệu Panasonic nghe chương trình Sân khấu truyền thanh thì anh Đức ùa vào nhà như một cơn gió khiến ai cũng bất ngờ. Ông bà Tạ, chị Hiên là vợ, và Thành em gái Đức ngớ ra không thốt nên lời. Chỉ có Hơn, em trai Đức reo lên:

- Anh Đức! Anh về được mấy hôm?

Chưa trả lời em trai, anh Đức lễ phép:

- Con chào cha mẹ. Chào cả nhà.

Lúc này ông Tạ mới lên tiếng:

- Mi vừa gửi thư về nói là đang chiến đấu ở Khe Sanh, răng lại về được, hả?

 Thành đỡ lời:

- Mình mới nhận nhưng thư anh viết cách đây hơn sáu tháng cha ơi! - Ông Tạ ngắt ngang lời con gái - Mi đừng có mà bênh. Tau hỏi thằng Đức, mi về mấy ngày, có giấy tờ không?

- Dạ. Con được Trung đội trưởng, đại đội trưởng cho tranh thủ một tuần. Còn giấy tờ thì...

- Không có giấy tờ... hà... hà, tau biết ngay mà.

Thành bước lại bên cha giọng năn nỉ:

- Anh đã nói rứa thì cha nên tin anh chứ. Không gì thì anh cũng đã ở chiến trường hơn ba năm rồi.

Hơn tiếp lời chị gái:

- Cho dù anh có tự tiện tranh thủ tý thì cha cũng để anh vui vẻ với gia đình vài hôm đi cha.

- Mi đừng có mà “Trứng khôn hơn vịt”. Không có giấy tờ thì đích thị là đào ngũ. Tau đuổi. Tau không chứa.

Anh Đức mở túi áo ngực lấy ra tờ giấy hình chữ nhật,màu nâu bằng nửa bàn tay, dày và cứng như bìa sách, trịnh trọng đưa cho cha.

- Đây là giấy ích xì y giét (XYZ) ai ở chiến trường cũng có ạ. Nhìn vào giấy là biết ngay ở đơn vị nào.

Ông Tạ đưa tờ giấy lại cạnh chiếc đèn bão xăm soi, thấy có tên Phan Duy Đức, chức vụ B bậc phó thì mừng nhưng vẫn chưa hết nghi ngại.

- B bậc phó là chi?

- Là trung đội phó cha ạ.

- Mi mà trung đội phó ha. Thật không?

Thành đỡ lời anh trai:

- Có dấu đỏ đàng hoàng, cha còn căn vặn chi nữa?

  Thấy cha đã hạ nhiệt, Thành vội nắm lấy tay anh trai:

- Thôi anh Đức vào tắm cái cho mát, đi đường mệt mỏi, áo quần nhầu nhĩ quá rồi.

Thế là anh Đức qua được sự xét nét của cha. Tuy vậy sự ghé về đột ngột của con trai cũng làm ông Tạ bất an. Chắc chắn Ủy ban, Xã đội sẽ không để yên. Không có giấy phép, đóng dấu đơn vị thì phải giấu kín chuyện này kẻo rách việc.

Ngày hôm sau cánh cổng nhà ông Tạ đóng im ỉm. Bởi ông không muốn ai biết chuyện con trai ông về nhà. Sau bữa cơm tối ông Tạ nói ông tin là anh Đức được cấp trên cho tranh thủ chứ không phải đào ngũ. Tuy vậy, Đức cũng phải vào trại Nầm ở để tránh tiếp xúc với người ngoài. Bà Tạ cùng các con cũng nhất trí nhưng Đức thì không. Anh bảo chả việc gì phải trốn tránh, nếu ai căn vặn giấy tờ thì đã có giấy XYZ. Có giỏi thì họ đưa lên Huyện đội, họ biết ngay anh ở đơn vị nào rồi. Bà Tạ nói:

- Tránh voi chả xấu mặt nào con ơi ! Xã đội, công an đến hỏi giấy, họ không biết giấy này nên họ bắt con lên huyện là cả làng cả xã đã đồn ầm ĩ chuyện con đào ngũ rồi. - ông Tạ chen ngang - ffã ra khỏi Hợp tác xã lại có con đào ngũ thì là cái đồ mặt mo.

Đã được vợ cho biết chuyện cha mẹ xin ra khỏi hợp tác xã, Đức buồn lắm, nay cha nhắc đến anh liền “bật” luôn:

- Con mà biết cha mẹ ra khỏi hợp tác thì con chẳng thèm về. Tại sao cha mẹ lại làm thế? Tại sao?

