NỘI DUNG CHI TIẾT
Ngược phía mặt trời
6/25/2019

 

                        Truyện ngắn của NGUYỄN KIÊN CƯỜNG

 

Nhà ở thung lũng tít xa trung tâm xã. Xung quanh nhà, những ngọn đồi phì nhiêu in trên những tán cây keo xanh nõn nà như đang thì con gái. Đường vào nhà men theo bờ suối, lách qua những ngọn đồi, cong cong mềm mại như tấm khăn voan vắt qua vai xuôi xuống tấm lưng trần của đứa con gái mới lớn. Trước nhà, chiếc cầu ông bắc bằng những thân cây bương già vàng óng vượt qua dòng suối, ván gỗ lát phía trên xọc xạch suốt một tuổi thơ. Bên cầu, cây mơ ngả mình nhoài ra dòng suối, xuân về đâm hoa trắng cả khoảng trời. Xa xa, dòng thác mơ đổ xuống từ lưng chừng ngọn núi Hem đêm ngày ì ầm chảy. Tiếng nước dội vào vách núi, đêm đêm vọng xuống, chất đầy cả căn nhà sàn của ông và bố. Anh lụi hụi bên bếp lửa tèm nhèm khói, mùi rượu ngô bốc ra từ cái nồi đồng thau náo nức cả căn nhà mốc thếch. Tiếng gió rin rít lùa qua khe cửa, ánh lửa bập bùng phả lên khuôn mặt anh, lúc sáng, lúc tối, khi u ẩn, lúc rạng ngời. Mỗi lần nhìn hình ảnh đó, tôi thấy anh tồi tội làm sao.

Anh sinh ra ở một nơi xa xôi nào đó, nghe nói ở cái thành phố mà bác cãi lời ông rồi bỏ rừng về đó kiếm sống bằng đủ thứ nghề năm bác 20 tuổi. Bố bảo ngày ấy bác là người con trai đẹp nhất nhì trong bản. Cái đẹp ấy giờ hằn in lên nét mặt của anh, pha lẫn chút thanh tú của dòng máu ít nhiều mang dáng dấp thị thành của mẹ, người phụ nữ nghe nói ở cái thành phố xa xôi đó. 5 tuổi, bác mang anh về cho ông nội, như một món nợ mà bác không thể trả, đành phải phó mặc cho một người tóc dần trắng như sương. Rồi bác đi. Bố bảo hình như bác lên vùng đất đỏ xứ Tây Nguyên và dặn tôi đừng bao giờ nhắc đến tên bác trước mặt ông. Ông nội coi mình đã mất một người con...

Ông nội chẳng mấy khi nhắc đến cái chức trưởng bản đeo đẳng ông mười mấy năm qua nhưng luôn hoài niệm về những ngày xưa rừng vàng rừng bạc, gỗ quý chảy tràn từ đỉnh núi xuống thung lũng và những dấu chân cọp thi thoảng vẫn hằn in trên dải đất phía bên kia dòng suối. Ông bảo rừng cho cả bản này cuộc sống sung túc, dựng nên những nếp nhà sàn vững chãi, và rồi trừng phạt những kẻ nào ăn ở bạc đãi với rừng. Tôi không hiểu lắm những điều ông nói bởi khi bắt đầu biết theo bố lên rừng, tôi đã thấy rừng già đã lùi xa lắm, mãi trong dãy núi dựng đứng hình yên ngựa quanh năm vùi mình trong mây phủ và phải cố công lắm người ta mới bẫy được mấy con dúi, con don. Những đêm nằm bên ông trên chiếc phản gỗ đã lên nước dầu bóng loáng, tôi biết ông vẫn trằn trọc khó ngủ với nỗi nhớ về rừng. Thi thoảng ông lại nhắc về những chuyến đi của phường săn, kể về lần cả xã đốt đuốc lần theo vết con trâu mộng bị cọp tha vào rừng; để rồi 3 ngày sau, phường săn đào hầm bẫy được cọp khiêng về mở hội. Có lần theo bố lên rừng, tôi hỏi bố về chuyện bẫy cọp, bố ậm ừ rồi bảo: “Người bẫy được cọp lần ấy là ông Pào nhà bên kia sườn đồi, ông nội chỉ cùng trai bản góp sức để khiêng cọp về làng thôi. Mấy chục năm ông nội vẫn ấm ức về chuyện đó, ấm ức cả nhà ông Pào. Rồi sau này biết bác yêu đứa con gái ông Pào, ông nội cấm tiệt. Bác ức mà bỏ đi...”. Bố kể rồi thở dài, mắt ngần ngận nhìn về đỉnh núi. Tôi hiểu tiếng thở dài của bố. Năm tôi lên 3 tuổi, mẹ cũng bỏ đi theo chủ một bưởng vàng mãi bên đất Yên Bái... Hai năm sau anh về, nhà có bốn người đàn ông, quanh quẩn bên những ngọn đồi xanh lá và lặng lẽ sống như cây trò đứng lẻ giữa rừng già.

