NỘI DUNG CHI TIẾT
Suối Nàng La thôi sóng
6/25/2019

 

                                                               Truyện ngắn của Trần Thị Phương Thanh

 

Đứng dưới chân quèn nhìn lên, hai trái núi như hai người khổng lồ ngồi xây lưng vào nhau lừng lững giữa trời xanh. Ngọn nhô cao hơn có dáng người đàn ông búi tó, dân bản gọi núi Ông. Ngọn thấp, giống hình người đàn bà chít khăn mỏ quạ, dân bản gọi núi Bà.

Xa xưa truyền lại: Lúc trẻ, Ông Bà sống vui vẻ, thương yêu thuận hoà. Đó là những triệu năm gió nhẹ, trời trong bốn mùa yên bình mưa nắng. Rồi tự lúc nào họ đâm trái tính hay hục hoặc, cãi vã nhau. Những lúc đó gió gào, mưa đổ, đất đá mịt mù, cây cối ngổn ngang. Đang kề đầu, ấp má, bỗng Ông Bà rùng mình ngoảnh mặt xây lưng - hoá thành Cổng Trời. Hoặc giả đến buổi xế chiều, người già nào (dẫu là sắt đá) rồi cũng sinh trái tính, trái nết làm vậy chăng!

Cạnh núi Ông có con đường nhỏ dẫn từ vực Xoáy dưới chân đèo hút lên là đường Cổng Trời. Cạnh núi Bà cũng dẫn từ vực Xoáy song song với đường Cổng Trời là suối Nàng La.

Đường Cổng Trời chỉ là một lối mòn, người và thú rừng đi nhiều, đi mãi mà thành. Nhưng đường Cổng Trời vừa cao, vừa xa chừng đến mấy quăng dao, từng đoạn lại có lối rẽ sang đôi ba ngôi nhà sàn của dân bản người Dao Tiền, khi thì bám vào núi Ông, lúc lại đeo đẳng bên sườn núi Bà.

Không biết đã bao đời ông bà, con cháu họ đã sống chết ở đây. Cây rừng cũng thế, không biết đã bao lớp mọc rồi đổ, đổ rồi lại mọc... Cây lớn, cây bé, cỏ dại, dây leo... quấn lại thành rừng.

Còn suối Nàng La thì hội nước rỉ rả quanh năm từ núi Ông, núi Bà hoá nên. Suối Nàng La không rộng nhưng nước trong. Nó giống con bạch xà khổng lồ uốn mình từ Cổng Trời đổ về Vực Xoáy. Đến Vực Xoáy nó phình ra thành một đầm sâu rồi chẽ thành 2 nhánh, xuôi mãi.

Trong Vực Xoáy duy nhất có một loài cá - cá dầm đất. Cá dầm đất trông tựa cá giếc dưới xuôi nhưng đen và dài hơn. Nó rất nhát, thoáng bóng người là chui tọt vào hang. Phải là người giỏi lặn, khéo mò mới bắt được chúng.

Cá dầm đất và suối Nàng La là cả một huyền thoại.

Dạo xưa, mấy năm liền trời làm đại hạn, các khe suối từ núi Ông, núi Bà thường rỉ rả những dòng nước cho dân bản ăn uống và trồng trọt đã cạn kiệt. Đói và khát buộc các gia đình lần lượt bỏ sàn kéo nhau đi tìm nguồn nước ở các khe thung, vách núi khác. Bố chết sớm, em nhỏ, mẹ ốm nặng, Nàng La không thể cõng mẹ địu em đi theo dân bản. Nàng đành suốt đêm leo ngược Cổng Trời tìm nước. Sáng ra lên đến Cổng Trời chỉ thấy cây lá rũ rượi, đất đá cong queo. Toàn thân bê bết máu, nàng La khụy xuống cạnh núi Bà ai oán khóc. Núi Bà rùng mình quay lại.

- Ơ này lão khùng! Có bảo con bé nín đi không! Nẫu ruột quá! - Tiếng Bà âm âm vang ba sông bảy núi.

- Ơ hơ bà điên! Sao bà không dỗ lấy nó! Lại phải nhờ cậy lão! - Tiếng Ông cũng ì ì bẩy núi chín đèo.

Bà đẩy cho Ông, Ông lại đùn cho Bà. Dăm ba lần qua lại, sấm chớp đùng đùng vang trời rạch đất. Mặc cho giông gió thét gào, nàng La cứ khóc, khóc mãi. Nước mắt nàng thấm vào đá - đá chảy thành nước. Nước mắt nàng rưới vào cây - cây chẩy thành nước... khóc mãi, cho đến lúc cả thân thể nàng cũng tan thành nước... Nước từ đá, từ cây, từ thân thể nàng La ào ào đổ xuống như tấm lụa bạch từ Cổng Trời vắt tới chân đèo.

