NỘI DUNG CHI TIẾT
Trở về... ngày hôm qua
2/14/2019

 

                                                               Truyện ngắn của NGUYỄN THỊ HỒNG CHÍNH

 

Tôi luôn đưa bọn trẻ về quê. Quê chẳng còn ai thân thuộc vì tất cả đã khuất núi qua gò nhưng tôi luôn muốn ở bên bọn trẻ mỗi khi cuối tuần. Những khi ấy tôi lại cùng chúng trở về nơi tôi sinh ra lớn lên. Nơi ấy in dấu bao kỷ niệm ngọt bùi cay đắng của anh em chúng tôi. Quê tôi bây giờ cũng đã lên phố. Con đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai cắt đôi làng của chúng tôi thành hai nửa. Những ngôi nhà xưa cũ bây giờ vắng hẳn và thay thế nó là những ngôi nhà cao tầng bề thế. Ngôi nhà của bố mẹ tôi để lại lọt thỏm giữa những căn nhà cao tầng ấy, thấp bé như một chấm xanh giữa những cái hộp vuông kiên cố xếp lộn xộn lên nhau. Mọi thứ của ngày xưa vẫn in trên ngôi nhà ấy. Ngói mũi rêu xanh, cánh cửa cũ kỹ không sơn còn hằn lại những nét chữ của anh cả Năm dạy chúng tôi học bài. Vẫn cái bàn là những mảnh gỗ ghép lại nơi hai em trai tôi ngày xưa chơi trò con rối đánh trận toạc cả đũng quần. Đấy là cái giường sắt nhỏ võng giữa đưa chị em tôi vào giấc ngủ. Cái giường đã chứng kiến mẹ lấy rơm lót dưới chiếu cho con thêm ấm vì không đủ chăn, lấy áo dấp nước đắp lên người con cho vợi bớt cái nóng của những đêm hè... Nơi đây như một cuốn nhật ký ghi lại tất cả ký ức tuổi thơ của anh em tôi. Tất cả vẫn được bố mẹ lưu giữ rồi trao lại cho tôi để một ngày nào đó anh Năm trở về còn nơi nương vào. Năm anh em, người mất người còn, người ở lại, người phiêu bạt nhưng tôi nghĩ trong sâu thẳm mỗi người chắc sẽ nhớ về nơi đây như nhớ về nguồn cội... Và anh Năm biết đâu đấy cũng đang đau đáu hướng về nơi đây.

Tôi vẫn thường đưa các cháu của mình về đây rồi kể cho chúng nghe những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mà như mới xảy ra ngày hôm qua. Bọn trẻ sung sướng, xăng xái chạy nhảy khắp nơi trong nhà, ngoài vườn, hái quả, câu cá rồi bà cháu lại xì xụp nấu bữa cơm trưa với rau, trứng vườn nhà. Ăn xong bà cháu ngồi hóng mát dưới gốc cây sấu già hơn tôi hàng chục tuổi. Tán lá xòe rộng tỏa bóng trước sân, vươn ra cả ao cá gần đấy, nơi có giàn mướp đang lúc tàn khô. Rồi bọn trẻ lại nhao nhao ôm lấy cổ tôi: - Bà nội ơi, bà nội kể chuyện ngày xưa đi.

Tôi cười cười: - Kể chuyện gì nhỉ.

- Bà nội kể chuyện ngày xưa bà nội và anh em của mình khi còn nhỏ ấy ạ.

- Có nhiều lắm, biết kể cái gì nhỉ.

- Bà nội kể về tuổi thơ của mình đi. À không, bọn cháu muốn bà nội kể chuyện ông Năm cơ. Bọn cháu nghe nói ông Năm là khác nhất trong những người con trong gia đình đúng không ạ?

- Khác là khác thế nào.

- Bố mẹ bọn cháu bảo thế.

- Bậy nào.

- Ông Năm bây giờ ở đâu rồi bà nội nhỉ.