*

Tôi và anh côi cút bên nhau đã 10 mùa cây rừng rụng lá, tuổi thơ vùn vụt trôi như bọt bèo sông suối, như bóng mặt trời trôi về cuối bản mỗi chiều. Tóc ông giờ trắng như dòng thác bạc và anh vạm vỡ như một chàng trai sinh ra giữa đại ngàn. Tôi vẫn mải miết theo học con chữ ngoài trung tâm xã. Còn anh, một sáng mùa đông nằm thu lu trong đống chăn nhàu nát trên chiếc phản gỗ, anh ậm ừ bảo tôi: “Từ hôm nay mày đi học một mình, tao chỉ học đến đây thôi, biết đọc cái chữ thế là đủ, trường lớp giờ dành tất cho mày”. Anh dứt trường từ đấy. Tôi thấy buồn, ít nhất là chẳng có người sáng sáng chở tôi trên chiếc xe đạp cọc cạch đến lớp, và buổi trưa lại dong duổi từ trung tâm xã về nhà. Có lần nằm ngửa trên vạt cỏ xanh thẫm nơi đỉnh đồi hoang bên kia dòng suối, tôi hỏi anh về mơ ước cuộc sống sau này, anh nằm im rồi ngồi bật dậy, tay dứt cả nắm cỏ ném về phía chân đồi, đôi mắt hoang hoải nhìn về phía xa xăm: “Tao chẳng có ước mơ gì cả, được sống có lẽ là ước mơ duy nhất của cuộc đời”. Tôi lại hỏi: “Anh không có ý định về thành phố ư?”, anh bảo: “Mảnh đất này buồn, nhưng không có nó chắc gì có tao ngày hôm nay, việc gì tao phải dời đi...”. Tôi vẫn ao ước một ngày nào đó được nhìn thấy cái thành phố mà anh sinh ra có rộng như thảo nguyên nơi tôi ở, có dài như con suối mơ vắt từ đỉnh núi miệt mài chảy mãi ra dòng sông ngoài thị trấn hay không. Tôi nằm lịm trên cỏ, thả hồn vào ý nghĩ miên man về thành phố ở rất xa, nơi mỗi sáng ông mặt trời thức giấc... Trời đổ màu đỏ sẫm. Những cánh chim vội vã sải cánh về nơi rừng cây dần sẫm màu. Anh đứng dậy phủi lớp cỏ bám trên áo, phủi lớp sương vương trên mái tóc dày rồi bảo tôi: “Thôi, về đi, ông gọi rồi”...