Nước bào mãi, dồn mãi chân đèo phình rộng thành Vực xoáy. Suối Nàng La cũng sinh ra từ đó. Vực Xoáy cũng sinh ra từ đó. Cá dầm đất sống trong suối này, có người bảo là gan ruột nàng La hoá thân nuôi sống mẹ và em cùng dân bản. Có người lại bảo là trò giải buồn của Ông Bà. Thỉnh thoảng Ông Bà lại đua nhau gẩy ghét gú từ thân thể họ xuống dòng suối trong kia để xem nó có vẩn đục lên chăng? Thế nhưng vụn nào chạm xuống mặt suối liền hoá thành cá dầm đất. Đó chính là sự linh ứng từ linh hồn và thể xác của Nàng La làm ra vậy.

Lúc đầu cá dạn người, dễ bắt, sau này dân bản lạm dụng bắt giết nhiều, cá mới sinh ra nhát như vậy.

Nằm giữa vòng cung của hai nhánh suối Nàng La có một ngôi làng người Kinh. Mấy trăm năm trước, vì trốn nạn “chu di tam tộc” mấy dòng họ đã chạy lên đây ẩn náu. Ban đầu họ lẩn khuất vào rừng sâu hang thẳm, lâu sau mới rời xuống chân đèo lập làng. Bởi sống giữa vòng cung của suối Nàng La nên làng có tên La Xá. Làng La Xá có 4 dòng họ Tiêu, Lạc, Cung, Trình với sáu chục nóc nhà và hơn ba trăm dân cư sinh sống. Bốn dòng họ của La Xá, như có quy ước, tự phân chia mấy nghề kiếm sống. Họ Lạc họ Cung dựa vào rừng Ông, rừng Bà mà tìm kiếm lâm sản và săn bắt thú rừng. Họ Tiêu chuyên trồng trọt và tìm hái cây thuốc rừng cung cấp cho mấy người buôn bán thuốc chợ xuôi. Riêng họ Trình đã bao đời theo nghề giáo học. Con gái Trình thị chuyên trồng tỉa, thêu thùa và đan lát thổ cẩm. Con trai Trình thị, người không đỗ đạt thì ngồi dạy học tại làng hay đi làm gia sư cho những làng lân cận. Người đỗ đạt dứt khoát không ra làm quan, chỉ nhận làm hương sư hoặc giáo học cho những trường huyện, trường phủ khác.

Bố tôi họ Trình, mẹ tôi họ Tiêu đều là con em La Xá. Mẹ tôi đã tốt nghiệp bác sỹ, về chữa bệnh ở bệnh viện huyện. Bố tôi tốt nghiệp kỹ sư xây dựng hiện làm trưởng phòng thiết kế của Sở Xây dựng tỉnh nhà. Các bậc trưởng thượng trách bố tôi là đã “Nhận chức sắc, đi ngược với lời nguyền của tổ tiên”. Bố tôi cãi “Làm trưởng phòng không phải quan lại, cũng như anh thợ cả thôi”! Các cụ lại hạch “Sao không mở trường dạy nghề?” Bố tôi im lặng. Rồi có lúc bố bảo với mẹ “Các cụ có lý đấy! Không phải bảo thủ đâu! Suy cho cùng, hiện đại đến đâu cũng có thể dung hoà với truyền thống được!”.

Bố mẹ tôi thường băn khoăn về chuyện cô út nhất. út Dung đã ngoài ba mươi vẫn chưa lấy chồng. Mà cô cũng là cô gái xinh xắn, ưa nhìn lại hiền hậu nữa. Sau khi cô tốt nghiệp Đại học Sư phạm, có mấy đồng môn ngấp nghé, cô vẫn chối từ để đăng ký học tiếp Đại học văn hoá. Mẹ tôi lắc đầu “Chẳng biết em ông nghĩ thế nào mà chỉ miệt mài học”. Thế rồi ông bà lần lượt qua đời, cô về nhà trông nom nhà cửa và hương khói cho các cụ. Cô xin dạy ở một trường THCS. Kể với trình độ của cô là hơi phí. Nhưng thấy cô chẳng ca thán gì, bố mẹ tôi cũng lơ đi. Đã muộn càng thêm muộn, nhưng dưới con mắt tôi, cô vẫn trẻ trung và hấp dẫn nữa, chứ không đến nỗi “già” như suy nghĩ của bố mẹ tôi.

