NỘI DUNG CHI TIẾT
Đào Liễu của chúng mình
12/14/2018

                                                               Truyện ngắn dự thi của Xuân Quang


Ông Khảm giảm ga, đánh tay lái cho xe máy rẽ vào trong  xóm. Con đường vào ngõ Nhà Căng mới được đổ bê tông rộng rãi, phẳng lừ, trông đẹp như một nét vẽ. Ông vừa bật công tắc chiếc loa phát thanh buộc ở đằng trước rổ xe, để cho tiếng rao phát ra: Ép láp tic đi. Ép láp tíc các văn bằng, sổ đỏ, huân huy chương, bằng lái xe và chứng minh thư nhân dân bảo đảm, chất lượng, lấy ngay. Ai ép láp tíc nào? Chợt ông thấy hình như dân tình trong xóm đang có hội hè gì, nên đông vui, huyên náo lắm. Tiếng trẻ em nô đùa chí chóe và tiếng cười nói xôn xao. Thì ra phía bên phải có ngôi nhà đúc ba tầng, đứng sừng sững, bề thế trên khoảng đất rộng, bằng phẳng. Xung quanh cây cối mới trồng cũng bắt đầu lên xanh mướt mát. Cổng vào có giàn thiên lí xanh xanh, buông những chùm hoa thơm  ngát trên hàng cột bằng bê tông cốt thép. Lối đi vào trong sân khá rộng, đủ cho xe bốn bánh vào ra, được lát bằng gạch đỏ. Loại gạch Xuân Hòa nổi tiếng là bền và đẹp. Hai bên là hàng cây thanh táo thẳng tắp, được cắt tỉa công phu và mấy bụi hoa hồng cũng đã bắt đầu cho hoa. Chứng tỏ gia chủ phải là tay lắm tiền, chịu chơi và có đầu óc thẩm mĩ.

Hình như họ khánh thành nhà mới, hay là tổ chức họp hành gì đấy. Cũng có thể là gia đình có người đỗ đạt, hoặc làm ăn gặp vận may, nên họ bày ra liên hoan, múa hát tưng bừng thế. Thây kệ. Hơi đâu mà để tâm đến những việc coi như vô bổ, chẳng dính dáng gì đến cái nghề đi ép láp tíc lưu động của ông già này. Nghĩ thế, ông Khảm định vít tay ga, nhưng bỗng từ trong căn nhà ba tầng. Đúng hơn là từ chiếc sân gạch rộng chừng 40m2, được căng phông bạt hẳn hoi. Tiếng trống tong tong tong, cùng tiếng phách, tiếng mõ, tiếng nạo bạt vang lên. Kế theo đó là tiếng đàn nguyệt, đàn tam phập phừng, đàn chanh lảnh lót, đàn nhị réo rắt và tiếng sáo cao vút lên, thông qua giàn âm li, loa đài rất chi là hiện đại, cứ như thể có đoàn Văn công về biểu diễn không bằng. Tinh ý, ông Khảm nhận ra là một chiếu chèo. Chao ơi, ở miền quê còn ngút ngàn tre xanh bao phủ. Miền quê mà loáng thoáng đâu đó vẫn còn rào găng, bờ duối cài cắm đan xen với tường gạch rêu phong. Miền quê mà đá đầu ruồi vẫn còn ràn rạt cuốn dưới bánh xe. Vậy mà lại có buổi liên hoan văn nghệ hoành tráng đến thế sao? Vốn tính hiếu động có từ khi còn bé. Lại thêm hành cái nghề phải đi lang thang khắp thiên hạ, nên ông tích lũy được ối chuyện trên đời. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên ông phải ngỡ ngàng trước cảnh sinh hoạt có một không hai ở miền quê có cái tên nghe đến nực cười: Làng Bùng.

