NỘI DUNG CHI TIẾT
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
8/14/2012

Trong các sáng tác của Hồ Chí Minh, ngoài giá trị nhân văn chung còn có những đặc trưng phẩm chất về một chủ nghĩa nhân văn mới thể hiện mức độ quan tâm đến thân phận con người cùng khổ, con người bị áp bức. Những đặc trưng phẩm chất này cũng là những đặc trưng của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói chung, nhưng với những sáng tác của Người, nó nổi lên như bản sắc tinh thần mang sắc thái riêng của Người.



Nếu nói như Mác: “Tài sản của tôi - đó là cái hình thức cấu thành bản sắc tinh thần của tôi”, thì đối với Hồ Chí Minh, bản sắc tinh thần ấy, chính là sự quan tâm đến con người, suy nghĩ về thân phận con người, phản ảnh phẩm chất nhân văn mang sắc thái riêng trong các sáng tác của Người. Để thấy rõ bản sắc tinh thần thể hiện trong các sáng tác của Hồ Chí Minh, ở bài viết này, chúng tôi chỉ nêu ba đặc trưng cơ bản nhất:



1. Phẩm chất trí tuệ hướng về một xã hội công bằng,  nhân ái, văn minh là một đặc  trưng nổi bật của chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh.



Trong sáng tác của Hồ Chí Minh từ Bản án chế độ thực dân Pháp đến  Truyện và ký, đặc biệt là Nhật ký trong tù đều có giá trị hiện thực sâu sắc, ở chỗ nó tố cáo những tội ác dã man nhất của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Nhưng, không chỉ phản ảnh hiện thực, lên án một cách gay gắt và sâu sắc cái xã hội phi nhân bản của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc; quan trọng hơn là những sáng tác của Hồ Chí Minh thuộc bất cứ thể loại nào đều mang phẩm chất trí tuệ hướng về một xã hội công bằng, nhân ái, văn minh. Ngay từ bản Yêu sách của nhân dân An Nam nổi tiếng, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận thế giới có hai mặt: mặt Dã man và mặt Văn minh và tin rằng Văn minh nhất định sẽ thắng Dã man.



Tiếp theo sau đó, phẩm chất trí tuệ ấy của Hồ Chí Minh ngày càng tỏa sáng, không chỉ thể hiện trong hoạt động cách mạng mà còn thể hiện rõ ràng, nhất quán trong những sáng tác của Người. Đó là phẩm chất trí tuệ hướng về một xã hội công bằng, nhân ái, văn minh, tạo nên một đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh.



Phẩm chất trí tuệ là một giá trị không thể thiếu đối với mọi sáng tác văn học nghệ thuật và văn hoá nói chung. Hầu như không có một sáng tác nào được xem là tiêu biểu, có giá trị và hấp dẫn người đọc lại không có phẩm chất trí tuệ ở mức độ nhất định. Những tác phẩm lớn của các nhà văn nổi tiếng ở nước ta cũng như trên thế giới, đều lưu lại ở người đọc một suy tư nhất định về phẩm chất trí tuệ, phản ảnh tầm nhìn và năng lực tư duy sáng tạo của nhà văn về một vấn đề nào đó của cuộc sống. Đó cũng chính là ý nghĩa khái quát hiện thực cuộc sống mà tác phẩm mang lại cho người đọc.



Từ đó, có thể nói, mọi phẩm chất trí tuệ đều có giá trị nhân văn nhất định, nhưng không phải phẩm chất trí tuệ nào cũng có giá trị nhân văn như nhau và giống nhau. Những sáng tác của Hồ Chí Minh thuộc bất cứ thể loại nào cũng có phẩm chất trí tuệ gắn liền với giá trị nhân văn. Giá trị nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh phản ảnh một triết lý cuộc sống hướng con người tới hành động vì độc lập, tự do, vì một xã hội công bằng, nhân ái, văn minh theo hướng có thể mang lại hạnh phúc thật sự cho con người.