Ông Tạ hai tay xoa đầu, bà Tạ nói:

- Cha mẹ cũng nghĩ nát óc rồi con ơi? Nhà có sáu người mà bốn lao động chính vẫn không đủ ăn thì trụ răng được chớ?

Rồi bà kể xã viên hợp tác toàn là người nhác. Kể cả bà, ở nhà bỏ tay mặt, bắt tay trái mà đi làm hợp tác cũng sinh lười nhác “Đi theo ma phải mặc áo giấy” mà. Ai đời kẻng đi làm bảy giờ thì tám giờ hơn mới xuống ruộng mà kẻng báo hết giờ làm mới gõ tiếng đầu tiên thì ai nấy đã tót lên bờ. Có hôm, hàng chục người đang giơ cuốc lên như đoàn biểu tình thời chống Pháp, chợt tiếng kẻng đầu tiên báo hết giờ làm vừa rung lên, ai cũng khựng lại rồi hạ cuốc, không nỡ bổ xuống đất. Dù thẹo đất còn lại, chó nằm thừa đuôi, chỉ cần mỗi người cuốc thêm bốn, năm nhát là xong, vậy mà không ai cố thêm, cũng không ai vận động mọi người làm nốt. Trước thì bà cũng từng vận động đấy, nhưng bị mấy người ghét, cho là bà muốn làm cán bộ nên bà không dám nữa. Còn ông Tạ, lực điền mỗi bữa cày cứ băng băng hai sào ngon ơ, trong khi đó những người khác chỉ nửa sào, một sào đã tháo ách ra khỏi cổ trâu. Ruộng hợp tác nay chưa cày thì mai cày tiếp, để cho trâu nghỉ, quơ cỏ bờ ruộng. Trâu no, đống cứt cũng to, thêm nhiều phân nhập kho phân hợp tác. Điểm đi cày tính bình quân, người cày hai sào cũng như người cày nửa sào. Nhưng phân trâu nhập kho hợp tác lại theo trọng lượng mà tính điểm. Ai cũng khôn kiểu ấy thì hợp tác không tàn tạ mới là lạ.

Đã có mấy hộ ra khỏi hợp tác nhưng gia đình ông Tạ chờ đến đại hội xã viên để nói hết những lời tâm huyết nếu được đại hội ghi nhận thì ở lại. Nếu bị từ chối thì dứt áo ra đi. Tại đại hội ông đề nghị bãi bỏ cung cách quản lý quan liêu lâu nay của Ban quản trị. Cuối mỗi buổi làm phải bình công, chấm điểm chứ không cào bằng như hiện nay. Những nội dung làm khoán, làm công phải rõ ràng, phải nghiệm thu mới tính công điểm. Việc sử dụng sản phẩm và tiền của Hợp tác xã phải đúng nguyên tắc, ai chi sai phải thu hồi lại...

Những điều đó ai mà chả biết, có điều chặt chẽ thế thì Chủ nhiệm và Ban quản trị còn xơ múi gì? Nhiều người cười nhạt, chế giễu, cũng có người tấm tắc khen ông nói đúng quá. Họ đề nghị ông làm chủ nhiệm một khóa để làm những điều vừa nói. Và ông ứng cử luôn. Ông nói nếu được làm Chủ nhiệm ông sẽ toàn tâm, toàn ý làm cho Hợp tác xã mạnh hơn, sẽ tăng thu nhập cho xã viên. Bảo đảm mỗi ngày công đạt một cân đến một cân rưỡi thóc chứ không phải hai lạng như hiện nay. Ý kiến của ông được mọi người hoan nghênh, nhưng đời nào được lãnh đạo chấp nhận. Chủ nhiệm phải có chân trong Đảng ủy xã, mà ông không phải là đảng viên.

Ra khỏi Hợp tác, gia đình ông bà Tạ được nhận lại năm sào ruộng, đúng như diện tích mà gia đình đã nhập vào Hợp tác trước đây. Nhưng là ruộng cạn, ruộng xấu lại ở chân rú Nầm nơi có cây cầu bắc qua con suối nhỏ chảy ra sông Ngàn Phố, một trọng điểm máy bay Mỹ đánh phá rất ác liệt nên bỏ hoang mấy năm nay. Để bù đắp công khai phá ruộng hoang, Ban quản trị trả thêm cho một sào. Còn con trâu mộng mà gia đình đang chăm sóc, sử dụng cày bừa thì phải trả cho hợp tác, để nhận con bò gầy dơ xương ở trại chăn nuôi. Đây là điều mà ông Tạ đã tính đến. Ruộng cũ của nhà ông ở chính giữa cánh đồng, không thể lấy ra được. Không ai cho cá thể lẫn vào giữa hợp tác, nhưng con trâu mà ông đang chăm sóc, chính là trâu của gia đình ông trước đây. Hợp tác không trả ruộng tốt, bắt nhận ruộng xấu ở nơi trọng điểm địch đánh phá, thì phải trả trâu. Nếu không ông sẽ khiếu nại lên huyện. Thế là xã phải nhượng bộ.