*

Những ngày cuối đông. Gió heo may hắt ngược lên những nương đồi trơ những tàng cây xám xịt, ve vãn khuôn mặt ửng đỏ của những đứa con gái bản đang náo nức chờ đợi một cái Tết đến rất gần. Xuân đi khẽ bên tôi trên con đường đất nhỏ cong cong như mảnh trăng treo trên đỉnh núi, ngập ngừng hồi lâu rồi thẽ thọt: “Kha ạ, Xuân thích Kha...”. Tôi cười bẽn lẽn: “Xuân đẹp thế, yêu làm gì tôi, nhà tôi nghèo lắm”. Xuân bảo: “Nhà Xuân cũng nghèo. Nhà Xuân chỉ có hai mẹ con...”. Tôi bảo: “Tôi còn phải học, sang năm mới là cuối cấp, tôi còn phải ra thành phố học nữa...”. Xuân đi thật nhanh về phía trước, rẽ vào con đường về phía bên kia đồi. Bố Xuân mất sau trận sốt rét rừng khi đi tìm đá đỏ tít vùng đất Lục Yên khi Xuân lên 10 tuổi... Tôi bần thần đứng lại nhìn theo bóng Xuân, thấy mông lung, dùng dằng nhiều thứ. Tôi quý Xuân, nhưng lại sợ. Tôi nghĩ về ông nội, nghĩ về cảnh con hổ được người ta khiêng về bản, nghĩ về bác... Xuân  là cháu nội của ông Pào.

Bố và anh ít lên rừng vào những ngày đông. Những lúc rảnh rỗi, anh lôi đống sách vở cũ của tôi ra rồi tỉ mẩn bóc từng tờ giấy làm đôi cho thật mỏng, gói ghém vào cái túi thổ cẩm bố treo ở góc nhà. Bố ngồi vê thuốc vào những tờ giấy rồi châm lửa hút đỏ môi, vàng cả hai đốt ngón tay, một thói quen để quên đi cái lạnh giá dấm dứt phả xuống từ ngọn núi hình yên ngựa. Những bao tải hạt ngô vơi dần theo những ánh lửa bập bùng hàng đêm trong gian bếp đen ngầu bồ hóng để mùi rượu ngô tỏa ra thơm nồng cả ngôi nhà một đời đơn độc. Ngày xuân, những can rượu ngô được anh và bố chuyển cho những người ngoài thị trấn. Ngô xanh non từ những nương đồi mùa thu, ngô xám xịt ngủ gục trên những nương đồi mùa đông, ngô vàng óng lúc lẳng trên gác mái nhà sàn mùa xuân, ngô phả ra náo nức từ những ánh lửa đỏ quạch hàng đêm trong gian bếp nhỏ... tất cả được dồn vào một góc chiếc hòm nhỏ, rồi nhét vào đáy chiếc ba lô để tôi mang về Hà Nội. Bốn năm học của tôi ở cái thành phố xa tít tắp làm vạt đi cả mấy đồi cây của bố và tan bao mùa ngô trổ bắp của anh...

Tôi trở về nhà khi vừa nhận tấm bằng tốt nghiệp. Bố hỏi: Lấy được cái bằng chữ to chữ nhỏ, liệu nên cơm cháo gì không. Giờ lo mà lấy vợ lấy con, chẳng mở mang bờ bãi ở cái bản này thì cắm dùi ở thành phố, ở thị trấn, miễn sao thành người là được. Ông nằm trên chiếc phản gỗ chẳng ứ hừ. Mấy năm nay ông như những hạt ngô ngủ vùi trong lớp áo dày, gục trên thân cây khô đét, đêm đêm lắng nghe những hạt sương ngấm dần, ngấm dần qua lớp áo, và lo sợ một ngày rơi xuống đất mà chẳng được người ta đưa về treo lúc lẳng trên gác mái. Có lần ông bảo, giờ ông chỉ nhìn đời thôi, không phán xét, nhưng không phải ông không biết đời nó đổi thay như thế nào. Thi thoảng ông lại lẩm nhẩm mấy câu thơ chẳng rõ ý đồ: Rừng là rừng vàng/ Rừng là rừng bạc/Bóng rừng bàng bạc/ Bóng người chông chênh... Rồi ông thở dài, nghe nặng như trái núi...