- Bà nội cũng không biết nữa. Mấy mươi năm rồi còn gì. Chẳng có liên lạc gì. Người đâu mà đi mất dạng. Khi còn nhỏ, anh em như những con tò vò chui ra chui vào trong cái tổ bé tí, lớn lên mỗi con bay một ngả làm những cái tổ riêng rồi sinh con đẻ cái. Tổ tò vò cũ vỡ ra, thủng lỗ cha lỗ chỗ...

- Bà nội nói hay thật đấy, cứ như là đang đọc tiểu thuyết chứ không phải kể chuyện.

- Cha bố các anh các chị, chỉ khéo cái mồm thôi... Ngồi yên để tôi kể cho mà nghe.

Ông bà cố sinh được năm đứa con. Ông Năm, bà nội rồi đến ba ông nữa. Tuổi thơ của ông bà luôn bị cái nghèo đeo bám. Ông cố đi bộ đội rồi công tác xa. Mỗi năm về đúng dịp Tết. Về cũng chỉ kịp đi thăm thú họ hàng, chào anh em bè bạn, ăn vội với vợ con đôi bữa cơm rau đạm bạc rồi lại đi. Khi ông cố đi bà cố lại bớt xén chút phần gạo, phần sắn của con cho chồng đi đường. Ông cố bảo: Bà để ở nhà cho các con ăn. Bà cố vừa túm gạo vào cái đãy nhỏ vừa bỏm bẻm nhai trầu bảo ông cố: Xẩy nhà ra thất nghiệp. Ở nhà còn có con cá mớ rau, hết gạo thì vay đến mùa trả chứ ông đi thế lấy gì mà ăn. Ông cố đành rứt mà mang theo rồi đợi lúc vợ không để ý gạn già nửa số gạo trong đãy để lại cho các con. Ông cố biết một mình bà cố đèo bòng những năm đứa con cũng cùng cực chẳng đã. Thương thì để trong lòng chứ biết làm sao. Nhà có dăm sào ruộng, toàn ruộng rộc, khan nước nên năng suất lúa với hoa màu không cao nên các con luôn đói. Bà cố lại đi buôn thúng bán mẹt, bắt tôm cua cá cải thiện. Được cái đàn con cứ tròn lông lốc, cứ ăn cứ lớn mà chẳng ốm đau. Đứa nào cũng học hành giỏi giang, đứa nào cũng ngoan ngoãn chăm làm. Nhất là anh cả Năm. Anh như một cái đầu tàu kéo theo những toa tàu nghịch như giặc cỏ là đàn em lít nhít phía sau. Bố công tác xa, mẹ bận đồng áng nghiễm nhiên anh phải chăm lo cho đàn em. Nhà cửa hiếm khi yên ắng, có chăng chỉ là những lúc anh Năm dạy các em học bài. Trong nhà vang lên tiếng đọc a bờ cờ, một cộng một bằng hai, hai cộng hai bằng bốn. Anh Năm lúc ấy là thầy giáo, đứa nào không nghe là chỉ có ăn roi. Cái bảng là mấy cánh cửa đã cũ. Phấn là những cục than nguội lấy trong đống tro bếp. Sáu cánh cửa cũ dày đặc chữ và những phép tính vẫn còn kia kìa các cháu...

- Những cánh cửa kia à bà nội.

- Ừ, đúng rồi đấy. Ông bà cố nội vẫn để lại đó. Còn kia là cái bàn mà ông nội thằng Tí với ông ngoại cái Hạnh chơi trò con rối đánh trận rách cả đũng quần đấy....

- Ôi thế ạ, sao bây giờ bà nội mới kể. Bà nội khôn thật đấy, toàn để dành chuyện hay về sau thôi. Kể đi bà nội, kể đi bà nội...