Một thoáng tần ngần. Tần ngần vì nếu tự dưng dựng xe, khật khưỡng vào xem thì thấy nó vô duyên thế nào... Hơn nữa, đầu đội chiếc mũ bảo hiểm cũ rích và trên người cũng vận bộ quần áo bộ đội đã bạc phếch màu thời gian, cùng đôi dép lê dính đất cát đen nhẻm. Nhìn có ra cái hồn người đâu mà tính vào tận sân nhà người ta xem hát chèo. Có mà dở hơi. Loại điên khùng họa chăng... Vừa lúc ấy có mấy đứa trẻ chạy đến vịn vào tay ông tíu tít, bô bô:

- Ông ở nơi khác đến phải không? Nhà chú Thắng cháu đấy. Chú ấy làm Phó giám đốc Công ty cát sỏi Bảo Thanh giầu ú ụ, tiền nhiều hơn rác bãi Xở. Hôm nay chú cháu tổ chức khao thọ cho mẹ 90 tuổi, nên mời các đoàn chèo về hát mua vui, có đánh chén nữa cơ, to lắm. Ông có thích nghe hát chèo không? Nếu thích thì cứ để xe và đồ nghề đấy, chúng cháu trông cho, vào xem đi, không sợ mất gì đâu - Và chúng cười, trơ hai hàm răng sún đỏ loét. Như một thứ ma lực, lại thêm bộ môn hát chèo vốn là sở thích bấy nay, nên ông bỗng thấy vui lây, liền lấy ra năm ngàn dúi vào tay thằng bé lớn nhất trong đám:

- Các cháu cầm mấy đồng mua bim bim và nhớ trông xe cho ông nhá.

Ông Khảm ý tứ, nép mình dưới cây đu đủ trước sân. Đúng lúc có tiếng con gái cất lên:

- Thưa, mở đầu cho buổi giao lưu hát chèo. Tôi xin trân trọng giới thiệu bà Phương Mây thể hiện làn Đào Liễu.

Ông Khảm giật mình, khẽ thốt lên: Phương Mây hát Đào Liễu. Liệu tai mình có nghe nhầm không? Phương Mây, cái tên và người con gái đã có thời đóng đinh vào tâm thức của ông như một kỉ niệm không thể phai mờ. Nhưng ở đời con người ta trùng danh, trùng hiệu là lẽ thường tình. Ông Khảm khẽ dụi mắt, cố ý ngó kĩ xem người chuẩn bị biểu diễn kia hát có hay, múa có giỏi bằng Phương Mây của ông ngày xưa không?

Sau khi nhạc công lướt qua đường nhị, bà Phương Mây hóa trang như một thiếu nữ cực kì duyên dáng, trong trang phục áo “mớ ba, mớ bảy”, từ phía “cánh gà” uyển chuyển, mặt tươi như hoa, tay cầm Micrô bước ra:

- Đi đâu Đào Liễu một mình/ Hai vai gánh nặng nhật trình đường xa/ Lại còn chiếc áo sồng ba...

Ông Khảm quên mất mình là khách vãng lai. Thậm chí quên cả ý tứ. Ông bỏ chiếc mũ bảo hiểm, nheo nheo mắt nhìn như thôi miên vào người phụ nữ đang buông hơi, nhả chữ và đôi tay mềm mại như lụa trước mặt ông kia. Không. Không phải Phương Mây, người con gái rất tươi tắn, xinh đẹp trong Đoàn Văn công Vĩnh Phú, lên biểu diễn tại bờ công sự, ở điểm tựa 685 Vị Xuyên cho bộ đội ta xem ngày xưa. Người phụ nữ đang hát say sưa trước mặt ông kia tóc đã muối tiêu. Dù có đôi chút son phấn, nhưng vẫn không khuất lấp được dáng dấp già nua. Ông định quay ra thì Phương Mây hát tiếp trổ 4:

- Ở vậy làm sao cho nó đành/ sao không tìm nơi, tìm chốn (kẻo) thế tình mỉa mai/ Sách rằng: xuân bất tái lai.

Lần nữa, ông Khảm lại giật nảy mình. Ôi, sao lối thể hiện giống Phương Mây đến thế. Ông như bị chết lặng vì ca từ đã đành. Nhưng chất giọng mượt mà, ngọt ngào, da diết và có phần chua chát kia, như lưỡi dao cau cứa vào da thịt, khiến níu chân, bắt ông quay lại. Lần nữa, ông Khảm cố nheo mắt nhìn thật kĩ: Phải thừa nhận bà ta đẹp. Đôi lông mày lá liễu cong vút và chiếc mũi dọc dừa, cùng hai hàm răng đều như hạt na. Ô kìa, chiếc nốt ruồi nhỏ như hạt đậu xanh ở dưới cằm đã bị mồ hôi chảy xuống, vô tình để lộ ra... Thôi chết. Đúng là Phương Mây rồi. Những đường nét ấy không thể lẫn vào ai được. Ông Khảm mừng đến run cả người. Trời ơi, trái đất tròn thật ư? Suýt nữa thì ông reo lên: Phương Mây. May mà ông kìm chế được. Dù công việc mưu sinh thúc bách đến mấy, ông vẫn cố nán lại, tìm cách gặp bằng được người vừa hát câu Đào Liễu một mình và họ đã gặp nhau.

