NỘI DUNG CHI TIẾT
“Treo năm tháng lên” - thơ Vũ Thanh Thủy cuộc dạo chơi trong cõi đa đoan
11/5/2018


                                                                                            TRẦN DŨNG

 

Bận công tác xa, tôi nhận được tập thơ “Treo năm tháng lên” của tác giả Vũ Thanh Thuỷ (Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ) gửi tặng có phần hơi muộn. Thương tập thơ vượt hơn hai ngàn cây số vào Nam, trong một buổi chiều, tôi đọc liền một mạch từ đầu đến cuối 45 bài thơ trong gần 80 trang sách, để ít ra cũng có câu cảm ơn cho có đầu có đũa. Vậy nhưng, chưa kịp để tập thơ vào giá sách, tôi đã phải mang ra đọc lại lần thứ hai, rồi lần thứ ba... bởi điều gì đó thoắt ẩn, thoắt hiện đàng sau câu chữ, khiến người đọc phải tò mò, chẳng thể lướt qua.

Cuối cùng, tôi cũng nhận ra và tự nguyện theo chân tác giả làm một cuộc dạo chơi trong cõi đa đoan, đầy ắp nỗi niềm tâm sự mà chị đã đan cài một cách tự nhiên vào trong từng trang viết.

Trước tiên, phải thừa nhận rằng, với “Treo năm tháng lên” của Vũ Thanh Thuỷ không dụng công gắng sức làm thơ, mà hình như câu chữ, ý tứ cứ tự nó trải ra trước mắt người đọc một cách hết sức nhẹ nhàng. Chúng ta hãy đọc: “Quê mình dọc triền sông/ Bốn mùa nông sâu chảy/ Cháu tìm về bến ấy/ Gửi nhớ vào mênh mông” (Dòng thuỷ bình).

Hoặc giả: “Hôm ấy tiết trời thật trong/ Sương tan vỡ cánh đồng bông/ Trùng trùng vùng vùng núi núi/ Nước nằm ôm đá phẳng không” (Xuân Hà Giang).

Chữ nối chữ, câu nối câu, ý nối ý... Thơ mượn ngòi bút của tác giả mà đến với người đọc.

Xét cấu trúc chung, Vũ Thanh Thuỷ chia tập thơ thành ba phần, có tiêu đề riêng biệt. Đại để, phần Giao thừa định mệnh có 13 bài dành cho tình cảm gia đình; phần Tình núi có 11 bài thể hiện thân phận cá nhân; phần Treo năm tháng lên có 21 bài được tác giả mở rộng mối quan hệ anh em, bạn bè, xã hội. Thực ra, sự phân chia này là rất tương đối, bởi ở phần nào, dù hướng theo chủ đề nào thì tư tưởng chủ đạo chi phối cả tập thơ cũng là sự hoài niệm quá khứ buồn nhiều hơn vui của một thân phận đa đoan mà một bề trên nào đó, trong một giai đoạn nào đó đã “bắt phong trần, phải phong trần”...

Có lẽ, sở trường của Vũ Thanh Thuỷ là thể hiện nỗi đau, sự mất mát, thân phận của người phụ nữ cô đơn trong cuộc đời đầy gió giông, bão táp. Tôi tin, nếu không phải là toàn bộ thì phần lớn nỗi niềm trắc ẩn ấy chính là sự trải nghiệm bản thân của chị. “Treo năm tháng lên” đã đưa người đọc vào những phận đời như vậy.

Bài thơ đầu tiên trong tập thơ - Giao thừa định mệnh - đã tạo ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc vào lòng người đọc khi bày ra trước mắt một nỗi - đau - đời - người. Hãy hình dung, sự đau đớn đến dường nào của người con gái mới lớn tận mắt chứng kiến người mẹ thân yêu qua đời trong một tai nạn giao thông, nỗi đau ấy càng nhân lên bội phần khi tai nạn diễn ra trong đêm giao thừa, khi mà lòng người đang hân hoan chào đón sự giao hoà trời đất: “Vệt tối vụt qua/ Mắt mẹ từ từ khép/ Tim con toang ngoảng mở ra/ Con bấu vào không gian đêm trừ tịch/ Ngón tay tứa máu/ Mưa xuân khuya thấu cõi người”... (Giao thừa định mệnh).