Có trâu khỏe, lại được tự do lên kế hoạch làm ăn theo ý mình nên ngay từ vụ đầu tiên, sáu sào ruộng gia đình ông Tạ lúa tốt bời bời. Những vụ sau ruộng đã thuộc nên càng khá hơn, lại có đất làm vườn, làm ao cá, chuồng nuôi trâu bò, lợn gà nên kinh tế gia đình ông Tạ khấm khá hẳn lên. Thuế luôn nộp đủ, nộp sớm. Lợn nghĩa vụ luôn vượt gấp rưỡi, gấp đôi. Trong khi bình quân xã viên hợp tác xã chỉ mới nộp được 30 phần trăm. Cả Ban quản trị hợp tác kéo đến ngắm nghía cơ ngơi ông Tạ mà tiếc hùi hụi, nhưng họ cũng biết hợp tác không kham nổi. Trước hết là lao động phải theo kiểu thời chiến, bốn giờ sáng đã phải ra đồng, tám giờ đã về để tránh bom sa, đạn lạc. Chiều tắt nắng, máy bay thôi đánh phá lại ra đồng làm đến tám giờ tối mới về. Rồi thì kênh mương thủy lợi cũng phải mất nhiều công sức lắm và điều chắc chắn là không đội sản xuất nào chịu nhận làm ở nơi xương xẩu, ác liệt này.

Để tận thu lợi lộc ở khu ruộng, đất hoang hóa gần rú Nầm, Ban quản trị giao nốt năm mẫu còn lại cho gia đình ông Tạ làm với cơ chế thoáng: Mỗi vụ gia đình phải nộp cho Hợp tác xã 40 phần trăm. Nhiều vụ liền xã viên đến gánh thóc từ trại Nầm về nhập kho, ông Tạ đều ghi chép đủ, có ký nhận hẳn hoi. Ngoài hàng tấn thóc mỗi năm, các ông Quản trị còn là khách quý của gia đình. Những khi hàn huyên vui vẻ ông nào cũng khen ông Tạ có con mắt tinh tường nhìn thấy cái người khác không thấy. Lại có uy nữa chứ. Làm ăn cá thể mà huy động xã viên hợp tác giỏi hơn cả Chủ nhiệm. Dù là đang ngày mùa, ruộng hợp tác chưa gặt nhưng họ sẵn sàng đi gặt cho gia đình ông Tạ. Mùa cày bừa, mùa cấy cũng vậy ông Tạ huy động hàng chục thợ cày, thợ cấy ngon ơ. Đương nhiên là họ còn đưa cả trâu hợp tác cày bừa cho gia đình ông nữa chứ. Ban quản trị biết nhưng không ngăn cản. Mà có ngăn cũng không được. Làm cho cá thể được tiền tươi, thóc thật, làm cho hợp tác cuối vụ mới được trả công, mà công sá lại bèo bọt.

*

 Trại của nhà ông Tạ ở chân rú Nầm, có ngôi nhà gỗ hai gian, kê hai chiếc giường đơn, có bếp núc, giếng nước, có hầm kèo chắc chắn. Lại có hầm khoét sâu vào núi có thể cất được hàng tấn thóc. Xa hơn một chút, trong hẻm núi, có chuồng trâu bò, ao cá...