Dạo ấy, thích nhất là những lần tôi được thầy Thức cho ra Vực Xoáy bắt cá dầm đất. Đứng trên bờ vực nhìn ra, mái đầu đen trũi của thầy Thức lúc nhô lên, lúc ngụp xuống. Tiếng cười của thầy vỡ toang trên mặt nước.

- Kha... kha... hai chú nữa này Long ơi!

Hai chú cá dầm đất từ giữa Vực bay vọt về phía tôi. Tôi lanh lẹn túm lấy nhét vào chiếc giỏ đeo sẵn bên hông.

Thoáng đó đã mười năm, chỉ hai tháng nữa chàng trai Trình Văn Long tôi sẽ bước vào giảng đường đại học. Thi bách khoa dư 2 điểm, tuần sau tôi được thưởng một chuyến du lịch Vịnh Hạ Long cùng bố mẹ.

Hôm đám cưới út Dung, tôi bận thi học sinh giỏi, không thể về dự. Bố mẹ tôi trở ra lại có những nhận xét trái ngược. Mẹ thì bảo “Đó là mối duyên trai goá vợ - gái lỡ thì - được chăng hay chớ!”. Bố lại lắc đầu “Đó là mối tình có yêu, có thương và thấm đượm nhân ái - rất bền chắc!”. Lâu lắm không gặp hai người, tôi chưa dám đưa ra nhận định gì. Tôi chỉ nghĩ, hơn nhau mươi lăm tuổi có gì là khoảng cách lớn. Người tỉnh, kẻ quê chẳng phải là rào ngăn! Đổ bể một gia đình không phải là đã mất hết nền tảng!

Năm xưa, những buổi ngoại khoá vượt cổng trời, vào rừng phân loại cây, ươm hạt ghép cành, ra suối bắt cá dầm đất... với thầy đã làm cho tâm hồn thơ bé của tôi ý vị biết bao nhiêu! Thầy Thức là một thanh niên vui, khoẻ, ở ngoài lớp rất hoà nhã, nhưng khi đã đứng trên bục giảng lại rất nghiêm túc. Tôi có tật viết chữ xấu, sửa mãi không được. Lúc chú tâm còn khá, ngơi ra chữ lại ngửa ềnh, trông thật ngộ. Mà tuổi thơ tôi, chú tâm thì ít, chểnh mảng lại nhiều. Bởi vậy suốt ba năm rèn chữ cũng chỉ khá lên chút chút. Có lần thầy bắt tôi ngửa bàn tay phải ra, vút cho một thước kẻ rõ đau rồi dằn giọng “Nét chữ - nết người! Phải sửa - không sau này làm nên lại coi người bằng nửa con mắt đấy”!

Bữa đó, thầy bắt tôi về nhà chép đủ 10 trang phê đúp với dòng chữ “Nét chữ - nết người” ấy. May có dì út đỡ cho mấy trang, tôi mới kịp nộp. Thầy cầm mấy tờ do út Dung viết rồi mỉm cười: “Đây là của út Dung, chữ đẹp chân phương, tròn trịa thế này, đố lẫn, từ năm đầu dạy học, đã có em nào viết được thế này đâu, thật quý hiếm!” Không biết vì lẽ gì thầy cũng cho qua không bắt tôi viết thêm tờ nào nữa.

Sinh ra ở núi rừng, ngoài một số loài cây thông dụng đứa nào cũng biết, còn thì mù tịt. Cả thứ bẩy ngoại khoá chúng tôi cơm nắm, nước bương mang theo, đi sâu vào rừng. Thầy chỉ cho chúng tôi thế nào nấm lành, nấm độc, cây nào cùng giống, cùng loài, đâu là lim, chẹt, đâu là đinh, hương, đâu là chò nâu, chò chỉ...

Mệt nhất nhưng cũng thú vị nhất là những lần được leo ngược cổng Trời. Vừa đi thầy vừa kể cho chúng tôi nghe huyền thoại suối Nàng La, cá dầm đất, truyền thuyết núi Ông, núi Bà và Cổng Trời. Đứng giữa Cổng Trời thầy nghiêm trang nói:

“Đường lên Cổng Trời thật gian nan, nhưng không thể so sánh với con đường kiếm tìm kiến thức các em ạ!” thầy lội suối bắt cá dầm đất, đem lên xát muối bọc lá dong, nướng trên ngọn lửa cây rừng. Cái vị thơm, bùi, ngọt đặc trưng của cá dầm đất chế biến kiểu này, đến nay tôi chưa có một lần được thưởng thức món nào ngon và tinh khiết đến vậy.