Tôi thích chữ “định mệnh” mà Vũ Thanh Thuỷ dùng cho tựa bài thơ và tôi cũng thích cách chị bố trí bài thơ này ở vị trí đầu tập thơ. Phải chăng bài thơ này là sự chuẩn bị tâm lý để người đọc bước vào một không gian nghệ thuật không yên ả riêng có của tập thơ. Bài thơ dẫn tôi về với câu ca dao Nam Bộ “Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mẹ dắt con đi...”.

Tai ương nối tiếp tai ương. Không chịu nổi trước nỗi đau mất mát quá lớn, người cha lại qua đời không lâu sau đó: “Nửa đêm trời đòi mẹ/ Cha nhớ theo lên cùng/ Tre chẳng còn ấm búi/ Em với cái nhà không”... (Trắng).

Định mệnh đã buộc người con gái đơn độc dò dẫm bước vào “cõi người (chữ của chị) lắt lẻo gập ghềnh”, trong nhờ đục chịu... Dò dẫm, tất nhiên, việc sai lầm rất dễ xảy ra. Có những sai lầm dễ dàng khắc phục nhưng cũng có khi chỉ lệch một milimet thôi, nỗi oan trái một đời gánh chịu: “Lọt tầm ngắm/ Buông dây!/ Đời tên ào vào nhau/ Lệch đích/ Bia nhận vết đâm sồi lên oan ức”... (Đời tên).

Vũ Thanh Thuỷ chỉ là tả tay xạ thủ kém tài nào đó trong môn thể thao bắn cung nhưng người đọc hiểu rằng chị muốn nói đến nỗi đau chẳng thể liền da của người phụ nữ lỡ lệch bước tình duyên đầu đời. Biết là lệch đích, nhưng hoàn cảnh không thể lựa chọn thì “cũng liều nhắm mắt đưa chân”... “Họ hàng thương gả vội/ Em bước qua vành khăn/ Xe rước như ma đuổi/ Nhang khói quẩn quanh thân”... (Trắng).

Cuộc hôn nhân bắt đầu như vậy đoạn kết bi thương là điều dễ đoán.

Dẫu trong hoàn cảnh nào thì nỗi khát khao, niềm hy vọng, sự chờ đợi cuối cùng của người phụ nữ vẫn là một tình yêu chân chính, một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Cuộc sống càng bi kịch thì khát vọng ấy càng cháy bỏng. Không còn hy vọng tình yêu, không còn khát vọng hạnh phúc thì trái tim người đàn bà sẽ hoá đá. Nói như vậy, e cũng không đúng, bởi nàng Tô Thị hay Hòn Vọng phu đã ngàn năm hoá đá nhưng trái tim vẫn rất người, rất đàn bà, vẫn cháy bỏng một khát khao sum vầy, hạnh phúc. Thơ Vũ Thanh Thuỷ dành một dung lượng lớn cho niềm hy vọng của người phụ nữ hướng về một tình yêu chân chính, một hạnh phúc lâu bền: “Mắt nhắm là nhắm để đấy/ Hồn thì dong duổi theo ai/ Hà thành sôi động đến vậy/ Có người chỉ những thở dài”... (Nhớ).

Trải qua bao mất mát đa đoan, khi tìm được tình yêu đúng nghĩa của mình, người đàn bà trong thơ Vũ Thanh Thuỷ quyết tâm giữ lấy, với tất cả sức lực, tất cả sự quyết liệt cũng rất ư... đàn bà: “Quờ quạng/ Tìm mùi hương vừa thoảng/ Túm!/ Bắt!/ Giữ!/ .../ Tình ai hoá băng gắn kết/ Nến châm tan rã thiên hà/ Giấc mơ xa...” (Lâu đài bóng).