Mong là thế, háo hức và thoáng xô bồ là thế. Vậy mà gặp rồi lại lúng búng, chả biết bắt đầu từ đâu. Hai người đứng nép sau “cánh gà”, cứ như hai Ma-nơ-canh. Lúc sau Phương Mây nhỏ nhẹ:

- Anh tài thật đấy. Vẫn còn nhận ra người con gái quê mùa này ư?

Ông Khảm úp chiếc mũ vào ngực, nói trong hơi thở:

- Mình có phải gỗ đá đâu. Cũng bằng xương, bằng thịt đấy chứ.

Phương Mây cười, thật thà: Em ở cách đây chừng hơn một cây số. Nếu anh không bận quá, xin mời đến chơi cho biết cửa, biết nhà. Chao ơi, Phương Mây vẫn thế, tức là vẫn nhỏ nhẹ, dịu dàng và kín đáo như ngày nào... Ngay cả lúc này đây, chỉ chừng ấy lời mời thôi cũng đủ cho ông Khảm thấy lòng dạ lâng lâng như thể đi trong cõi thực, cõi mơ. Kí ức xưa, kỉ niệm có thể được viết bằng máu về một thời binh lửa, bỗng chốc  lại theo nhau lũ lượt ùa về.

Năm 1983 vừa học xong cấp ba, cũng là lúc Trần Thế Khảm 18 tuổi. Cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” vừa đi qua. Cái tuổi có vóc dáng đẹp nhất của người đàn ông được phô bày ra. Khảm có bộ tóc xoăn tự nhiên lúc nào cũng lòa xòa trên trán và bộ ngực nở vồng lên như ngực trâu mộng, cùng chân tay rắn chắc, cuồn cuộn như rễ cây bạch đàn. Chỉ tiếc rằng học lực hơi bị...khiêm tốn, thành ra đi thi đại học, cao đẳng chả được đứng chân ở trường nào. Đúng lúc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Thế là Trần Thế Khảm làm đơn xung phong đi bộ đội và cậu trúng tuyển là điều dễ hiểu. Sau thời gian luyện tập lăn lê, bò toài và các kĩ năng chiến đấu. Khảm được điều về Trung đoàn 14, Sư đoàn 313, làm nhiệm vụ chốt giữ trên điểm tựa 685.

Người ta cứ bảo: Vào bộ đội coi như là đi thoát li, tuy thiếu thốn tình cảm, phải xa nhà, xa quê hương và xa người thân... Bù lại, Nhà nước và nhân dân nuôi cơm ba bữa no nê, quần áo mặc cả ngày và dép giày, mũ mão chả thiếu thứ gì. Nhưng than ôi, ai đã từng cầm súng ra mặt trận. Cầm súng lên trấn giữ miền cao nguyên đá chênh vênh. Ngày đêm đối mặt với quân thù, cùng với thiếu thốn trăm bề và chết chóc luôn rình rập. Mới hiểu hết nỗi lòng của người lính cầm súng trấn ải nơi biên cương.

Ở trên điểm tựa, tức là người lính ở trên đá và đá. Họ ăn trên đá. Họ ngủ với đá và họ lẫn vào đá. Nước dành để ăn uống, tắm giặt, nhiều khi phải tiết kiệm đến từng giọt đã đành. Nhưng “tính khí” của đá cũng thật ẩm ương. Mùa đông, lạnh từ đá tỏa ra, rét buốt như kim châm thấu tới tận xương. Ngược lại mùa hè, đá lại được mặt trời đốt nóng suốt ngày, hấp thụ và tích tụ nhiệt vào, “đầy” rồi lại tỏa ra. Những chàng lính ngày đêm như được rang trong chảo lửa, nóng bức đến kinh người.