Chiều muộn, mặt trời đỏ bầm như trái cà chua khổng lồ chín nẫu sắp lặn xuống sau dãy núi Bà Mụ, khiến cả góc trời phía Tây đỏ bầm như nước cốt trầu. Gió hây hẩy, mặt ao cá loang loáng ánh hoàng hôn, Đức lặng lẽ ngắm nhìn những con cá trắm quẫy quanh cái khung tròn đầy cỏ và lá sắn như một bãi nổi giữa ao. Bỗng dưng anh thấy cha mình cũng ngang tàng, mạnh mẽ như những con cá trắm đen sì, to như bắp cày, lừng lững lao vào tợp cỏ rồi lặn xuống đáy hồ. Thật là một sự so sánh kỳ lạ, nhưng không phải là không có lý ? Anh nghĩ vậy. Mặc dù đang giận cha mẹ ra khỏi hợp tác để bây giờ nhà anh như kẻ đối đầu với chính quyền. Đến nỗi một thằng lính từ cõi chết về thăm nhà phải trốn chui, trốn lủi. Nhưng ra đây, nhìn cơ ngơi trại Nầm mà cha mẹ tạo dựng lên anh thấy cha mẹ đã đúng. Nếu không được tự do làm ăn thì làm sao thoát khỏi đó nghèo, làm sao có của ăn, của để. Ở xã này nhà ai có bốn cái xe đạp xịn như nhà anh? Cha đi xe Phượng Hoàng mới cứng, em gái thì “Favorit đạp ít đi nhiều”; vợ anh và em Hơn, mỗi người một  xe Thống Nhất, loại xe chỉ cán bộ Xã mới được phân phối. Riêng cơ ngơi trại Nầm này cũng là của hiếm, cả huyện chỉ có một.

Biết là anh vẫn băn khoăn, cha nói: “Khi nào cấp trên chấn chỉnh lại cung cách làm ăn của hợp tác xã thì nhà mình lại nộp đơn xin vào, chứ cha thấy tình cảnh này cũng không ổn. Mình luôn cảm thấy cái mặt mình nó dày dày thế nào ấy. Lâu nay đã dằn vặt, khổ sở như dằm đâm trong ruột vì con Thành xinh đẹp nhất làng, nhất xã mà đành chịu ế vì con của “phần tử” lạc hậu. Dừ mi về phải trốn chui, trốn lũi như tù trốn trại, tau nhục lắm”. Lần đầu tiên được cha chia sẻ, lần đầu tiên thấy cha nước mắt lưng tròng, Đức xúc động quá. Người cha cao lớn, sừng sững như cây Trẹo trước ngõ, tưởng không bao giờ ủy mị yếu đuối. Hóa ra ông cũng đầy trăn trở?

  Chợt có bàn tay đặt nhẹ lên vai, Đức nói:

- Ông cụ thật giỏi em nhỉ? Hôm mới về anh hơi nóng nảy trách ông, bây giờ mới hiểu cha cũng chẳng vui thú gì cái chuyện ở ngoài hợp tác?

- Đúng rồi! Chuyến này cậu bảo ông bà vào lại hợp tác đi thôi.

 Đức giật mình quay lại. Thấy người đàn ông lạ cười nhăn nhở:

- Cậu không biết anh? Anh cũng tên là Đức ở xóm Bàu, là Phó chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi.

Đức chưa kịp trả lời thì vợ anh đã chạy tới:

- Chào ông Phó chủ nhiệm. Ông có việc gì mà tìm đến trại chúng cháu ạ?

Ông Phó chủ nhiệm lại nhăn nhở cười:

- Chào cô Hiên, không biết cô ở trong nhà, thấy anh Đức nên tôi lại chào.

- Chắc ông đến đây không phải để chào nhà cháu?

Ông Phó chủ nhiệm xoa xoa hai bàn tay vào nhau, giọng ngọt xớt:

- Đúng là có việc rất cần cô Hiên ạ. Có mấy vị khách huyện về muộn quá, chợ búa thì xa, lại gần tối nên chẳng có gì. Đành đến đây nhờ cô bắt cho mấy cân cá...

Sau khi Hiên lấy vó ra để chồng bắt cho ba con cá chép to, ông phó chủ nhiệm cười vui hể hả, lại còn mời Đức ra nhà chơi.

Mấy hôm sau ông Tạ phải làm mâm cơm mời Ban quản trị đến nhà uống rượu để bịt cái mồm họ lại. Nếu họ mà phô ra là xã đội đến hỏi giấy liền. Cả bảy vị trong Ban quản trị đã đến nhà uống rượu, ai cũng vui vẻ chúc vợ chồng Đức Hiên sinh được thằng cu, chúc ông bà Tạ có cháu đích tôn. Vậy mà sau này khi vợ Đức có bầu, thiên hạ đồn đoán ông Tạ là cha đứa bé thì các lão lại ngậm miệng như ngao chưa luộc. Nếu các lão quản trị nói cho câu xác nhận anh Đức có về nhà mấy ngày, các lão đã gặp tại nhà và ở trại Nầm thì ông Tạ cũng đỡ tai tiếng?

