NỘI DUNG CHI TIẾT
Đôi điều về hóa vàng mã quan niệm và lễ tục Việt Nam
11/5/2018

                                                                                   Nguyễn Xuân Đài

 

Theo “từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ, vàng mã: Vàng và Mã. Vàng: đồ làm bằng giấy giả hình thoi, vàng lá dùng để hoá cúng người chết theo tập tục dân gian. Mã: đồ làm bằng giấy giả như đồ dùng thật để hoá cúng cho người chết theo tập tục dân gian.

Theo sách “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính nói “Trước nửa tháng Tết, nhà nào nhà ấy nhộn nhịp sắm Tết, mua tranh, pháo, vàng, hương mã mùng, đường, mứt bánh trái, v.v...”. Phan Kế Bính không ghép hai từ vàng mã vào nhau, phải chăng muốn nói rõ vàng và mã khác nhau do cùng làm bằng giấy dùng để hoá cúng nên dân gian gọi cho gọn là vàng mã.

Quan niệm hoá vàng mã:

Người xưa quan niệm “Trần sao Âm vậy”, người chết cũng cần ăn, uống, mặc, hút thuốc, ăn trầu, tiền xe, và những thứ chi dùng khác như lúc còn sống và vậy mới có câu tục ngữ “Đi theo ma mặc áo giấy”.

Nay vẫn còn thấy phổ biến trong lễ vật cúng người chết, ngày giỗ, ngày tết, ngoài hương, hoa, trà, quả, trầu cau, rượu, nước, xôi, thịt, bánh, còn có bộ quần áo giấy, tiền vàng bằng giấy, xin thần linh chứng giám. Đó là lễ vật, biểu thị lòng biết ơn, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam được ông cha ta trân trọng gìn giữ bao đời nay từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Sau khi cúng hạ lễ hoá vàng, vàng mã được đem hoá cháy hết, mới lấy chén rượu cúng đổ vào với quan niệm để vàng và mã biến thành vàng thật, đồ dùng thật dưới âm phủ. Với quan niệm này, trong sách cổ như nói “hoá vàng mã” chứ không nói là “đốt vàng mã”. Bởi vì hoá để thay đổi cái này thành cái khác.

Hoá vàng mã theo sách “Từ điển lễ tục Việt Nam” thuộc “lễ tục”. Lễ tục là nghi lễ và phong tục:

- Nghi lễ là nghi thức về việc lễ, là cách thức tiến hành.

- Phong tục là thói quen lan rộng.

“Lễ tục hoá vàng mã” là bản sắc văn hoá Việt Nam, nó không chỉ xuất hiện trong ngày Tết, giỗ, ngày sóc, vọng và cả trong tế lễ đình, đền, miếu phủ. Nó phản ánh cái nguyên thủy là người Việt Nam lấy lòng biết ơn làm nền tảng cho đạo đức tín ngưỡng và tôn giáo của mình. Đạo đức liên quan đến hành xử của con người với nhau, với xã hội theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận. Cái cốt lõi của đạo đức là “Trung với nước, hiếu với dân”, chữ dân bao gồm cả bố mẹ, tổ tiên mình.

Tín ngưỡng là lòng tin và kính phúc. Tín ngưỡng dẫn đến sùng bái tôn thờ.

Thờ: Tỏ lòng tôn kính thần thánh, vật thiêng, linh hồn người chết bằng nghi lễ theo phong tục hoặc tín ngưỡng. Biểu tượng của thờ là Thần chủ hoặc vật thiêng.

Cúng: Bày tỏ kính ý, biểu tượng của cúng là lễ vật. Lễ vật là nghi lễ và văn vật trong đó văn vật là những thứ có trong trời đất, là sản phẩm văn hoá như văn cúng, nhạc (trống, chiêng, chuông, mõ...).

Ý tưởng của lễ vật, cầu mong sinh sôi phát triển. Người xưa chuẩn bị kỹ lưỡng chu đáo, như trước khi cúng phải tắm rửa, quần áo sạch sẽ, đẹp. Gạo nếp làm bánh, nấu xôi được chọn từng hạt lúa, hoa quả sạch tươi ngon, vàng và mã đầy đủ theo truyền thống.