Thật tình nói về miền cao nguyên đá như thế có phần hơi quá. Quá ở chỗ cao nguyên dẫu khắc nghiệt và đỏng đảnh thật đấy, nhưng cũng có nhiều nét đẹp chả nơi nào có. Đẹp nguyên sơ, đẹp tới tầm lãng mạn và rất nên thơ. Mùa Xuân hoa nở trắng sườn non và đêm mùa thu được ôm cây súng Ak đứng trên điểm tựa, giữa trời mây lồng lộng, bát ngát bao la. Không gian như rỗng ra và trăng sao như sà xuống sát đỉnh núi. Các chàng lính nhà ta tha hồ ngắm những vì sao tinh tú nhấp nháy như mắt con gái và có cảm giác như giang tay là chạm tới chị Hằng.

Nào ngờ từ ngày 26 tháng 3 năm 1984, trên tuyến biên giới Hà Giang. Trung Quốc đã tập trung 4 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo của Đại quân khu Côn Minh. Họ áp sát hướng Vị Xuyên. Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 27 tháng 4, Trung Quốc tiến hành một đợt bắn phá lớn trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới.

5 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1984, trên hướng Vị Xuyên chúng bắn tới chục ngàn quả đạn pháo 122 và 130 li. Sau khi dứt tiếng pháo, chúng ồ ạt tấn công vào các trận địa của ta ở phía Tây sông Lô.

Có lẽ do không lường hết sự lật mặt, tráo trở của “anh bạn lớn” và do sự chênh lệch về tương quan lực lượng, nên đến hết ngày 30 tháng 4, địch đã chiếm được các điểm tựa như 1509, 722, 685... mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Quân ta bị thương vong rất nhiều, đành phải lui xuống thấp chiến đấu và chờ quân chi viện.

Trước tình hình trên, ngày 20 tháng 5 năm 1984, Bộ Tư lệnh Quân khu II họp và mở chiến dịch MB84, gồm nhiều đơn vị tham gia. Vì thế, trong tháng 6 ta đã mở nhiều cuộc phản công, tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch ở những nơi chúng chiếm đóng trái phép và khôi phục các điểm tựa. Rạng sáng ngày 12 tháng 7, ta đồng loạt nổ súng, đẩy lùi quân Trung Quốc về phía bên kia. Tiếng súng tạm thời được yên ắng và cao nguyên đá vẫn sừng sững, chênh vênh như dáng đứng có từ ngàn năm.

Chiến thắng bước đầu đã làm nức lòng quân dân cả nước. Đơn vị Khảm đang được lệnh sửa chữa công sự, bổ sung súng đạn, lương thực và quân trang, quân dụng, sẵn sàng vào trận đánh mới, thì một tin vui đến bất ngờ: Để kịp thời “chia lửa” và động viên cán bộ, chiến sỹ trên điểm tựa 685. Đêm nay, Đoàn Văn công xung kích tỉnh Vĩnh Phú lên biểu diễn văn nghệ. Nghe đến đấy, cánh lính nhà ta sướng quá, nhảy tâng tâng như bị bọ cạp đốt. Có chàng sổng mồm cười hô hô:

- Ối giời ơi. Tưởng Cải lương Chuông vàng hay Đoàn chèo Trung ương lên biểu diễn mới khoái. Chứ bóp vú đàn ông còn hơn xem Văn công Vĩnh Phú.

- Câm. Chỉ nói bậy thôi. Này, Văn công Vĩnh Phú nhà tớ, dẫu không hay, nhưng còn gấp tỉ dân Hà Tây nhà cậu. Dân Hà Tây chỉ được cái nhảy tàu, trốn vé là tài - Rồi họ ôm nhau cười ngả nghiêng trời đất.

Tháng tám, Vị Xuyên se se lạnh. Hoàng hôn dần buông và trăng sao hiện ra. Cả cao nguyên như khoác lên mình chiếc áo được dát bằng  vàng, rất kiêu sa, lộng lẫy. Đá đứng, đá ngồi. Cơ man nào đá như đang chụm đầu vào nhau để tắm trăng, trông xa óng lên như bạc rắc.