Tôi lặng im ngồi bên cạnh anh, ngửa cổ tu rượu trong cái vỏ bầu anh đưa. Rượu ngô mát lành, ngấm sâu vào từng thớ thịt. Một bầu trời sao lấp lánh dưới lòng suối phả lên khuôn mặt anh ửng đỏ. Anh hỏi: “Học xong rồi, giờ làm gì”. Tôi bảo: “Em chưa biết, nhưng chắc ở thành phố...”. Anh thở dài: “Thế bao giờ lại đi”. Tôi bảo: “Bao giờ chán thì đi”. Anh lại hỏi: “Mày nghĩ sao nếu tao lấy vợ”. Một câu hỏi vô nghĩa, tôi nghĩ. Trai bản tôi, 17 đã lấy vợ, 18 đã có con. Còn anh mải miết đi qua 17 mùa những cây mơ đâm hoa trắng tràn thung lũng, 22 tuổi vẫn thấy chênh chao. Tôi bảo: “Thì lấy, đợi gì nữa”. Anh nói, giọng hắt ra từ lồng ngực rộng: “Nhưng tao chỉ thích cô ấy, và tao thấy thương ông. Ông già lắm rồi...”. Tôi quay phắt lại hỏi anh: “Ai?”. Anh nhìn về phía bên kia đồi: “Trước nó học cùng tao và mày. Nó gọi ông Pào là ông nội”... Tôi chẳng biết trả lời gì nữa. Tự trong sâu thẳm lòng mình, tôi thấy buồn, một nỗi buồn nhức nhối... Tôi ngồi lại một mình bên dòng suối, nhìn thật lâu về phía bên kia đồi. Im lìm và một màu đen mịt mùng tít tắp, cảm nhận ngay cả hơi thở của mảnh đất này cũng chẳng còn thuộc về tôi. Sáng hôm sau, tôi mở cổng, vội vã đi...

Tôi đi suốt mùa cây mơ nở hoa trắng bên cầu, những quả mơ tròn căng và chín vàng bên suối mà chẳng muốn về. Tôi đang chạy trốn một điều gì đó mà tôi chẳng dám gọi tên, chỉ tự an ủi rằng chẳng có gì lưu luyến tôi ở thung lũng buồn buồn ấy nữa... Rồi bất chợt một sáng mùa đông thức dậy, tôi nghĩ tôi phải trở về...

Ông nội vẫn nằm thu lu trong đống chăn cũ, người đã yếu đi nhiều và dường như chẳng còn sức để lẩm nhẩm những câu thơ xưa cũ. Tóc ông trắng như mây, hàng mi bạc rung lên mỗi lần ông trở mình đầy khó nhọc. Anh chẳng còn hì hụi bên chiếc nồi đồng. Bếp vẫn bập bùng ánh lửa. Đêm ấy, ông gọi bố tôi vào, rồi gọi anh, rồi gọi tôi. Những lời dặn dò yếu ớt... Đêm ấy, ba người khỏe mạnh mỗi người ngồi một góc trong căn nhà rộng. Chẳng ai nói với ai. Căn nhà ngạt thở... Sáng hôm sau, hồn ông lặng lẽ bay về đỉnh núi... Bố nắm chặt lấy tay ông. Anh đấm thật mạnh xuống chiếc phản gỗ. Chiếc phản rung lên. Anh khóc... Dòng người đưa ông về nghỉ dưới gốc cây trò cổ thụ hôm ấy chẳng thấy có Xuân...

*

Bố hỏi tôi: “Ông có dặn mày về chuyện của bác không”. Tôi trả lời: “Ông bảo con sau này đi nhiều, nghe được tin bác thì nhắn bác về...”. Bố thở dài: “Trời đất rộng dài thế này, biết đằng nào mà nhắn. Những người sinh ra ở thung lũng này, mang dòng máu đất này, chẳng sớm thì muộn sẽ khắc tự tìm về thôi...”. Suốt những đêm sau đó anh lặng ngồi rất khuya trên phiến đá bên dòng suối, gió lạnh phất vào mặt, lập lòe điếu thuốc trên môi. Tôi không ngủ được. Tôi ngồi bên cạnh anh, nhìn về khoảng tối phía bên kia đồi rồi hỏi: “Cô ấy với anh sao rồi”. Anh lặng im, thở dài rồi bảo: “Đi rồi, đi từ ba tháng trước”. Lại hỏi: “Sao đi, đi đâu”. Anh rít thêm hơi thuốc thật sâu rồi lại thở dài: “Không biết chắc, nhưng nghe nói đi về thành phố. Cô ấy đợi tao lâu quá rồi...”. Tôi tựa cằm vào gối chẳng biết nói gì. Đầu tôi trống rỗng... Anh hỏi: “Thế bao giờ đi”. Tôi bảo: “Để tính, có thể chẳng về thành phố nữa. Về tỉnh hay về thị trấn cũng nên...”. Hơn một năm qua, tôi có đầy rẫy những ước mơ, nhưng chẳng có ước mơ nào tôi với tới...