Trong mạch cảm xúc này của Vũ Thanh Thuỷ, tôi ngạc nhiên và thích thú với bài thơ “Tình núi”. Trong khái niệm của tôi, núi luôn tượng trưng cho giống đực còn dòng sông, đất đai mới thuộc về giống cái, bởi dòng sông, đất đai mới có thể sinh sôi nảy nở, vạn vật phát triển, con người no đủ lâu bền. Lần đầu tiên, qua “Tình núi”, tôi bắt gặp hình tượng núi tương đồng với người phụ nữ mang trong tim một tình yêu nồng nàn, một quyết tâm sắt đá vượt qua mọi trở lực để đến với người mình yêu: “Thiên nhiên sinh núi để yêu trời/ Chồng chất mãi sao chẳng tới nơi/ Cảm thương mây xuống choàng khăn ấm/ Gió cuốn mây về.../ Núi chơi vơi.../ Em bảo: Núi trời gần nhau thế!/ Khắc đi khắc đến được miền xanh/ Quản Bạ đường mù sương cản lối/ Núi tìm trời như.../ em tìm anh...” (Tình núi).

Phàm, ngã ở đâu thì đứng dậy ở đó - nhưng đó là người bản lĩnh, còn lẽ thường càng muốn đứng nhanh, đứng thẳng lại dễ vấp nặng hơn, đau hơn. Kể cả khi đã tìm lại được tình yêu chân chính của mình, người phụ nữ trong thơ Vũ Thanh Thuỷ vẫn phải đối đầu với biết bao va vấp, quăng quật và phải chiến đấu đến hết sức mình để có được hạnh phúc riêng tư là một tổ ấm bình thường, chồng - vợ - con cái đề huề. Với bao phụ nữ khác, đây là điều bình thường, là lẽ tất nhiên nhưng với một thân phận đa đoan mỗi bước vươn tới hạnh phúc đều phải dẫm lên bao chông gai nhức nhối. Vũ Thanh Thuỷ thực lòng thông cảm và cũng muốn người đọc thơ mình thông cảm, dù ngẫm ra hơi chua chát: “Người đàn ông tỉnh giấc/ Trở về.../ Vạt cỏ gà xơ xác!/ Vầng trăng ngơ ngác/ Đất dưới chân lạnh buốt/ Người đàn bà cười/ Nước mắt ngược vào trong...” (Cười).

Và, không còn cười được... “Con đau mẹ chẳng biết/ Mẹ cắt bỏ thịt mình/ Giọt máu chưa định hình/ Thấu chăng lời tạ tội” (Tạ tội).

Mà muốn khóc cũng chẳng thể nào khóc được... “Đó chẳng phải là khóc đâu!/ Điện ngầm tự do len lỏi/ Vụng về chạm vào đớn đau/ Chập tan chảy nỗi lòng nhau...” (Định nghĩa khóc).

Cuối cùng, tạo hoá chắc cũng nhận ra sự trớ trêu của mình khi đã lỡ tay vận vào thân phận người phụ nữ lắm phong trần, đa đoan. Mà chắc trong tâm hồn nhạy cảm, trong trẻo của mình, Vũ Thanh Thuỷ cũng nhận ra mình đày đọa nhân vật chính như vậy cũng đã là quá đủ nên chị đã tạo ra cái kết có hậu theo công thức: Đã “bắt phong trần”, ắt phải “cho thanh cao”... Ở tuổi trung niên, người phụ nữ vốn đa đoan đã treo năm tháng phong trần của mình lên, cho vào quá khứ, để đón nhận cuộc sống gia đình thanh cao, hạnh phúc như quà tặng cuối cùng của tạo hoá: “Ba mươi năm con ngủ trên bức hình/ Quá yêu thương bố lưu thành kỷ niệm/ Giấc ngủ con bố cũng truyền nhiệt huyết/ Nét sơn dầu khắc hoạ suốt đời con/ Giờ con trung niên - bố đã không còn/ Duy tấm hình vẫn nhớ thương nhồi nhội/ Chồng con biết vợ mình hay tủi/ Đem tranh theo và treo tháng năm lên...” (Bức vẽ sơn dầu).

Bây giờ, ở tuổi chưa phải già nhưng cũng không còn trẻ nữa, Vũ Thanh Thuỷ có quỹ thời gian để tạo ra độ lùi cần thiết cho sự trầm tĩnh khi nhìn lại tất cả phải - trái, hay - dở, hạnh phúc - bất hạnh... của cuộc sống thế nhân. Không có sự hằn học, không có lời oán than trách cứ... Vũ Thanh Thuỷ nhẹ nhàng đưa người đọc làm cuộc dạo chơi trong cõi đa đoan mà chị và những thân phận phụ nữ như chị từng nếm trải.

                                            T.D


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.