Cơm nước xong, đơn vị Khảm được lệnh súng đạn đầy đủ, tập trung về mảnh đất khá rộng và bằng phẳng dưới chân núi. Trước đó, theo yêu cầu và hướng dẫn của Ban Tuyên huấn. Đơn vị Khảm đã kịp san lấp, dựng cột, căng phông và “cánh gà”, tạo nên một sân khấu dã chiến, để Đoàn Văn công “tác nghiệp”. Đúng 19 giờ, chiếc máy phát điện hiệu Honda nổ xè xè. Những chiếc bóng điện phát sáng, lung linh giữa cao nguyên như những hạt pha lê. Sau hồi trống tùng tùng nổi lên, cả Vị Xuyên xao động. Trên “sân khấu”, dàn đồng ca hoành tráng vang lên: “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi toàn dân ta vào trận chiến đấu mới. Quân xâm lược bành trướng dã man đang dày xéo mảnh đất tiền phương. Lửa đã cháy và máu đã đổ, trên khắp dải biên cương...”. Dưới kia, những chàng lính măng tơ, ngồi im như những pho tượng bằng đồng và trong mắt họ, hình như có lửa, phát sáng.

Tiết mục đồng ca kết thúc. Người dẫn chương trình cầm micơrô bước ra:

- Dân ca chèo: Đào Liễu có một mình. Người thể hiện, đồng chí Phương Mây. Ngồi ở hàng thứ hai, vừa nghe giới thiệu đến đấy, Khảm như bị chạm tới gan ruột của mình, cậu vô tình thốt lên: Ái chà chà, dân ca chèo. Đúng lúc Phương Mây, trong trang phục của người lính và hai bím tóc được buộc gọn ghẽ, buông dài ra sau. Với khuôn mặt trẻ trung, thanh tú. Đôi mắt lúng liếng, cùng chiếc mũi dọc dừa và đôi môi đỏ tươi như cà chua chín. Phương Mây nhẹ nhàng, uyển chuyển theo tiếng trống phách và tiếng nhạc “lưu không”:

- Đi đâu Đào Liễu một mình/ Hai vai gánh nặng nhật trình đường xa.

- Đào Liễu (dẫu có) một mình/ Em có lên Vị Xuyên với anh không/ Đồi núi trập trùng/ Vách đá cheo leo/ Nắng vàng buông thả/ Đất nặng tình người/ Thấm đẫm hơi sương/ Ơi người đi giữ biên cương... Phương Mây cúi chào trong tiếng vỗ tay rào rào. Riêng Khảm như người bị ma bắt mất hồn. Cậu cứ ngồi ngây ra như phỗng, mắt chớp dây và môi mấp máy như muốn nói ra điều gì... khó quá.

Đáng lẽ đoàn Văn công Vĩnh Phú sẽ rút ngay trong đêm, để còn đi phục vụ các điểm tựa khác. Nhưng do anh em cán bộ, chiến sĩ quá mến mộ, khao khát, nên lãnh đạo đoàn quyết định ở lại phục vụ một buổi nữa.

Chiều, trời thoáng chút oi nồng, nên anh chị em trong Đoàn Văn công xung kích được phép xuống suối Nậm Thắn tắm giặt. Suối Nậm Thắn bắt nguồn từ những ngọn núi đá vôi. Qua chắt lọc, nên tinh khiết và trong vắt như thạch. Các chị em được ưu tiên tắm ở phía trên. Núi rừng hoang vu, kín đáo, nên họ chỉ mặc mỗi đồ lót và cùng nhau tha hồ đùa giỡn với nước. Những hạt nước bắn tung tóe, vỡ như thủy tinh, óng lên như ngọc, giữa ánh nắng mặt trời mới đẹp làm sao.