Với Bản án chế độ thực dân Pháp, chúng ta có thể thấy đầy ắp những sự kiện, những mẩu chuyện phản ảnh tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, nhưng sau những sự kiện và mẩu chuyện đó là tư tưởng mang tính triết lý sâu sắc hướng người đọc đến hành động phê phán và đấu tranh với cái xã hội dã man vô nhân đạo ấy. Đó còn là triết lý mô tả chủ nghĩa tư bản khi đã trở thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm các dân tộc thuộc địa như con đỉa có hai cái vòi một cái vòi hút máu người dân ở chính quốc và một cái vòi khác hút máu các dân tộc thuộc địa, do đó muốn tiêu diệt nó phải đồng thời tiêu diệt con đỉa bằng hành động cách mạng của cả hai phía như con chim có hai cánh. Từ triết lý đó, Hồ Chí Minh đề ra chiến lược cách mạng cho cả các dân tộc thuộc địa và cả các đảng cộng sản ở chính quốc. Đó là chiến lược cách mạng của chủ nghĩa quốc tế trong sáng hướng giai cấp vô sản toàn thế giới đến hành động thống nhất chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.



Sau này, khi chủ nghĩa đế quốc bộc lộ rõ bản chất hung bạo của nó đối dân tộc ta, Hồ Chí Minh còn khái quát thành một triết lý có ý nghĩa chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó rõ ràng là một sự khái quát sâu sắc nhất một chân lý mang tính thời đại của thời kỳ chống chủ nghĩa đế quốc toàn cầu, vẫn còn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa thời sự cho đến hôm nay, khi loài người đã bước vào nền văn minh mới của thế kỷ XXI. Với triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, Hồ Chí Minh đã hướng con người đến một xã hội mới thực sự dân chủ, thực sự văn minh, phản ảnh quyền tự quyết bình đẳng và ý chí giành tự do của các dân tộc. Với triết lý ấy từ nay mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình trên cơ sở bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Đó chính là ý tưởng đầu tiên và trước tiên về một chủ nghĩa nhân văn mới hướng con người có cơ hội phấn đấu cho một xã hội công bằng thật sự, coi sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người, của toàn xã hội nói chung.



Bên cạnh tư tưởng mang tính triết lý sâu sắc nêu trên, chúng ta còn thấy trong sáng tác của Hồ Chí Minh những tư tưởng giáo dục con người về lối sống, cách sống có ý thức nhân văn, có tinh thần nhân ái, biết sống vì người khác, vì đồng loại đau khổ.



Hầu như ở đây, thông qua Nhật ký trong tù chúng ta thấy khi mất tự do, con người lại tìm thấy ánh sáng của tự do và từ ánh sáng tự do ấy, con người có những suy nghĩ đúng đắn về sự sống và cái chết, về tình người và tình cảm đối với quê hương đất nước, về giá trị của tự do và ý nghĩa cuộc sống, về cái đẹp thiên nhiên, nghệ thuật và vai trò của người nghệ sĩ...



Cái vĩ đại của Hồ Chí Minh trong Nhật ký trong tù là ở chỗ, Người đã cho người đọc thấy giá tri tự do cả khi không có tự do, giá trị của sự sống khi con người trên bờ vực của cái chết, giá trị của cái đẹp khi con người phải chứng kiến những cái xấu nhất, giá trị của cái thiện khi con người thấy rõ cái ác, giá trị của cái tốt khi con người thấy biết bao điều xấu xa... Hầu như, đó là một nghịch lý, nhưng lại là điều rất có lý trong cuộc sống; chỉ có điều là cái có lý ấy chỉ có ở những con người có lý tưởng sống, có hoài bão về một thế giới văn minh sẽ thắng dã man, nghĩa là con người bất khuất và bất tử như Hồ Chí Minh.



2. Một đặc điểm nổi bật khác trong sáng tác của Hồ Chí Minh là hướng con người về phía tích cực, luôn tạo ra tình huống tích cực.



Gần như suốt cả quãng đời sống và hoạt động ở nước ngoài, cho đến trước khi về nước, Hồ Chí Minh phải sống trong cảnh thiếu thốn mọi thứ, thiếu cả tự do, khiến cho con người bị dồn nén vào khung cảnh tiêu cực của thế giới. Với một con người bình thường, khi phải sống như thế, khó tránh khỏi cái nhìn tiêu cực, chỉ thấy thế giới toàn màu xám, thấy con người ở phía phản diện. Nhưng với Hồ Chí Minh thì ngược lại. Sống trong cảnh không lạc quan, Người lại luôn hướng con người vào phía lạc quan. Sống trong cảnh con người với người không còn tính đồng loại, Hồ Chí Minh lại nghĩ đến một thế giới đại đồng, người với người là bạn. Sống trong cảnh phải chứng kiến những hành động dã man bỉ ổi, Hồ Chí Minh lại luôn nghĩ đến mặt tốt của con người... Và, có thể nói, chính là nhờ thấy mặt thiện, mặt tốt, mặt tích cực, mặt lạc quan... của cuộc sống và con người, Hồ Chí Minh mới đủ can đảm để sống và chiến đấu trong cảnh hầu như đơn độc, không chỉ đơn độc trong chốc lát mà trải qua nhiều thập niên ở xa Tổ quốc, xa quê hương, xa đồng bào mình.