- Từ từ rồi đâu khắc có đó... Chả là hôm đó, anh Năm đi làm đồng cùng bà cố, bà nội được phân công ở nhà trông đàn em. Ông nội thằng Tí với ông ngoại cái Hạnh hôm đó rất im ắng chơi ở ngoài vườn gần bụi cây nứa. Bụi cây nứa dạo ấy có rất nhiều những cây nhỏ để làm phốc. Nhưng chắc hai đứa đã chán chơi bắn phốc rồi cho nên cứ ngồi kỳ cạch làm một cái gì đấy. Bà nội gọi chúng nó lên ăn cơm không mẹ với anh Năm về lại mắng cho thì chúng nó bảo: Chị cứ ăn trước đi. Tí nữa bọn em lên. Thế là bà nội mới tức mình cầm cái roi bà cố gác trên gác bếp xuống định vút cho mỗi đứa vài cái vào đít nhưng thấy chúng nó mồ hôi, mồ kê nhễ nhại đang cắt những đoạn nứa nhỏ như cái đũa làm thành từng khúc. Hỏi thì nó bảo, bọn em làm con rối tí múa cho chị xem. Cành nứa nhỏ cắt khoanh không khéo rất dễ bị vỡ, cái này vỡ, cái kia vỡ là chúng nó lại làm lại. Cuối cùng thì cũng được một nắm những mẫu nứa nhỏ cỡ dài, cỡ ngắn. Chúng nó lại lấy một cái dây chuối khô, vặn cho chặt lại rồi xâu những mảnh nứa đó lại thành một hình người tay cầm kiếm. Được hai con rối cầm kiếm và cầm đao. Chúng nó bảo: Chị theo em. Thế là chúng dẫn bà nội đến cái bàn uống nước đặt ở giữa nhà. Cái bàn trong nhà ấy, đó chỉ là những mảnh ván ghép lại không khít nhau. Những chỗ không khít nhau đấy chính là chỗ mà hai thằng em bà nội nó luồn cái dây dưới hai chân con rối tự chế vào đấy. Từ chân lên đến đầu con rối mắc ở trên mặt bàn. Cái dây ở dưới gầm bàn. Thế là chúng nó xoạc chân ra, thò hai tay xuống gầm bàn giật giật kéo kéo cái dây. Hai con rối bằng những đoạn nứa nhỏ chuyển động, đánh nhau. Hai thằng tay thì khua dưới gần bàn, mắt thì đảo bên nọ, đảo bên kia, mồm thì ia ha, ây ha, hự, chát, bụp, cheng cheng như là hai đấu sĩ đang đấu kiếm với nhau vậy. Bà nội cũng máu chí hò reo cùng hai thằng, hai tay bà nội cũng khua loạn xạ trên không. Lúc thì đấu sỹ này cố lên, tiến lên. Lúc thì, đấu sĩ kia mạnh bạo vào. Nào, nhảy vào, kiếm đâu. Đấu sỹ này có vẻ sắp thua khi bị đấu sỹ kia ấn kiếm vào cổ. Đến lúc này, đấu sỹ kia mới ngã người rồi bỗng nhiên ngồi bật dậy lia một đường kiếm ngọt bén dưới chân đấu sĩ này làm cho đấu sĩ ngã nhào, giãy đành đạch trên bàn. Bà nội cổ vũ làm cho ông ngoại cái Hạnh tức chí cáu lên giật lấy giật để cái dây làm con rối đứt thìa lìa bắn tung tóe, còn cái quần đùi ống cao ống thấp của nó thì bị xé toạc chỗ đũng do xoạc chân rộng quá, thò cả con chim quả ớt ra. Thế là nó bù lu bù loa: Tại chị cổ vũ cho nó nên em mới thua. Thằng kia phán một câu: Mưu kém, kiếm ẩu. Thua thôi. Thế là thằng kia khóc um lên. Vừa khóc nó vừa lấy tay túm đũng quần vừa đi ra cổng ngồi dưới cây quéo khóc tiếp. Anh Năm về tới cổng chả biết mô tê thế nào lôi hai thằng ra tẩn cho một trận nên thân. Anh bảo, anh em phải bảo ban nhau chứ, chơi thế à. Anh vào nhà quất cho bà nội một trận nên thân, có lớn không có khôn, không bảo ban em lại còn hùa theo. Bà nội và các ông kia khóc như ri. Đúng lúc ấy ông bủ sang chơi, bọn bà mách lẻo thế là anh Năm bị ông bủ đánh cho một trận nên thân: Quân gà đồng kia. Sao mày dám đánh cháu ông. Cút, cút khỏi nhà tao ngay. Bà cố đi làm về thấy vậy chạy lại chào bố chồng rồi kéo anh Năm ra sau nhà, rồi hai mẹ con cứ ôm nhau khóc.