Như thường lệ, Khảm gánh hai chiếc can nhựa, loại 25 lít xuống suối lấy nước về để cho cả tiểu đội uống và rửa mặt, đánh răng. Vừa mới bập miệng can vào dòng nước, bỗng Khảm nghe có tiếng ùng ùng nổ ở đầu nòng xa xa. Mấy giây sau là tiếng đạn pháo xé gió, nghe rợn cả người. Khảm chỉ kịp kêu lên: Bọn đểu. Nó lại bắn sang đấy. Cũng là lúc những viên đạn 122 li của địch chạm vào vách đá, nổ đinh tai, nhức óc. Cả một vùng rừng núi khói lửa mù mịt, ngút trời. Theo phản xạ tự nhiên và kĩ năng đã thuần thục. Khảm đang định lao vào vòm đá để tránh, nhưng cậu lại nghe tiếng thất thanh từ phía đầu suối. Thì ra là các cô gái trong Đoàn Văn công lần đầu tiên được nếm mùi bom đạn, nên họ hoảng loạn, hét váng lên và chạy lung tung. Không một phút chần chừ, Khảm lao vụt ra, cũng vừa lúc Phương Mây vẫn mặc nguyên đồ lót. Cô chạy như ma đuổi và bị vấp nên ngã nhào xuống bãi cỏ. Khảm nhanh như một con sóc, bế thốc cô lên và lao vội vào vòm đá sâu để ẩn nấp. Pháo đạn của địch vẫn nổ chói tai, dội vào vách đá, cứ như núi sắp sập xuống đến nơi. Phương Mây run bần bật, mặt tái mét, thở không ra hơi. Cô ôm chặt lấy Khảm như dính vào nhau. Hai bầu vú như hai quả dừa non áp vào ngực Khảm âm ấm, êm êm. Môi của hai người gần lắm và Khảm nghe rõ cả tiếng hai con tim đang đập thánh thót trong lồng ngực.

Chừng 30 phút sau thì tiếng đạn pháo im bặt. Phương Mây chợt nhận ra là mình đang nằm trong vòng tay của anh bộ đội cũng cởi trần trùng trục. Cô thẹn, mặt đỏ au, khẽ dời khỏi tay Khảm, lúng búng:

- Ôi khiếp quá.

Khảm khẽ xoa hai tay vào nhau, như cho đỡ thừa:

- Bình thường, bọn tôi quen rồi.

- Anh tên là gì?

- Khảm, Trần Thế Khảm.

- Em cám ơn anh Khảm nhiều lắm - Phương Mây tỏ vẻ bẽn lẽn, mắt chớp chớp:

- Hôm nay nếu không có anh, chắc em sẽ thịt nát, xương tan - Vừa lúc ấy có tiếng gọi nhau í ới. Hình như họ đang đi tìm Phương Mây. Cô vội vụt đứng dậy, hôn vào má Khảm nghe cái “chụt”, rồi vùng chạy vụt đi.

Phương Mây đã mời được Khảm về nhà riêng của mình ở xóm Đồng Lời. Lại một lần nữa Khảm tần ngần trước căn nhà ba gian ngói đỏ như son. Cũng sân gạch rộng rãi và vườn tược với đủ loại cây. Ngồi xuống bộ salon bằng gỗ mỡ vàng ươm. Phương Mây ân cần đưa tận tay Khảm cốc nước lọc. Bà thủ thỉ:

- Em nghe người ta bảo: Thời gian như vó ngựa phi qua ngoài cửa sổ, ngẫm mà thấy đúng. Mới đấy mà đã mấy chục năm trời “bèo dạt, mây trôi”. Anh Khảm kể tiếp đi. Sau buổi ấy anh ở đâu? Làm gì? Và giờ cuộc sống ra sao?

Nhấp ngụm nước lên môi, ông Khảm như bừng tỉnh, sau mấy phút mộng mị: 

- Vâng. Những ngày sau đó bọn tôi vẫn kiên gan đứng vững trên điểm tựa. Thế rồi trong một trận đọ súng với quân địch, không may tôi bị thương nặng, ngất lịm không biết gì. Được đồng đội kịp thời cấp cứu và đưa về tuyến sau. Điều trị mấy tháng trời ở Quân y viện 109 ở Vĩnh Yên thì sức khỏe tạm bình phục và tôi được ra quân với chế độ thương binh loại 2/4, cũng là lúc ta và Trung Quốc kí kết ngừng bắn và cùng ngồi vào bàn hội nghị ở Thành Đô - Tứ Xuyên.