Cuối năm học THCS lại nghe tin buồn của gia đình thầy, buồn lắm! Nhưng còn nhỏ tuổi, chẳng biết giúp gì cho thầy tôi...

Năm ấy, có anh chàng cán bộ trên tỉnh về thu mua lâm sản ở xã tôi. Đó là một trung niên đẹp trai, đi xe máy xịn, mắt nhìn nửa sáng, nửa tối. Các cô gái khác thì lánh xa, riêng cô Lài - vợ thầy Thức ra chiều săn đón, chiều chuộng hắn, lại còn cho hắn ở trọ suốt vụ. Thời gian này thầy Thức đang lên dạy tăng cường cho mấy bản người Dao trên núi, cả tháng không về. Cuối vụ thu mua, cô Lài cuốn theo hắn đi biệt để lại thằng Chí 9 tuổi và thằng Tri 6 tuổi.

Buồn nỗi vợ bỏ đi chưa được bao lâu, thầy lại đau nỗi đau Chí, Tri đột ngột giã biệt thầy, thầy đổ bệnh nằm liệt.

Giống như bố, Chí, Tri bơi lội giỏi. Nhìn ba cha con vùng vẫy giữa Vực Xoáy ai cũng thích mắt. Chiều ấy, như thường lệ Chí, Tri đưa nhau ra vực tắm, không may lũ quét tràn về không kịp lên bờ, chống đỡ mãi, đuối sức chúng đành để lũ cuốn đi. Thầy Thức được tin từ trên bản hối hả chạy về cùng dân làng xuôi mãi ra gần cửa sông mới vớt được xác chúng.

Mặt trời đỏ ké khuất dần trên đỉnh núi xa, chùm nắng cuối còn kịp vuốt dài bóng hai người vươn qua Vực Xoáy. Nhìn từ phía sau, cô gái tóc dài thanh mảnh đang ngả vào vai người đàn ông vạm vỡ. Tôi chững bước bên một lùm ô zô gần đó - Đúng là thầy và cô rồi.

- Bạn bè cứ bảo em: học hành như mày mà phải dạy một trường THCS miền núi thì thật là phí - còn anh có nghĩ thế không?

- Phí là phí thế nào? Đôi ba năm nữa mấy xã vùng núi này đủ mở một trường THPT, chả lẽ bê tất giáo viên vùng xuôi lên đây chắc! Không phải anh ích kỷ, muốn giữ em bên mình đâu! Tương lai là như vậy, còn em?

- Em là trò của thầy, thầy sao thì trò vậy chứ! Cô tôi rúc đầu vào ngực thầy, tiếng cười ngọt và trong của cô làm cho cây rừng tươi tắn thêm, dòng suối trong veo hơn?

Thầy giơ tay vuốt mái tóc dài của cô, giọng lưỡng lự.

- Hè này, anh định ngược núi lên dạy song ngữ cho đồng bào Dao (cả người lớn lẫn trẻ con đấy) không biết ở nhà một mình em có buồn không?

Cô tôi ngồi thẳng lên, hai tay áp vào má thầy, xoay mặt đối diện, đôi mắt hiền của cô sáng lên.

- Em không ở nhà một mình đâu? Cho em đi, cùng học, cùng dạy nữa cơ! Gật đầu đi nào! Không em bắt đền đấy! Đi anh!

- Vâng vâng! Xin chấp hành thưa bà hiệu trưởng.

Họ choàng lấy nhau, tiếng cười trộn vào xoắn xuýt... vừa chắc, vừa trong loang trên Vực Xoáy yên tĩnh.

Từ trên cổng Trời, mái Ông mái Bà chợt chụm vào.

Những âm thanh âm âm, i i vọng dài theo mạch suối Nàng La. Những âm thanh cứ đan xen hoà quyện không phân biệt được đâu là giọng Ông, đâu là tiếng Bà nữa.

“Hỡi những đứa con khổ đau mà hạnh phúc! Hãy ngớt đi những tiếng oán than, cất lên những tiếng cười. Bởi trong cái hữu hạn của cuộc đời đâu chỉ là chuỗi dài hiến tế, mà cần biết bao sự bồi đắp ngọt ngào... phải chăng?”

Lâu lâu ngắm nhìn thầy cô, lòng ấm áp, thanh thản lạ thường, tôi nhẹ nhàng quay gót. Nước suối Nàng La cứ trong veo róc rách về xuôi.

                                                T.T.P.T


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.