Có gì lạ đâu. Sau cuộc rượu tại nhà ông Tạ vài tháng, Ban kiểm soát phát hiện số thóc 40 phần trăm thu từ trại Nầm trong nhiều năm không hề có trong sổ sách kế toán. Chủ nhiệm đã đến nhà ông Tạ đề nghị gia đình: Nếu có ai hỏi về số thóc thu ở trại Nầm thì bảo là chỉ có mấy bao thóc biếu riêng anh em vì đã cho gia đình tận dụng ruộng hoang thôi mà...

Ông Tạ giận quá liền chửi cho ông ta một trận. Hơn năm tấn thóc mà bảo chỉ có mấy bao thóc thôi. Ăn vụng như chó lại còn muốn giữ danh giá? Tuy tức bực nhưng ông Tạ cũng chẳng nói ra. Mà cũng có ma nào đến điều tra đâu. Có điều không ai bịt được mồm những xã viên gánh thóc từ nhà ông Tạ về nhập kho hợp tác. Chuyện rinh ran, mấy ông Quản trị lại nghĩ là cơ quan điều tra đã làm việc và ông Tạ đã phun ra hết. Vì vậy họ “thành khẩn” khai nhận và xin được trả lại số thóc đã tham ô để nhận tý kỷ luật khiển trách trước Đảng bộ.

Lo lắng về những lời đàm tiếu đang loang ra, ông Tạ đến nhà chủ nhiệm Hợp tác, nhờ ông ta nói đỡ cho câu xác nhận là ông và nhiều người đã gặp Đức con trai ông trong lần tranh thủ về thăm nhà, để mọi người đỡ dị nghị.

Chủ nhiệm hợp tác lắc đầu: “Nói thế hóa ra chúng tôi bao che cho kẻ đào ngũ à?”

Ông Tạ cãi: “Nó được đơn vị cho tranh thủ về thăm nhà, chứ có phải đào ngũ đâu?”.

Lão chủ nhiệm trề môi: “Không đào ngũ sao không trình giấy tờ? Sao lại phải trốn trong trại Nầm?”.

Ông Tạ bấm bụng trở về, căm giận quân lật mặt không để đâu cho hết.

Cái bụng con dâu mỗi ngày một to thì nỗi lo của ông Tạ mỗi ngày một lớn. Dù vợ con an ủi “Cây ngay không sợ chết đứng” ông luôn là người chồng, người cha, người ông tuyệt vời nhưng ông vẫn lầm lì như tảng đá. Cả ngày không mở miệng, vợ con hỏi gì thì gật hoặc lắc. Khi gật lắc mà họ không hiểu thì cũng chỉ nhát gừng thôi. Mấy mẹ con thương ông se sắt nhưng không ai dám ho he khuyên nhủ một lời. Rồi một đêm đã khuya lắc, khuya lơ, bà Tạ thức giấc thấy chồng đang ngồi mài dao giữa sân. Trời không trăng, chỉ có ánh sao nhờ nhờ mà vẫn thấy con dao nhọn trăng trắng. Hoảng quá, bà vội thức các con dậy ra quỳ trước mặt ông. Bà nói: “Mẹ con tôi lạy ông, van xin ông đừng làm điều chi dại dột. Ông mà có làm sao thì mẹ con, bà cháu tôi cũng đi theo ông thôi. Cả con Hiên đang mang thai đứa cháu nội của ông cũng chết theo đấy. Ông có đang tâm không ông ơi?”. Cả mấy chị em Hiên, Thành, Hơn đều khóc tấm tức khiến ông cũng khóc theo...

Hơn đứng lên, bước lại gần cha xin con dao, ông chẳng nói, chẳng rằng đưa dao cho con trai. Thành ôm lấy cha đỡ cha đứng dậy rồi hai cha con vào nhà. Từ đó ông vào ở lỳ trong trại Nầm, sống âm thầm như một bóng ma. Chị Hiên sinh con trai ông không về nhà. Khi đứa bé được ba tháng thì có giấy báo tử cha nó, ông Tạ nuốt nỗi đau vào bụng, nhất quyết không về nhà.