Với Hồ Chí Minh, hầu như lạc quan là định hướng chủ đạo của cuộc sống cũng như của sáng tác văn học nghệ thuật; nếu không có lạc quan, không vì lạc quan thì có lẽ không mấy ai muốn sống hoặc có sống cũng không có lý tưởng gì, sống cũng như chết. Vì thế, Người luôn luôn nhìn đời và nhìn người theo hướng tích cực, nghĩa là luôn tìm thấy mặt tích cực của mỗi con người và hướng con người theo cách nghĩ và viết một cách tích cực. Có lẽ vì thế, từ cuộc sống lúc đầu đơn độc. Người đã tìm được những người bạn đồng hành, đồng chí, những người có chí hướng và tinh thần đấu tranh trên khắp thế giới.



Từ đó, Hồ Chí Minh tìm thấy lẽ sống con đường phải đi và đến với sự nghiệp cách mạng mà mình theo đuổi. Đó chính là một mặt hết sức quan trọng trong cuộc sống mỗi con người. Chính cái nhìn lạc quan, thấy cho hết mặt tốt, mặt tích cực của con người, người ta mới có thể tu dưỡng cho mình một cách sống tin vào con người, vì người khác và luôn nghĩ đến hành vi nhân văn trong cuộc sống. Hồ Chí Minh là con người như thế và Người luôn mong muốn con người như thế. Do đó, trong sáng tác của mình, Người đã thể hiện rất rõ định hướng lạc quan, nhìn mặt tốt, mặt tích cực của con người, bắt đầu từ cách viết văn.



Về cách nhìn người, Hồ Chí Minh cũng luôn căn dặn phải thấy con người có hai mặt: mặt tốt và mặt xấu và luôn khơi dậy mặt tốt của con người. Nhưng, trong sáng tác của Người thì hầu như ít được nói hơn về một đặc trưng thuộc phẩm chất nhân văn của Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện ở chỗ, khi phản ảnh mặt xấu nhằm lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt hy vọng vào mặt tích cực của con người và tin rằng con người sẽ chiến thắng, văn minh sẽ thắng dã man.



Với nhân dân, Hồ Chí Minh luôn thấy sự dồn nén, áp bức càng tạo ra cách mạng, tạo ra sức mạnh ghê gớm như những bài viết của Người về Đông Dương. Từ đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã thấy người Đông Dương nói chung, người Việt Nam nói riêng đã có một sức mạnh ghê gớm và tin rằng khi thời cơ đến sức mạnh ấy sẽ bùng nổ một cách mạnh mẽ, thì phải nói, đó là một tầm trí tuệ lỗi lạc, chỉ có thể thấy ở những con người có tấm lòng nhân ái tuyệt vời với cái nhìn luôn hướng về phía tích cực như Hồ Chí Minh. Ngay cả đối với những người gặp hoàn cảnh không bình thường, Hồ Chí Minh cũng luôn có thái độ khoan dung, nhìn mặt tốt của họ và sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của họ khi họ tự thấy.



Tóm lại, có thể nói, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng thấy cả hai: mặt cách mạng và phản cách mạng, tiêu cực và tích cực, tốt và xấu..., và luôn hướng con người về phía cách mạng, phía tích cực, phía tốt của con người. Đó là một nguyên tắc sống và cũng là một nguyên lý trong sáng tác của Hồ Chí Minh.



3. Hướng về mục tiêu giải phóng con người cùng khổ bị áp bức là một đặc trưng nổi trội thuộc bản chất chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh.



Nói về cuộc đời thì đã quá rõ ràng là Hồ Chí Minh chỉ có một mục tiêu như điều ham muốn tột bậc mà Người đã từng nói. Đó là mục tiêu giải phóng con người bị áp bức đồng thời mang lại cho những con người bị áp bức ấy một cuộc sống ấm no, hạnh phúc có thật trên đời.