- Sao ông bủ lại bảo ông Năm là gà đồng hả bà nội.

- Vì mọi người nghi anh Năm không phải con ruột của ông cố. Đấy là nỗi đau của cả gia đình đấy các cháu ạ. Anh ấy dù còn nhỏ nhưng đã ngầm hiểu rằng mình bị gia đình ghẻ lạnh nên anh luôn nhận điều thiệt thòi về mình và cố gắng làm vừa lòng mọi người. Anh Năm là người tình cảm, nghĩa tình lắm. Anh ấy không đi học để các em được đi học. Anh Năm bảo, bà cố vất vả rồi, không thể để bà cố vất vả nữa, biết chữ, biết số là tốt lắm rồi. Còn các em phải cố gắng, học thay cho phần của anh nữa. Những bữa cơm đối với gia đình bà nội ngày ấy chẳng bao giờ no. Anh Năm lúc nào cũng là người ăn xong nhanh nhất. Anh bảo, no rồi, các em ăn đi. Nhưng thực chất là anh nhường cho các em được no bụng. Mọi thứ, cái gì anh Năm cũng nhường cho các em hết. Anh Năm thương bà cố lắm. Anh bảo vì sự có mặt của anh ở trên đời này làm bà cố khổ đến muôn chừng khổ. Ngày xưa ông cố bà cố cưới nhau chừng 10 năm mà không có con. Ông cố bị gia đình hối thúc bỏ bà cố nhưng vợ chồng một ngày cũng nên nghĩa làm sao ông cố bỏ được. Bố mẹ, anh em ông cố bày mưu tính kế để vu oan giá họa cho bà cố ăn cắp nhưng đúng lúc ấy bà cố có bầu. Nhà chồng, anh em hàng xóm dị nghị đó không phải là con của ông cố nhưng ông cố không nói gì vì bản thân ông cũng nghi ngờ. Nhưng rồi bà cố đẻ liền cho ông thêm bốn đứa con trai gái đủ cả nên ông cố mới nguôi ngoai nhưng xem ra trong lòng ông cố vẫn luôn coi anh Năm là cái gai trong mắt, là sự phản bội của vợ mình. Lớn lên, anh Năm luôn coi mình là người có tội với mẹ nên cố gắng bù đắp cho bà cố. Năm ấy, hạn hán, giếng nước cạn, bố đi công tác xa, bà cố bảo phải xuống giếng nạo vét thôi. Anh Năm không cho bà cố xuống. Bà cố bảo không sao làm anh Năm khóc sưng cả mắt. Năm ấy suýt nữa bà cố bị chết ngạt, may mà anh Năm nhanh chí xuống giếng kéo bà cố lên đấy. Đấy, cái giếng ở góc vườn mà các cháu bảo nước mát và ngọt đấy. Cái giếng ấy do ông cố và một vài người bạn đào vội để còn kịp chuyến công tác, không có nhiều gạch để kè nên thỉnh thoảng đất xung quanh thành rơi xuống lấp mất mạch nước. Không nhờ vả được ai thế nên bà cố liều mình phải xuống giếng để nạo vét đất lên. Bà cố đi mượn vài cái thang rồi nối chúng lại với nhau bằng những sợi dây chạc buộc bò. Rất nhiều thang nối lại với nhau mới chạm được tới đáy. Bà cố dùng cái xà beng và cái thuổng luồn qua khấc thang đầu tiên trên cùng rồi để ngang qua hai bên tang giếng. Bà bảo: Mấy đứa mỗi đứa đứng một bên giữ chặt cho mẹ. Thằng Năm lúc nào thấy mẹ giật giật dây gầu thì kéo đất lên. Rồi mỏi thì đổi cho nhau. Nhớ chưa. Năm đứa con, đứa nào đứa đấy đứng dạng chân ra, tay bíu chặt lấy hai đầu xà beng, mặt rất căng thẳng. Bà cố lên nhà, lấy một que nhang, châm lửa rồi buộc vào cái gầu thả xuống giếng. Thấy chạm đáy, bà cố để một lúc mới kéo lên. Gầu lên trên vẫn thấy nhang còn cháy. Bà cố bảo: Được rồi. Cứ thế mà làm nhé. Rồi bà cố trèo lên tang giếng dò dẫm lần từng nấc thang đi xuống. Mấy anh em của bà ở trên mãi không thấy bà cố nói gì, đứa nào cũng sợ hãi gọi to: Mẹ ơi... mẹ... Bà cố nói vọng lên nhỏ tí: - Thế nào... Anh Năm nói to: - Mẹ hát lên đi... Bà cố im lặng một lúc rồi hát. Tiếng hát bà cố nghèn nghẹn. Bà cố hát hay lắm, nhất là những bài dân ca. Bà cố ở dưới giếng vừa vét đất, vừa hát: Đêm hôm qua, mình em thơ thẩn í i... Được một lúc bà cố ngừng hát. Anh Năm gọi to không thấy bà cố trả lời. Anh ngó xuống giếng, tối đen như mực. Anh gào lên: Mẹ ơi. Vẫn không động tĩnh gì. Anh bảo: Bọn mày trên này giữ thang để anh xuống. Các em nhìn anh gật đầu mà mặt cắt không còn giọt máu. Mãi mới thấy anh Năm ôm bà cố lên, hô hoán mọi người đến cứu bà cố. May bà cố sống lại. Bầy con ôm mẹ khóc nức nở. Rồi bỗng trời sấm chớp đùng đoàng, mưa rào ập xuống. Thế là giếng lại có nước đấy các cháu ạ.