Tôi quanh quẩn bên thung lũng để thao thức, để nhớ về những tháng ngày xanh đã vụt trôi. Rồi một chiều, anh sắp đồ vào cái ba lô, lặng lẽ bảo tôi: “Sáng mai tao sẽ đi Hà Nội, sẽ kiếm một việc để làm. Rồi tao sẽ đi tìm mẹ, tìm cô ấy”. Tôi bảo: “Cả cái thành phố rộng lớn thế, anh tìm còn khó hơn sang Lục Yên tìm đá đỏ”. Anh lặng im, rồi bảo: “Tao không sợ. Tao cũng không cần đá đỏ. Ông dặn dò tao với mày không được lên Yên Bái tìm đá đúng không”. Tôi nhìn về phía rừng cây nơi có cây chò cổ thụ, nhìn về phía bên kia đồi: “Rồi anh có về không”. Anh bảo: “Tìm được cô ấy, tao sẽ về”...

...Sáng ấy, anh khoác ba lô, rồi mải miết đi ngược về phía mặt trời chưa tỉnh giấc...

                                                   N.K.C


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Đinh: Gia tài lớn nhất đời tôi là những tấm ảnh Bác Hồ
Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học thị trấn Thanh Ba học tập và làm theo gương Bác
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghĩ về 5 lời thề
Bí thư Đoàn năng động
Tuổi trẻ huyện Lâm Thao học tập và làm theo lời Bác
HỘI THẢO VỀ TÁC PHẨM “ĐỜI SỐNG MỚI” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Văn nghệ sỹ Phú Thọ với Chủ tịch HỒ CHÍ MINH
HÌNH ẢNH NGƯỜI CỘNG SẢN TRONG TÔI
HỌC BÁC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
LÀM THEO LỜI BÁC "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"
TÂM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương
Nêu gương
Tiên tri của Bác
Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Triển lãm Thư pháp thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2013) Có một nền giáo dục thân dân
Bác Hồ với bảo tồn, tôn tạo phát huy di tích Đền Hùng
HỒI ỨC NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ
CÓ MỘT SỰ THẬT ĐÁNG SUY NGHĨ
HÌNH ẢNH BẬC HIỀN TRIẾT HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IV, ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
CHÌA KHÓA MỌI THÀNH CÔNG
KỶ NIỆM 23 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM (6/12/1989 - 6/12/2012)
LỜI BÁC ĐẾN HÔM NAY VẪN CHƯA HỀ CŨ
NHỮNG ĐẶC TRƯNG PHẨM CHẤT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH
NGHỊ QUYẾT CỦA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TW 4 NHỚ LỜI BÁC DẠY - ĐOÀN HẢI HƯNG
Nét nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất coi trọng phẩm chất con người - Bùi công bính
GIỮ LẤY ĐỨC TIN - Lê Phan Nghị
SÁNG THÊM NHỮNG CHI TIẾT VỀ BÁC HỒ QUA CÁI NHÌN CỦA CÁC NHÀ VĂN

TẠP CHÍ VĂN HỌC

Năm 2017
Năm 2014
Năm 2007
Năm 2009
Năm 2013
Năm 2012
Năm 2011
Năm 2010
Năm 2008

QUẢNG CÁO

















THÔNG BÁO

THỂ LỆ CUỘC THI THƠ, NHẠC Chủ đề: “Biển, đảo Việt Nam”

Thông tin liên hệ:
Tạp chí Văn nghệ Đất tổ - 160 Phố Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210. 3816945 - 3811984
Email: tapchivannghedatto@gmail.com
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn nghệ Đất tổ
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ Website này.