Song, điều chúng ta muốn nói ở đây là mục tiêu giải phóng con người cùng khổ, con người bị áp bức trong sáng tác của Người. Đó là một đặc trưng nổi bật về chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh. Cho nên, nếu nói văn học là “nhân học” thì khái niệm “nhân học” trong sáng tác của Hồ Chí Minh cũng rất khác với rất nhiều tác phẩm có trước ở nước ta cũng như trên thế giới. Hướng về con người và xem con người là mục tiêu của sáng tác, song Hồ Chí Minh không hướng về con người chung chung mà là con người có thân phận thấp hèn, con người bị áp bức, con người cùng khổ và tìm cách giải phóng cho họ, đưa họ từ đối tượng cách mạng thành động lực của sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp. Tóm lại, Hồ Chí Minh không chỉ là người có lý tưởng giải phóng con người mà chính Người muốn tạo nên những con người tự giải phóng cho mình, tự mình đứng lên vũ đài lịch sử để giải phóng xã hội, hướng đến một xã hội tự do, công bằng, nhân ái, văn minh.



Hầu như, trong bất cứ sáng tác nào của Hồ Chí Minh, chúng ta cũng thấy nổi bật hình ảnh những người bị áp bức, mất tự do, những người nô lệ. Bản án chế độ thực dân Pháp thì đó là hình ảnh những con người cùng khổ nhất, những nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Đương nhiên, ở đây, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, chúng ta cũng thấy nổi lên một loại người khác, đó là những tên thực dân, những tên quan lại, những kẻ bất lương không thể kể xiết... tức là những nhân vật phản diện. Song, với việc mô tả hình ảnh những con người xấu xa đó, Hồ Chí Minh muốn lên án cái xã hội đã sản sinh ra những kẻ áp bức bóc lột nhằm nêu bật những con người cùng khổ cần được giải phóng. Vấn đề không phải ở chỗ tác phẩm miêu tả loại người nào mà chủ yếu là ở thái độ của tác giả đối với những nhân vật được miêu tả. Với các sáng tác của Hồ Chí Minh, đối tượng chủ yếu là những con người cùng khổ, con người bị áp bức, những con người cần được giải phóng, đó mới là điều quan tâm đặc biệt của Người, là phản ảnh bản chất nhân văn của tác phẩm.



Cũng như Bản án chế độ thực dân Pháp, trong Truyện và ký, Hồ Chí Minh cũng phản ảnh những con người bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn nhất bên cạnh những kẻ bất lương của xã hội thực dân và phong kiến. Cả trong Nhật ký trong tù, chúng ta cũng thấy nổi bật hình ảnh con người mặt tự do của chính tác giả và những người bạn tù. Đó là một đặc trưng về chủ nghĩa nhân văn mới, chủ nghĩa nhân văn mác-xít mà Hồ Chí Minh đã thể hiện đậm nét trong các sáng tác của mình. Từ hình ảnh những con người cùng khổ bị áp bức, chúng ta thấy toát lên trong mỗi tác phẩm của Hồ Chí Minh một nhu cầu giải phóng, một năng lực sáng tạo của con người và một chủ nghĩa nhân văn mới khác về chất so với các loại chủ nghĩa nhân văn có trước.



*



Chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Hồ Chí Minh là một vấn đề lớn, một nguồn cảm xúc lớn có thể chưa được khai thác hết. Trong rất nhiều bài viết nghiên cứu về thơ, văn và cả văn chính luận của Hồ Chí Minh, chúng ta đều thấy đề cập đến chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Người. Nhưng nói rõ những nội dung, đặc điểm và bản chất của chủ nghĩa nhân văn ấy là gì thì hầu như còn mờ nhạt, khó khăn còn là một ẩn số. ở đây chúng tôi hy vọng và cũng chỉ là hy vọng nói lên những điều chưa được nói hết, nhưng quả là không dễ dàng, chỉ cảm thấy mà chưa diễn đạt được thật rõ ràng những điều mình nghĩ. Phải chăng đó cũng là tình trạng chung khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh, bởi lẽ có thể là tầm suy nghĩ của chúng ta còn chưa tương xứng với Người. Cũng có thể bởi lẽ nhiều dấu ấn sáng tạo của Hồ Chí Minh còn chưa được khám phá hết mặc dù chúng ta đã hết sức cố gắng.



                                                       T.D




HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.