- Ngày xưa khổ thế cơ à bà nội...

- Ừ khổ lắm chứ con. Đâu được như bây giờ. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nữa. Đấy là bà cố đã gắng sức lắm rồi. Bà cố vẫn thường đi làm đồng từ tinh mơ gà gáy cho đến tối mịt mới về. Bà cố bảo tranh thủ buổi trưa làm cho được việc. Cả đi, cả về mất ối thời gian rồi. Vì thế hôm nào anh Năm cũng dặn em nấu cơm sớm sớm một chút để anh về mang ra đồng cho bà cố. Bà cố lúc nào cũng vội, cũng tất bật nên chỉ rửa qua cái tay rồi một chân đứng dưới ruộng, một chân gác lên bờ xúc vội mấy thìa cơm. Anh Năm lúc nào cũng xơi cơm với thức ăn cho bà cố nhiều hơn phần để ở nhà nhưng bà cố lại cố tình không ăn hết mà để dành lại cho các con. Anh Năm bảo, các em nhìn đôi tay nhăn nheo, cóc cáy vì nước, vì bùn, vì phân của mẹ đi, cố mà học hành chăm chỉ sau này phụng dưỡng mẹ.

- Bà nội ơi, con nhớ có lần bà kể ông Năm vì cứu ông út đã bị lửa làm cháy hết người vì trò nghịch ngợm của bà và mấy ông đúng không ạ...