Cứ xem nghi lễ và phong tục mà dân gian thực hiện khi cúng theo truyền thống thì vàng mã nó như vật kỷ niệm trong lễ tưởng niệm mang tính tượng trưng mà thôi.

Tác giả có đọc sách “Tín ngưỡng - Mê tín” - 1999 của Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở - Bộ VH-TT tác giả Lê Thị Hồng Phúc có đưa ra một tư liệu, thời nay về vàng có người cúng tiền giấy, tiền việt, tiền đô la, séc, giày dép, gương lược, quần áo, cốc chén bát đĩa, nhà lầu xe máy, ô tô thậm chí có cả hình nhân “cô gái đẹp” gửi xuống âm trong dịp cắt tiền duyên. Chưa có số thống kê chính xác, ước hàng năm đốt đi hàng chục tấn giấy làm vàng mã tiêu tới hàng trăm tỷ đồng. Hoá vàng mã của một số người thời nay như thế là thái quá, khác lạ với hoá vàng mã truyền thống, ảnh hưởng đến môi trường sống, hoả hoạn, tiêu phí tiền bạc, tiêu phí vật liệu của con người làm ra, thế thì có phải là văn hoá không?

Từ khi nhà nước ta mở ra cơ chế kinh tế thị trường, thì việc khôi phục di tích đình đền, miếu, phủ cùng với thờ cúng cũng tăng thêm kéo theo cầu cúng, lễ bái, sóc thẻ, xem giải hạn...

Có người nghĩ rằng “Lễ to lộc lớn”, tác giả có đi sưu tầm nghiên cứu một số sách như: “Một trăm điều cần biết về phong tục Việt Nam” - Nxb Văn hoá dân tộc năm 1996, “Việt Nam phong tục” - Phan Kế Bính - Nxb Văn học 2011, “Từ điển lễ tục Việt Nam” - Nxb Văn hoá - Thông tin năm 1996. Trong “Từ điển lễ tục Việt Nam” có đến 757 việc gồm: lệ, lễ, tục, và lễ tục, của các dân tộc sống trên lãnh thổ nước ta, cũng không tìm thấy điều nào nói đến “lễ to, lộc lớn”, cả, thế thì quan niệm đó không có trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

Hoá vàng mã là “lễ tục”, là văn hoá Việt Nam được ông cha ta trân trọng gìn giữ truyền từ đời này đến đời khác ghi vào từ điển “lễ tục Việt Nam” để con cháu làm theo, nó thể hiện lòng biết ơn thực hiện “đạo lý uống nước nhớ nguồn” kết cấu cộng đồng chống vong bản để bảo vệ và xây dựng đất nước là bản sắc văn hoá Việt Nam.

Hoá vàng mã là “lễ tục” cần tìm tòi nghiên cứu thận trọng, thấu đáo, nghiêm túc, nó liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một lãnh vực nhạy cảm trong thời đại toàn cầu hoá và kinh tế, quốc tế hoá về văn hoá. Cái gì thái quá gây thiệt hại cho cộng đồng, cho cá nhân đều bị cộng đồng lên án, loại bỏ xem đó là “mê tín dị đoan”.

“Mê tín dị đoan” là từ Hán Việt. Từ này nguyên nghĩa là để chỉ những ý tưởng tôn giáo, những sự thờ cúng khác với tôn giáo chiếm địa vị thống trị trong xã hội. “Trước đây Alexandre de Rohodes và các cố đạo phương Tây từng cho rằng tất cả các tôn giáo (đạo Phật, đạo Nho, đạo thờ cúng tổ tiên) đều là những mê tín dị đoan cần phải bài trừ”.

“Hoá vàng mã quan niệm và lễ tục Việt Nam” người viết đã nói đến một số vấn đề về quan niệm, khái niệm, lễ tục, mê tín, mê tín dị đoan, có liên quan để cùng nhau, suy nghĩ cân nhắc việc mua sắm vàng mã trong lễ vật thờ cúng và hoá vàng mã theo lễ tục truyền thống văn hoá Việt Nam thế nào cho phù hợp.

Sự hiểu biết và điều kiện nghiên cứu có hạn, những điều trình bày chưa rõ, chưa tới, xin độc giả lượng thứ, cùng trao đổi để hoàn thiện hơn.

                                             N.X.Đ


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.