Thấy Khảm ngưng lại như lục tìm điều gì đó. Phương Mây gợi:

- Sau đó?... À, sau đó về quê học làm kinh tế, lấy vợ, sinh con - Bỗng ông Khảm khẽ thở dài: Số tôi vất vả. Vợ chồng ở với nhau được mấy năm và sinh hạ được hai cô con gái. Các cháu ngoan, học giỏi, cứ nghĩ thế mà mừng. Nào ngờ không may bà ấy mắc căn bệnh ung thư cổ tử cung. Hai vợ chồng lại cóp nhặt, vay mượn và dắt nhau đi khắp các bệnh viện, từ địa phương tới Trung ương. Nhưng tiếc thay căn bệnh quái ác đó y học tạm thời vẫn chịu bó tay, không có thuốc đặc trị. Trước khi nhắm mắt, bà ấy cầm lấy tay tôi, nghẹn ngào trong hơi thở sắp tàn: Mình cố thay em nuôi dạy hai đứa con gái cho chúng nên người. Dù khó khăn, vất vả và thiếu thốn thế nào, cũng đừng để các con thất học - Ông Khảm ngừng giây lát cho dịu bớt xúc động:

- Vẫn biết số phận nghiệt ngã và bị cuộc đời xô đẩy. Nhưng tôi quyết tâm th34

ực hiện bằng được những di ngôn của vợ. Thôi thì tìm đủ các phương sách, các nghề khả dĩ phù hợp với điều kiện, trình độ và sức khỏe của mình để kiếm tiền nuôi các con ăn học. Cuối cùng, nghề ép láp tíc là tôi ưng hơn cả.

Phương Mây vẫn chú ý lắng nghe, như nuốt từng lời. Bà gặng: Thế hai đứa trẻ hiện giờ ra sao? Khảm xoa hai tay vào nhau, bộc bạch:

- Cháu gái lớn học xong Cao đẳng công nghiệp, đi làm công nhân khu chế xuất và đã xây dựng gia đình. Cháu thứ hai đang học Đại học Sư phạm năm thứ ba ở Hà Nội - Bỗng ông Khảm ngẩng lên, nhìn vào mắt Phương Mây thăm dò: Thế còn em? Phương Mây rầu rầu nét mặt, thưa:

- Vâng, số kiếp em cũng vất vả chẳng kém gì anh. Hồi ở Đoàn Văn công Vĩnh Phú, em xây dựng gia đình với anh Đặng Ngọc Sản, đại úy, ở bên tỉnh đội. Anh Sản hiền lành, chất phác và lớn hơn em gần chục tuổi. Chúng em ở với nhau cũng gần chục năm trời mà không có lấy mụn con. Đi thăm khám mới hay anh ấy từng là lính Tây Nguyên, thời chống Mỹ. Do bị nhiễm chất độc da cam, nên tuyệt đường sinh nở. Nhiều lần anh ấy gợi ý muốn chia tay để cho em đi tìm hạnh phúc với người khác, nhưng em không chịu. Ở đời, sống mà “hữu thủy, vô chung” được xem là đồ bỏ đi, phải không anh? Sau này, sức khỏe anh ấy suy giảm dần và lâm bệnh trọng, vài tháng sau thì mất. Em thương tiếc, đau đớn và vật vã mãi. Đến khi nguôi ngoai thì đầu đã điểm sợi bạc và sức khỏe có phần sa sút. Em quyết định nghỉ mất sức, về quê mua đất, làm nhà và sống chan hòa cùng bà con lối xóm. Do còn chút năng khiếu trời cho, cộng với muốn giao lưu cho tóc đỡ bạc thêm. Em đã tham gia vào Câu lạc bộ Dân ca của huyện, thi thoảng ai mời thì đi hát cho vui.

Nghe Phương Mây rủ rỉ tâm sự. Ông Khảm lặng đi như người bị say nắng. Bỗng ông nhìn thẳng vào mắt Phương Mây, nhỏ nhẹ:

- Thì ra hai đứa mình cùng có nỗi xót xa và cay đắng như nhau. Hôm nay gặp nhau đây, anh muốn em đổi câu hát thành: “Đào Liễu của chúng mình” có được không? Nghe Khảm nói thế, Phương Mây hiểu ra, thẹn và mừng. Con mắt đang đượm nét u ẩn là thế, bỗng long lanh, phát sáng như hai ngọn nến. Bà khẽ gật đầu, môi run run, thưa: Vâng, anh đã nói thế, từ nay em sẽ hát mãi câu: Đào Liễu của chúng mình.

                                                                                             N.X.Q


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.