- Đúng rồi, đúng rồi, làm sao bà nội quên được. Hôm ấy là một ngày hè, cuối tháng 5. Mới sáng sớm mà nắng đã rừng rực, ve kêu inh ỏi. Bà cố và anh Năm đi làm đồng, giao cho bầy con ở nhà mang lúa ra sân hong, cho đàn lợn ăn rồi phơi rơm. Nhưng bà chỉ nhớ mỗi hai việc đầu tiên. Khi hong lúa, cho lợn ăn xong, mấy chị em ra giếng múc nước rửa tay chân. Cái gầu múc nước bằng mo cau bà cố khoanh lại bằng những sợi dây thừng nhỏ được thả xuống cái giếng sâu 20 mét. Mãi bọn bà mới gạn được lưng gầu. Nước giếng sâu nên vừa mát, vừa ngọt. Mỗi đứa uống một ngụm to rồi mới vớt rửa mặt, tay chân. Rửa xong bỗng thằng ông ngoại con Hạnh hét lên: Ôi, con ve sầu chết này. Thế là bốn đứa xúm quanh con ve sầu thương xót. Ông nội thằng Tí và ông Sáu - em út bảo: Phải làm đám ma cho nó. Tất cả đồng thanh: Đúng rồi. Thế là ông ngoại con Hạnh bứt chiếc lá mít, gói con ve sầu chết vào trong, bên ngoài buộc một cọng rơm nếp vàng. Bà chạy vào bếp lấy hai cái vung nồi đen sì mang ra. Ông nội thằng Tí đào một cái hố. Ông Sáu em út lấy rơm đưa vào miệng cắn ra thành từng khúc nhỏ làm nhang. Bốn chị em đứng thành một hàng dọc. Đứa thì nâng trên tay quan tài lá mít trong đựng xác con ve sầu. Đứa thì cầm hai cái vung đen nhẻm giơ lên ngang mặt. Đứa thì cầm nắm rơm được cắt thành từng khúc nhỏ trước ngực, đứa thì cầm cái kèn làm bằng lá chuối rồi đồng thanh cất giọng: Ối giời ơi là giời ôi. Ới ve sầu ơi, là ve sầu ơi. Sao mày lại chết trong cái nắng chang chang thế này... giời ôi... Mày chết đi bỏ bạn, bỏ bè, bỏ cả mùa hè, hè hè hè... Vừa khóc, vừa than, bốn chị em vừa đi theo kiểu tế lễ. Chân đứa nào cũng nhấc cao lên rồi hạ xuống đều tăm tắp. Đứa thì dùng miệng đánh trống tùng, tùng, tùng, đứa thì chu mỏ kêu ò í e, ò í e giống kèn đám ma. Đứa thì dùng hai cái vung đánh vào nhau choeng, choeng, choeng rồi lại gào lên: Ối giời đất ôi là giời đất ôi hồi hồi... Sau khi tế lễ, chập cheng, tùng tùng một hồi thì quan tài được hạ huyệt. Mộ được đắp cao và nhang rơm được cắm xung quanh. Bốn đứa vừa cắm vừa gào khóc rồi tùng, cheng, ò í e... Đứa nào cũng mồ hôi mồ kê nhễ nhại đi vùng quanh ngôi mộ, nhảy múa như lên đồng... Đang phiêu với trò chơi của mình, bỗng ông nội thằng Tí bảo phải đốt nhang thật mới hách. Thế là đốt nhang thật. Đám ma con ve sầu lại làm gần hai cây rơm to. Hai cây rơm lại gần nhà bếp. Nhà bếp lại lợp bằng rơm. Thế là lửa bùng cháy. Chả hiểu sao lúc ấy, ông Sáu em út lại ở trong bếp. Anh Năm về thấy vậy, anh mới lấy áo nhúng nước cuốn vào người rồi chạy vào bếp. Bếp sập. Chị em bà ở ngoài rú lên sợ hãi. Làng xóm chạy sang may cứu được anh Năm và em Sáu nhưng anh Năm bị bỏng nặng và cơ thể bị tổn thương nhiều vì cố lấy thân mình che cho em khỏi bỏng. Phải điều trị mãi anh Năm mới khỏi nhưng cơ thể dị dạng lắm. Gia đình ông cố không ai đến thăm nom anh Năm hết. Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai, năm ấy ông cố lại mắc trọng bệnh, hai quả thận hỏng hết, bệnh viện bảo phải thay. Rồi tự dưng năm ấy, anh Năm cũng bỏ nhà đi biệt tích. Ông cố khỏi bệnh vì có người hiến thận. Ông cố giận anh Năm lắm, bảo là cái loại vô nhân bạc nghĩa, đang lúc bố ốm đau mà nó không tỏ chút tình bao năm cưu mang nuôi nấng mà chăm sóc ông cố lại bỏ đi như thế. Đúng là cái loại gà đồng. Bà cố không nói gì chỉ khóc. Bà nói với bà cố sao mẹ không nói sự thật cho bố con và anh Năm biết. Sao mẹ không nói gì mà cứ để sự việc kéo dài làm cho ai cũng tổn thương. Bà cố hai tay giã trầu, mắt nhìn xa xăm: Mẹ nói rồi, ông ấy không tin. Còn thằng Năm... đi biệt tích rồi... Hãy cứ để như thế thôi... đừng khuấy làm gì... mặt nước vẫn đang phẳng lặng... Bà không đồng ý với lý giải đấy của bà cố vì kéo theo đó là những đau khổ, những hận thù không đáng có. Mặt nước phẳng lặng thật nhưng sâu trong lòng nó là những con sóng đang muốn trào lên. Thời gian cứ thế bình thản trôi, ông cố bà cố đều già yếu. Bà nội và các ông cũng đã trở thành ông thành bà. Anh Năm vẫn chưa trở lại. Sự mong chờ làm cho bà cố khóc mỏi mòn đến mờ hai con mắt, đến câm lặng ngay cả trong suy nghĩ. Rồi ông cố yếu dần, trước khi qua đời, ông cố nói với với các con rằng, ngày ấy thầy cũng không biết  thằng Năm có phải là con mình hay không. Mẹ con nói nó là con thầy nhưng thầy vẫn chưa tin vì nghĩ chẳng có điều chi kiểm chứng. Nhưng mà... ông cố khóc... nhưng mà... nó thực sự là con đẻ của thầy... Nó đã cứu thầy... Chính nó là người hiến thận cho thầy đấy... hức hức... Khi khỏi bệnh thầy đã đến bệnh viện tìm hiểu ai là người hiến thận cho mình. Bệnh viện bảo người ấy yêu cầu được giấu tên tuổi địa chỉ. Nhờ vả mãi thầy mới biết được và lúc ấy thầy mới biết Năm là con ruột của thầy. Thầy chỉ hối hận trước khi chết chưa nói được lời xin lỗi với nó. Khi thầy, mẹ không còn trên cõi đời này nữa, thầy xin các con hãy giữ lại nguyên vẹn ngôi nhà này... để nếu lỡ anh con có về... Thầy xin lỗi con... Năm ơi... Ông cố ra đi còn mang theo nỗi đau đớn tột cùng khi hòn máu của mình bị chính mình đày đọa và nay không biết đang phiêu bạt phương trời nào. Thời gian sau đấy, bà cố cũng đi theo ông cố về với tổ tiên. Còn anh Năm vẫn chưa trở lại, vẫn bặt vô âm tín... không biết anh ấy có trở về không...

- Bà nội ơi, chắc ông Năm sẽ về thôi. Người tốt thì luôn gặp điều may mắn mà bà.

- Ừ, ừ, đúng thế... đúng thế... sẽ về... sẽ về thôi...

Bẵng đi một thời gian dài, sức tôi cũng đã yếu, các cháu cũng đã trưởng thành. Tôi nhớ anh Năm đến quay quắt. Tôi bảo các con cho mẹ về quê. Các con bảo mẹ yếu rồi, về quê làm gì, ở đây tiện cho chúng con chăm sóc. Căn nhà ấy chúng con vẫn giữ gìn, đợi bác Năm trở về, mẹ yên tâm. Nhưng tôi cứ nằng nặc đòi về. Về được dăm hôm thì anh Năm của tôi cũng về. Tôi ôm anh thật chặt mà chẳng thể khóc nổi. Em đã gặp anh rồi. Em gặp anh Năm như thế này a... anh chỉ còn lại... một nhúm tro a...

                                             N.T.H.C


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.