Điên giận vì bọn ăn cháo đá bát và để minh oan cho chồng, nhằm vào hôm Đại hội xã viên, Hợp tác xã nông nghiệp, bà Tạ xông vào hội trường vạch tội Ban quản trị. Bà kể lại chuyện ông Phó chủ nhiệm đến xin cá về tiếp khách cho Ban quản trị, chính là Đức, con trai bà đã dùng vó bắt cho ba con cá chép hơn 5 cân. Sau đó cả Ban Quản trị còn đến nhà bà uống rượu liên hoan con bà trở về đơn vị. Ông Chủ nhiệm còn chúc vợ chồng bà có cháu đích tôn. Vậy mà khi vợ Đức có bầu người ta đồn đoán chồng bà loạn luân thì Chủ nhiệm và mọi người trong quản trị không một lời can gián, lại còn to mồm a dua. Lý do vì sao bà con biết không? Vì hơn 5 mẫu ruộng hoang hợp tác cho nhà bà thuê mượn, mỗi vụ phải nộp cho hợp tác 40 phần trăm, mấy năm qua cộng lại đã hơn 5 tấn thóc. Nhưng Ban quản trị để ngoài sổ sách để tham ô bị Ban kiểm soát phát hiện. Họ tưởng là nhà bà tố cáo nên trả đũa. Có người bênh vực nhà bà, khẳng định là họ gặp con bà thì ông Chủ nhiệm bảo là họ bị nhà bà mua chuộc nên nói huyên thuyên. Bây giờ thì con trai bà đã hy sinh, vì vong linh con, bà đến đây để nói cho đại hội biết rõ sự thật. Nếu ông Chủ nhiệm và các vị trong Ban quản trị còn chút lương tri thì nên nhận lỗi trước vong linh con bà và nhận lỗi trước bà con xã viên...

Sau những lời có phần đanh thép đó, bà Tạ cũng có lời xin lỗi vì đã đường đột làm mất thì giờ của đại hội. Mọi người vỗ tay rào rào. Chứng tỏ không ai trách bà, ngược lại họ hoan nghênh bà đã cho biết một sự thật bị bóp méo lâu nay.

 Nhưng “Được vạ thì má đã sưng!”. Chị Hiên chưa kịp sinh con thì đã bị mất việc ở Trạm xá xã. Mặc dù không có tội lỗi nhưng cái sự ác cảm của người đời như ngọn gió độc luôn len lõi bám riết khiến chị mặc cảm như mình là kẻ sa đọa, nên tàn tạ, già nua chả kém mẹ chồng là mấy.

Còn Thành trải qua thời ế ẩm vì gia đình không vào Hợp tác xã, nhưng vì xinh đẹp, mặn mà nên tuổi ngoài 30 vẫn có chàng trai dám “xé rào” muốn cưới cô làm vợ. Khi nhà trai chuẩn bị làm lễ ăn hỏi thì bỗng bung ra chuyện ông Tạ loạn luân. Nghe nói với con gái ông cũng không từ. Thế là anh chàng chuồn thẳng.

Ông Tạ đau lắm, dù là dây oan đã được tháo gỡ nhưng cái hậu quả thì làm sao mà xóa đi được. Biết thế này thì không ra khỏi hợp tác xã. Vì cái sỹ diện sợ mang tiếng đào ngũ mà bắt con trốn tránh để cả nhà lao đao trong cơn bão thị phi. Đau nhất là đứa con gái mơn mởn, xinh đẹp, giỏi giang bị quá lứa nhỡ thì...

Nhân bữa con gái rỗi rãi vào trại Nầm thăm cha, ông Tạ nói về cái sự ân hận của mình rồi kết luận: Trăm tội, nghìn vạ là ở sự ngu dốt của ông. Giàu có mà làm gì, nhất làng, nhất xã mà làm gì khi con gái bất hạnh. Nếu được đánh đổi cái sự giàu có để con gái có chồng, con êm ấm, hạnh phúc thì ông sẵn sàng làm một hộ gia đình nghèo khó trong hợp tác xã ngay lập tức. Thành cũng đã hơn một lần nghĩ như cha, thậm chí đã từng oán hận trách cha. Nhưng bây giờ ông suy sụp quá, từ một lực điền vâm váp, nặng 80 cân, chỉ còn 40 cân. Khuôn mặt chữ điền hồng hào, trẻ trung như thanh niên mà nay má hóp lại khiến răng dô ra, còn mái tóc đang đen bỗng dưng bạc trắng. Ông không thèm cắt, để tóc che bớt cái trán dô bướng bỉnh. Chân tay ông vốn cuồn cuộn cơ bắp mà như bị ai róc thịt, chỉ còn da bọc xương... xót xa quá. Thành bảo cha đừng tự dằn vật, đau khổ quá. Chẳng qua cái số của chị thế.

                                                            N.H.S 


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.